Hòa thượng Kandadhammo Kim Tốc Chơn (1932–)

Hòa thượng Kandadhammo Kim Tốc Chơn (1932–)

Thông tin cơ bản

  • Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam
  • Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Trà Vinh
  • Trưởng ban Sư sãi vận tỉnh Trà Vinh
  • Hội trưởng Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh Trà Vinh
  • Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Cửu Long
  • Phó ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Cửu Long
  • Mekone Hội Phật giáo Khmer tỉnh Trà Vinh

Thân thế

Hòa thượng Kandadhammo Kim Tốc Chơn, sinh năm 1932 trong một gia đình nông dân nghèo ở phum Đom-Boong-Pak, xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Thân sinh của Hòa thượng là cụ ông Kim Thanh Tốc và thân cụ bà Sơn Thị Mây. Hòa thượng là con thứ trong gia đình có 5 anh chị em gồm 3 trai, 2 gái.

Thời kỳ xuất gia học đạo

Năm lên 8 tuổi, Hòa thượng Kim Tốc Chơn được cha mẹ cho đi học chữ Khmer tại chùa trong phum. Ngoài giờ học, Ngài còn chăm lo việc đồng áng, phụ giúp gia đình.

Năm lên 10 tuổi, Hòa thượng được cha mẹ gọi đến tu tập ở chùa Đom-Boong-Pak.

Năm 1950, với căn duyên hội tụ từ nhiều kiếp, Hòa thượng Kim Tốc Chơn đã được cha mẹ hoan hỷ đồng ý cho xuất gia.

Năm 1954, Hòa thượng Kim Tốc Chơn đăng đàn thọ giới Tỳ khưu, do Hòa thượng Thạch Khmau, tại chùa Pro Khúp, xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải (lúc bấy giờ là huyện Cầu Ngang) làm thầy tế độ.

Năm 22 tuổi, Ngài theo học tại chùa Phnô-Preale, xã Long Hiệp, huyện Trà Cú. Sau 3 năm đèn sách, với bản tính thông minh, cần mẫn Ngài đã thi đỗ sơ cấp Viniya, là cấp cao nhất lúc bấy giờ ở Nam bộ.

Thời kỳ hành đạo

Thời kỳ hoằng pháp và hoạt động cách mạng

Với kiến thức học được ở nhà trường, đã giúp cho Hòa thượng Kim Tốc Chơn quán chiếu sâu sắc hơn về giáo lý của đức Phật, là nền tảng giúp Ngài hoằng dương chánh Pháp và đem sự an vui cho chúng sanh.

Sau đó Ngài về chùa của mình (chùa Đom-Boong-Pak) và được vị trụ trì phân công dạy chữ cho con em đồng bào phật tử.

Ngay từ ấu thơ, Ngài chứng kiến được sự thống khổ và áp bức của địa chủ phong kiến, phú nông đối với nông dân. Điều đó thôi thúc lòng yêu nước trong Ngài. Ý thức được điều đó, Ngài luôn hỗ trợ đồng chí Thạch Quơn, cán bộ huyện Trà Cú truyền thông tin cho cán bộ hoạt động cách mạng.

Dạy học được một năm tại chùa của mình, năm sau theo lời thỉnh cầu của Trụ trì và Ban Quản trị chùa Phnô-Preale, Ngài về dạy lớp Viniya (Kinh Luật Luận).

Sau ba năm dạy học ở chùa Phnô-Preale, Ngài lại quay về chùa của mình tiếp tục dạy học và hoạt động cách mạng.

Được sự giúp đỡ của đồng chí Trần Lái, Maha Thạch SaBute, nguyên Tỉnh ủy viên, Trưởng ban Khmer vận tỉnh.

Năm 1962, Ngài vinh dự được Hòa thượng Kim Chao, trụ trì chùa Bà Đam, xã Đôn Xuân (lúc bấy giờ là xã Đôn Châu), huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh cử làm ban quản trị chùa thỉnh về an cư kiết hạ.

