Hòa thượng Lâm – Em (1898 – 1979)
- Tăng thống Giáo hội Phật giáo Theravāda.
- Thành viên Hội đồng Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
- Thành viên Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.
- Cố vấn của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo.
- Trụ trì chùa Candaransi – 164/235 Trần Quốc Thảo, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Thân thế:
Hòa thượng Lâm Em, sinh năm 1898 tại làng Mỹ Tú, huyện Sóc Trăng, trong một gia đình người Khmer có truyền thống tu học Phật giáo theo tôn chỉ của bộ phái Theravāda.
Thời kỳ xuất gia học đạo:
Vốn sinh ra trong một gia đình phật tử thuần thành, nhiều đời tín kính Tam bảo, nơi nghiệp quả tạo thành, nên lúc nhỏ, Ngài thường được song thân tạo điều kiện để sớm biết rõ các nghi lễ, giới giác tu học của Phật tử tại gia. Với bản tính thông minh và sẵn có một tấm lòng thiết tha vì đạo, Ngài đã nhanh chóng hấp thụ được truyền thống tu học của gia đình, và chính sự trợ duyên gần gũi lớn lao đó đã hỗ trợ không ít cho bước đường tu học của Ngài sau này.
Năm Bính Thìn (1916), được sự đồng ý của song thân, đồng thời nhận thấy niềm vinh dự lớn lao của một gia đình có người xuất gia học đạo, Ngài chính thức xuất gia (năm 18 tuổi), thọ giới Sa di tại chùa Bổ Thảo, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
Năm Canh Thân (1920), sau thời gian chuyên cần tu học, Ngài thọ Tỳ Khưu (cụ túc giới), cũng tại chùa Bổ Thảo (năm 22 tuổi).
Từ đó Ngài được cử đi tham học kinh tạng và luật tạng nơi các chùa trong tỉnh lẫn các nơi khác. Đến đâu Ngài cũng được các Trưởng lão quý mến, hết lòng dạy bảo. Tăng chúng cùng thời thích được gần gũi và trao đổi kết quả học tập với Ngài, tạo nên sự đoàn kết gắn bó trong giáo đoàn.
Năm 1938, ý thức rằng bản thân cần phải nâng cao trình độ tu học, cần có kiến thức căn bản về Phật học Nguyên Thủy từ kinh tạng Pāli, mang ý chí tiến thủ đó, Ngài sang tận Campuchia, gặp gỡ và cầu học nơi các Trưởng lão cao minh. Cùng thời gian tham cứu kinh tạng Pāli ấy, Ngài còn học thêm thiền một cách nghiêm túc, nên định lực và trí tuệ phát triển, đạt nhiều kết quả tốt. Đặc biệt, từ năm 1940 Ngài đã thực hành hạnh Đầu Đà ngay trong rừng suốt tám năm. Đến giữa năm 1947 Ngài mới xả hạnh.
Thời kỳ hành đạo:
Cuối năm 1947, Ngài trở về Việt Nam bắt đầu hoằng hóa, truyền đạt kinh nghiệm tu hành cho thế hệ kế tiếp. Ngài đã kiến tạo được trong cộng đồng Phật giáo Khmer một sắc thái sinh động khác hơn thời gian trước, bắt nhịp cùng phong trào chấn hưng Phật giáo chung của đất nước. Từ đó, giới Phật giáo người Việt gốc Khmer có cơ hội gắn gửi và gắn bó chung với Phật giáo Việt Nam.
Thể hiện sự hòa nhập đó, Ngài lên Sài Gòn, tìm đến cộng đồng người Việt gốc Khmer sinh sống ở đây truyền đạt tâm nguyện, được đa số ủng hộ, sẵn sàng trợ duyên cho hoài bão của Ngài là muốn có ngay giữa đất Sài Gòn này một ngôi chùa lễ bái theo tông phái Theravāda chính thống. Đầu tiên, Ngài đã dựng lên một cốc nhỏ bên bờ rạch Nhiêu Lộc vùng Tân Định để có nơi tu và chờ đợi những trợ duyên.