Hòa thượng Kim Chao là một trong những nhà sư sớm giác ngộ Cách mạng từ phong trào Mặt trận Việt Minh, có nhiều đóng góp cho 2 cuộc kháng chiến Chơng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Hòa thượng Kim Chao là Trưởng ban Phật giáo huyện Trà Cú. Ngài có sự ảnh hưởng lớn đối với chính quyền Sài Gòn nhất là quan quân trưởng, Cai tổng, đại diện xã (xã trưởng), các ủy viên quân sự, ủy viên an ninh các ấp trong địa bàn huyện trong thời bấy giờ.

Ở chùa Bà Đam, Ngài phụ tá Hòa thượng Kim Chao, Anukone huyện Trà Cú đặt văn phòng Phòng Giáo dục Phật học và Thế học để phát triển sự nghiệp giáo dục trong chư Tăng và đồng bào về Phạn ngữ, Khmer ngữ và Viniya. Ngoài ra, Hòa thượng Kim Tốc Chơn còn bí mật đặt văn phòng Ban sãi vận để tiếp sinh sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, thông qua Ban Khmer vận và lãnh đạo phong trào cách mạng gởi Sư sãi Khmer trong tỉnh.

Năm 1976, Hòa thượng Kim Tốc Chơn được Đại hội Phật giáo Khmer toàn tỉnh bầu làm Mekone Phật giáo Khmer tỉnh Trà Vinh.

Sau khi tỉnh Trà Vinh – Vĩnh Long nhập thành tỉnh Cửu Long năm 1977, Hòa thượng Kim Tốc Chơn tiếp tục giữ chức vụ Mekone Phật giáo Khmer tỉnh Cửu Long, kiêm Phó ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Cửu Long.

Đến năm 1981, Hòa thượng Kim Tốc Chơn được Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc suy cử vào Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Công lao và đức hạnh

Hòa thượng Kim Tốc Chơn đã có công đáng kể vào việc củng cố, chấn hưng, góp phần làm sáng ngời chân lý của đức Phật, mang lại lợi ích cho chúng sanh trên con đường tu tập.

Thấm nhuần Phật ngôn “Không có ánh sáng nào bằng ánh sáng tri thức; sự bố thí pháp là sự bố thí cao thượng nhất” và câu nói của Bác Hồ: “tình cảm Cách mạng phải đi đôi với tri thức Cách mạng”. Từ đó với cương vị và vai trò của mình, Ngài đã trực tiếp đến lớp giảng dạy và thỉnh mời chư Tăng có học và có trình độ cùng xây dựng, định hướng và đẩy mạnh chất lượng giảng dạy Phật học và Thế học, cùng các lớp trình độ giáo lý hướng dẫn. Thiền học, có phương pháp tư duy khoa học, ứng xử văn hóa trong đời sống lý tưởng tu hành trẻ. Những vị học xong đã đảm trách tuyên truyền Phật pháp một dòng lớp học với khẩu hiệu “Có chùa là có lớp học, tu là phải học, không tốt nghiệp là không hoàn tục”.

Vài năm sau, phong trào học tập phát triển, số lượng Tăng sinh và học sinh theo học ngày càng tăng, đòi hỏi cần có nhiều thầy để đáp ứng nhu cầu đó, Hòa thượng đã đề ra phương châm: “Tốt nghiệp xong nếu không ra đứng lớp từ ba năm trở lên thì không thoát nợ cơm dân”.

Năm 1970, nhận thấy chất lượng dạy và học ngày càng giảm do người dạy thiếu kiến thức sư phạm nên Ngài triển khai sáng kiến Tăng sinh, học sinh tốt nghiệp phải học nâng trình độ thêm ba lớp mới ra dạy. Một hệ thống lớp học thí điểm, người học đạt trình độ tiểu học Khmer ngữ phải thêm lớp học nữa mới đủ tiêu chuẩn tốt nghiệp (ngày xưa chỉ có ba lớp học) đã tồn tại đến năm 1990.

Mục tiêu giáo dục và đào tạo của Ngài là đào tạo chư Tăng Khmer vừa có kiến thức tôn giáo, khoa học hiện đại và tư tưởng cách mạng. Từ đó, trường lớp do Ban sãi vận tỉnh lãnh đạo lúc đầu chỉ có một vài cá nhân chuyên hướng dẫn học tăng, về sau đã lan rộng khắp các chùa trong toàn tỉnh, mở rộng ra đến các tỉnh lân cận như: Vĩnh Long, Chương Thiện, Cà Mau, Kiên Giang,…

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng giang sơn gấm vóc thu về một mối, Giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Trà Vinh với phong trào chư Tăng học bổ túc văn hóa phát triển mạnh mẽ. Và hiện nay, phong trào đó đang đi vào ổn định theo hướng song ngữ (Pali – Khmer và chương trình phổ thông trung học).

Ngoài sự quan tâm về giáo dục, Hòa thượng Kantadhamamo Kim Tốc Chơn rất quan tâm tới hệ thống tổ chức Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Trà Vinh, Ngài luôn quan tâm và đào tạo đội ngũ kế thừa.

Thời kháng chiến, Ngài khởi xướng thành lập mới Ban Trị sự Phật giáo Khmer của tỉnh, thỉnh các vị cao tăng nhiệt tâm và có nhiều đóng góp cho đạo pháp và Cách Mạng tham gia điều hành Phật sự. Các vị cao tăng gồm Hòa thượng Kim Nhiêu Kim, chùa Đom-Boong-Pak (Bảo Môn); Hòa thượng Kim Chao chùa Bà Đam; Hòa thượng Lâm Cọ, chùa Phnô Đôn; Hòa thượng Trầm Phước Ty, chùa Mé Láng; Hòa thượng Sơn Du, chùa Sư-rây-makum (Ba Cụm), Hòa thượng Trần Danh, chùa Cá Hom; Hòa thượng Thạch Út, chùa Ô Rê, v.v… Ban Trị sự Phật giáo Khmer của tỉnh đã kêu gọi được nhiều sư sãi cách mạng nhiêu trú trong tông kệ cá chùa trong vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Ban trị sự Phật giáo Khmer cũ, thân chính quyền Sài Gòn ngày càng mất tác dụng. Đồng thời Ngài cũng chấn chỉnh lại thành phần nhân sự Ban Quản trị các chùa, quy định rõ chức năng nhiệm vụ của từng thành viên, tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy đúng vai trò của Ban Quản trị để cùng với vị trụ trì điều hành tốt công tác phật sự. Nhằm tạo sự trang nghiêm nơi thiền môn, Ngài tổ chức nhóm theo khu vực tăng xá, mọi sinh hoạt điều theo nội quy.

Ngài loại bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, giáo dục chư Tăng và Phật tử tin nhân quả, biết bố thí, tham thiền, trau dồi giới định huệ. Thực hiện cải tiến trong sinh hoạt lễ hội tiết kiệm, đảm bảo nội dung đúng theo truyền thống Phật giáo.

Ngài luôn đề cao tinh thần: “tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn”. Trước mùa an cư kiết hạ, Ngài dạy các môn đồ đệ tử ở từng địa phương tổ chức đến Khánh tuế thầy tổ đã lo lắng in ấn và lắng nghe lời Pháp nhủ, ngỏ hầu tinh tấn hơn trên bước đường tu tập. Đồng thời Ngài phát động phong trào Tăng sinh, học sinh thực hiện châm ngôn “cơm Cha, áo Mẹ, chữ Thầy”, thường xuyên đến thăm viếng tặng quà giúp đỡ, chăm sóc đến giáo viên có hoàn cảnh khó khăn.

Hòa thượng tích cực tham gia công tác từ thiện – xã hội, chăm lo đời sống gia đình thương binh, liệt sĩ và tổ chức nhiều buổi cầu siêu hồi hướng phước báu anh linh anh hùng liệt sĩ.

Ngoài lĩnh vực giáo dục thì lĩnh vực văn hoá được Ngài đặc biệt quan tâm, Ngài luôn tâm niệm: “mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo có một lịch sử và văn hóa riêng. Nhiều văn hóa dân tộc, tôn giáo hợp thành thành văn hóa chung của dân tộc tôn giáo Việt Nam, nếu ta có thể bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của ta tức là tồn tại”. Ngài phát động phong trào xây dựng khuôn viên chùa xanh – sạch – đẹp, tuy bận nhiều công tác phật sự nhưng hằng ngày vào 5 giờ sáng Ngài luôn vệ sinh khuôn viên chùa, tưới cây, phát động phong trào trồng cây trong khuôn viên chùa.

May mắn được tiếp xúc với nhiều bậc tiền bối hữu công nên Ngài luôn tâm niệm: “Nếu không có Đời thì không có Đạo, Đạo có nhiệm vụ giúp đời hoàn thiện” – đó là hạt giống lành giúp Ngài quyết tâm tham gia hoạt động cách mạng. Ngài là hiện thân của tinh thần: “Phụng sự Đạo pháp và Dân tộc”.

Lễ Sene Đôn Ta năm 1960, Ngài là thành viên Ban Lãnh đạo đoàn biểu tình thu hút hơn sáu mươi nghìn người tham gia, đây là hạt nhân tạo nên cuộc Đồng Khởi năm 1960 ở Trà Vinh, mở màn cho phong trào toàn dân nổi dậy Chơng chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm.

Sau năm ấy, nhiều vị sư trong Ban Lãnh đạo đã hoàn tục để trực tiếp hoạt động cách mạng, Ngài dần dần trở thành vị cao cấp nhất của tổ chức cách mạng trong giới Sư sãi Khmer tỉnh Trà Vinh.

Cuối năm 1967, Ngài tiếp tục củng tập thể lãnh đạo Sư sãi tổ chức triển khai thắng lợi các cuộc biểu tình với quy mô lớn. Sau nhiều cuộc mít-tinh phát động chuẩn bị chiến dịch xuân Mậu Thân 1968, với bốn mươi nghìn Sư sãi đồng bào Khmer – Kinh huyện Trà Cú tổ chức biểu tình tuần hành thị uy khắp mọi ngã đường trong huyện và kết thúc trước dinh Quận trưởng, nơi có tên cố vấn Hoa Kỳ đang ở đó để đòi Mỹ cút về nước, kêu gọi binh lính, sĩ quan Mỹ trở về, mở màn cho chiến dịch tổng tấn công Xuân Mậu Thân 1968, giải phóng cho phần lớn Phum Srốc chùa chiền và giảm thiểu đổ máu.

Từ năm 1970 trở về sau, hàng chục cuộc biểu tình tiến về dinh Tỉnh trưởng chính quyền Sài Gòn liên tục nổ ra với hàng chục ngàn Sư sãi và đồng bào tham gia phản đối việc bắt thanh niên đi lính, không bắt người trong giới tu hành, đòi bồi hoàn thiệt hại do bom đạn Mỹ gây ra, đòi chấm dứt các cuộc hành quân, bắn phá giết hại dân lành…

Ngày 21 tháng 02 năm 1974, Ngài chỉ đạo hàng trăm Sư sãi huyện Trà Cú tập trung tại chùa Srốc Cha, xã Ngãi Xuyên (nay là xã Thanh Sơn) cách quận lỵ Trà Cú hơn một kilômét để Chơng trả quyết liệt quân lực chính quyền Sài Gòn có trang bị thiết giáp yểm trợ hòng đột nhập vào chùa bắt Sư sãi đi lính. Cuộc chiến sinh tử giữa lực lượng Sư sãi tay không và binh lính đầy súng đạn diễn ra suốt ngày dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hòa thượng Trần Danh. Cuối cùng quân lực Sài Gòn không thực hiện được ý đồ bắt lính; Đại đức Kim Sóc và Đại đức Dương Sum đã anh dũng hy sinh để bảo vệ sự thanh tịnh của Chơn thiền môn và chân lý cách mạng.

Cuối năm 1974, cũng dưới sự chỉ đạo của Ngài, hàng ngàn Sư sãi trong tỉnh kéo vào dinh Tỉnh trưởng chính quyền Sài Gòn để Chơng chủ trương triển khai chiến dịch bắt Sư sãi và thanh niên đi lính; kết quả Đại đức Kim Som Nang (chùa Ruôm Mút – Sa Mút) đã anh dũng hy sinh.

Ngoài việc tham gia lãnh đạo các cuộc biểu tình đấu tranh trực diện với địch, Ngài còn trực tiếp tham gia chỉ đạo và thực hiện công tác binh vận, tuyên truyền giúp lính Ngụy giác ngộ lý tưởng cách mạng, vận động họ trở về sum họp gia đình, giải phóng Phum Srốc góp phần vào thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Ngay từ khi vừa mới tham gia cách mạng, Ngài luôn tâm niệm: “Nếu dân tộc, giai cấp bị bóc lột, đất nước không được giải phóng thì Đạo sẽ hưng thịnh”. Ngài thường nhắc lại câu nói của nhà cách mạng lỗi lạc: “Một trăm năm sống dưới ách nô lệ, không bằng một ngày sống trong độc lập tự do” và Ngài quan niệm rằng: “người tu hành kết hợp hoạt động yêu nước với việc giúp đời đúng chánh pháp thì đây là tinh thần nhập thế của đạo Phật”. Quan niệm của Ngài và của các vị sư Khmer theo cách mạng luôn bị phe phái thân chính quyền Sài Gòn xuyên tạc: “Người tu hành hoạt động cách mạng là bán đạo cho Cộng Sản”, song Ngài vẫn kiên định lập trường, ra sức tuyên truyền, phát triển Đoàn viên, Đảng viên, phát triển Phật tử cho Ban Sãi vận khắp các huyện; nơi nào chưa có thì đưa người từ chỗ khác đến để phong trào cách mạng lan rộng.

Mặt khác, nhờ Ngài chú trọng phát triển cơ sở, luôn có chiến sĩ xin vào lực lượng vũ trang. Đến ngày giải phóng, trong giới Sư sãi Khmer tỉnh Trà Vinh đã phát triển được 5 chi bộ Đảng. Ngài xây dựng phong trào học tập trong Sư sãi, chuẩn bị nhân sự kế thừa; mở điểm trường ở các xã, các tỉnh lân cận để giới thiệu cho cấp ủy địa phương lãnh đạo phong trào cách mạng sư sãi sở tại.

Ngài khẳng định: nếu muốn có lực lượng tại chỗ thì phải tổ chức mở lớp học, phát triển trường lớp cho Sư sãi vừa khai mở dân trí, vừa tập hợp lực lượng tuyên truyền giáo dục, xây dựng tổ chức phong trào cách mạng.

Ngài luôn tâm niệm xây dựng Phật giáo Nam tông Khmer và dân tộc Khmer phát triển ngang tầm các dân tộc anh em trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam; mong muốn chương trình đào tạo Khmer ngữ đạt trình độ trung học phổ thông và giáo dục Nam tông Khmer đạt trình độ trung cấp, giáo trình, sách vở in ấn tại Trà Vinh để Chư Tăng, con em phật tử không phải học xa quê.

Ngài tự hào, đề cao thành tích đấu tranh cách mạng, cổ vũ tinh thần yêu nước. Trong các lễ hội, mít-tinh, tuyên truyền giáo dục chư Tăng, Ngài thường nêu gương hy sinh và những câu nói giá trị của các cụ Maha Sơn Thông, ông Huỳnh Cường, ông Thạch Thiện Chí, Hòa thượng Sơn Wong, ông Trần Lái, Maha Thạch Sa Bute, Thạch Ngọc Biên, Má Thạch Thị Thanh, Hòa thượng Thạch Som.

Đối với Hòa thượng Sơn Wong, vị sư Khmer đầu tiên ở Nam Bộ thoát ly tham gia cách mạng và giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới, Ngài đề xướng đặt tên trường trung học Pali-Khmer của Sư sãi là “Trường Trung Học Sơn Wong” để đời sau ghi nhớ công ơn những người có công với dân tộc và đạo pháp.

Ngài rất kính trọng và phấn đấu noi gương Bác; trường lớp của Sư sãi tuy ở vùng tranh chấp, nhưng Ngài khéo léo đưa tiểu sử Bác Hồ vào giảng dạy. Có người hỏi: “Nếu địch phát hiện thì Ngài trả lời sao?”. Ngài đáp: “Bác Hồ là vị lãnh tụ, học tấm gương đức hạnh tốt của Người không liên quan chính trị. Học và làm theo gương sáng của Người cũng như học và làm theo đức hạnh của Đức Phật vậy”.

Hai lần bị bắt giam, địch tuyên truyền xuyên tạc rằng: “Quí vị là giới tu hành quá thật thà để bị Việt Minh lừa. Việt Minh tức Cộng Sản không bao giờ có Đạo, quí vị theo Việt Minh đồng nghĩa bán đạo cho Ma Quỷ”. Với lòng tin sắt đá vào chính sách của Đảng, Ngài chỉ đáp: “Đức Phật đã dự báo tuổi đạo tồn tại 5.000 năm; nay 2.500 năm rồi. Đạo tồn hay vong là do tín đồ. Việt Minh có đạo hay không không rõ, nhưng quốc gia hiện bắt người tu hành lục soát chùa chiền, cấm không cho học chữ Khmer”. Sự hưng thịnh của Phật giáo trong đồng bào Khmer Nam Bộ hôm nay cho thấy lòng tin của Ngài và chư Tăng Khmer vào chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngài quan niệm người tu phải nhập thế phục vụ chúng sanh: “mỗi một vị sư mỗi lần mang bát cơm lên thì phải tự hỏi mình, ngày hôm nay mình đã làm được điều gì có ích cho đồng bào của mình hay chưa”.

Sau những năm đầu giải phóng, Ngài được suy cử làm Phó Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh, Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Từ ngày tham gia hoạt động cách mạng, tiếp thu quan điểm tư tưởng của Đảng và vận dụng vào đời sống tu tập càng giúp Ngài có một quan điểm đúng: “chúng ta ăn để sống, không sống để hưởng thụ với vật chất xa hoa”. Ngài chỉ thọ nhận vừa đủ dùng những phẩm vật cúng dường hoặc mang những phẩm vật đó giúp đỡ gia đình cán bộ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Được thọ sanh trong một gia đình nông dân, sớm giác ngộ giáo lý đức Phật, qua giáo dục của Cách Mạng, noi gương Bác Hồ, đức tính tiết kiệm sớm hình thành. Sau giải phóng, văn phòng Mekone được cấp một chiếc xe bốn chỗ, Ngài không bao giờ dùng vào việc riêng. Ngài giáo dục các vị sư trẻ phải sống tiết kiệm, Ngài nói: “Mọi thứ đều là mồ hôi nước mắt của dân. Nông dân, hạt thóc rơi cũng phải nhặt lên”.

Ngoài tiết kiệm tiền của, thời gian Ngài càng xem quý hơn vàng bạc. 24 giờ trong ngày được phân bổ hợp lý. Giờ rảnh rỗi của Ngài là làm vệ sinh, chăm sóc hoa kiểng, tham gia lao động trồng cây, tắm giặt, lặng yên nghe đài đọc sách, đọc tài liệu hay tự học quốc ngữ. Ngài là người chỉ đạo các chùa có mở lớp học, tín đồ tổ chức đám phước lúc ban đêm, cần phải sớm tổ chức và thực hiện chương trình gọn nhẹ đúng giờ giấc đảm bảo cho các sư học và đồng bào tín đồ nghỉ ngơi lấy sức lao động.

Ngài luôn nghiêm trị giới luật, nhiều lần đang học nghị quyết ở vùng giải phóng, hành quân suốt ngày đủ bụng đói nhưng lại quá giờ Ngọ, Ngài chỉ dùng những thứ được phép để qua ngày, Ngài dứt khoát không dùng cơm. Trong chùa hay trong nhà dân, nơi không có chùa hoặc bất cứ ở đâu, cứ sắp tối Ngài giữ vững giờ tụng niệm Phật. Một số cán bộ nói nửa đùa nửa thật: “vì lo cho đạo cho đời cứu hộ chúng sinh giải phóng quê hương, trường hợp đặc biệt phá lệ một lần để lấy sức tiếp tục hoạt động Phật chắc niệm tinh tha thứ”. Ngài lắc đầu và nói: “dùng thứ được phép thì cũng có thể chịu được. Nếu phá lệ dù không ai biết cũng tự thấy xấu hổ, không giữ được sự trong sạch, không xứng đáng là giới xuất gia”.

Đối với Đạo là vậy, còn trong cách mạng sinh hoạt tổ chức Ngài cũng thế. Sinh hoạt Đảng Ngài luôn nghiêm túc từ thời chiến sang thời bình. Lúc làm Bí thư chi bộ Ban Sãi vận thuộc chi bộ lớn Ban Khmer vận tỉnh, Ngài thường giáo dục Đảng viên là Sư sãi: “phê bình và tự phê bình ví như tắm. Ngày nào ta cũng tắm thì chất dơ không bám vào được cơ thể, cơ thể ta sạch sẽ, hạn chế được bệnh tật, thường xuyên phê bình và tự phê bình cũng vậy”. Ngài là một trong những người luôn tuân mệnh lệnh của Tổ Quốc, công việc được phân công dù khó khăn nguy hiểm đến đâu Ngài cũng sẵn sàng chấp hành. Có người hỏi: “nếu tổ chức cần Ngài hoàn tục Ngài thấy thế nào?”. Ngài trả lời: “Tôi tâm nguyện tu suốt đời không hoàn tục nhưng nếu tổ chức có ý kiến thế nào thì tôi sẵn sàng”.

Ngài là một trong những Đảng viên vinh dự được nhận thẻ Đảng đầu tiên. Ngài là một bậc nghiêm trì giới luật, đó là một trong những yếu tố làm cho những người thân chính quyền Sài Gòn phải thừa nhận về việc sai lầm trong đánh giá đối với những vị Sư theo chủ nghĩa yêu nước.

Ngài phát huy có hiệu quả vai trò trung tâm đoàn kết, Ngài thường nói “theo giáo lý của Đức Phật tất cả chúng sinh dù màu da, tiếng nói khác nhau nhưng dục sống ở bất cứ ở đâu cũng đều là loài người nên nhau nên phải đoàn kết thương yêu nhau. Có đoàn kết mới có sức mạnh, có đoàn kết mới mang lại sự bình yên”. Suốt cuộc đời đi theo Đạo pháp và Cách Mạng do Bác Hồ khởi xướng, Ngài luôn quan tâm tập hợp xây dựng mối quan hệ cùng cố tinh đoàn kết từ trong nội bộ chư Tăng và tín đồ Phật tử từng chùa, giữa chùa này với chùa khác, giữa Phật giáo với tôn giáo khác, giữa dân tộc Khmer và các dân tộc khác trong vùng. Trong tuyên truyền, Ngài thường nhấn mạnh: “chia rẽ phân biệt kỳ thị là dụng cụ đắc lực của thực dân đế chế”. Nhưng Ngài cũng nhấn mạnh muốn đoàn kết tốt thì phải hiểu nhau, giữ gìn nhau, tôn trọng nhau và bình đẳng với nhau.

Ngài là một điển hình về bậc chân tu Phật giáo Nam tông Khmer theo chủ nghĩa yêu nước của bác Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam, tấm gương điển hình của sự thắng lợi về việc vận dụng sáng tạo đường lối vận động quần chúng trong đồng bào và chư Tăng Khmer của Tỉnh ủy Trà Vinh lúc bấy giờ. Ngài là vị có công lao đáng kể trong việc góp phần làm nên lịch sử truyền thống cách mạng của đồng bào Khmer Trà Vinh. Đồng bào và chư Tăng Khmer Trà Vinh trong đó có Ngài, vinh dự được Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Giải phóng Hạng Nhất – Nhì và Huân chương Thành đồng hạng II.

Ngài xứng đáng được truy tặng Huân chương kháng chiến, Huân chương độc lập và Huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết. Công đức và tấm gương của Ngài mãi trường tồn với Đạo pháp và Dân tộc. Ngài xứng đáng là một danh tăng của Phật giáo Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)