Năm 1948, Hòa thượng Oul Srey từ Campuchia sang Sài Gòn thăm họ hàng, Ngài cùng toàn thể Phật tử cung thỉnh Hòa thượng ở lại để trợ duyên cùng kiến tạo nên ngôi Tam bảo. Thế là không lâu sau từ cốc nhỏ của Ngài, trên bãi đất lầy đầy cỏ dại và ổ rơ bên bờ kênh Nhiêu Lộc, đã hình thành một ngôi chùa uy nghi đồ sộ, theo truyền thống Khmer. Đó là chùa Candaransi (hiện nay tọa lạc tại số 164/235 đường Trần Quốc Thảo – Quận 3 – Thành phố Hồ Chí Minh). Ngài bắt đầu trụ trì ngôi chùa này ngay từ năm Mậu Tý (1948) sau khi vừa hoàn thành.
Theo đạo dụ số 10 của chính thể Ngô Đình Diệm, Phật giáo Khmer Theravāda cũng cùng chung số phận bị ngược đãi, kỳ thị. Do đó trong Pháp nạn 1963, Ngài đã dẫn thân cùng các vị Tôn túc lãnh đạo và hàng trăm nghìn Phật tử tham gia đấu tranh chống đàn áp Phật giáo, đòi hỏi bình đẳng, tự do tín ngưỡng, nên Ngài đã bị bắt nhiều lần ngay tại Sài Gòn.
Ngày 10.5.1963, là Tăng trưởng Theravāda, thành viên trong Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Ngài lên tiếng ủng hộ bản tuyên ngôn của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đòi hỏi chính phủ phải thực thi năm nguyện vọng chính đáng của giới Phật giáo.
Ngày 15/5/1963, Ngài có mặt trong phái đoàn Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đến dinh Gia Long để trao tận tay Ngô Đình Diệm bản tuyên ngôn ấy.
Ngày 21/5/1963, Ngài được bầu là một trong năm vị Cố vấn của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo (cùng Hòa thượng Minh Trực và các Thượng tọa Trí Quang, Pháp Trí, Thiện Minh và Thanh Thái). Đây là một tổ chức cần thiết phải ra đời trong cơn nguy biến của Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ.
Ngày 30/5/1963 theo chủ trương của Ủy ban Liên phái, Ngài đã tuyệt thực 48 giờ. Đó cũng là ngày đầu tiên cả Sài Gòn tuyệt thực mang ý nghĩa tiên phong cho các cuộc đấu tranh bất bạo động sau này. Lại cũng là ngày đầu tiên Sinh viên – Học sinh và Thanh niên nhập cuộc đấu tranh cho sự bình đẳng tôn giáo và hòa hợp dân tộc.
Ngày 3/6/1963 cùng chung số phận với các chùa đối tượng của lệnh phong tỏa, chùa Candaransi cũng bị chính quyền bao vây gắt gao, vì Ngài là thành viên Ban Cố vấn Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo. Cũng bởi thế, sau cuộc tuyệt thực tại chùa Xá Lợi ngày 15/7/1963 do Ủy ban đề xướng, các Tăng sĩ người Việt gốc Khmer càng bị tra hỏi và bị bố ráp dã man. Ngài và tất cả Tăng chúng Việt gốc Khmer đều bị bắt nhốt bốn ngày.
Ngày 9/7/1963, Ngài lên tiếng phản đối Bộ Nội vụ chính thể Ngô Đình Diệm đã ký Nghị định về việc treo cờ Phật giáo riêng cho đơn vị nào trực thuộc Tổng Hội. Đây là hình thức chia rẽ Phật giáo lâu dài.
Ngày 11/8/1963, Ngài vận tập Tăng sĩ Theravāda thành hàng ngũ chỉnh tề về chùa Xá Lợi tham dự lễ cầu siêu Đại đức Nguyên Hương tự thiêu ngày 4/8/1963.
Năm 1965, Ngài được bầu vào chức vụ Tăng thống Giáo Hội Theravāda.
Năm 1970, Ngài được cung thỉnh làm thành viên trong Hội đồng Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Sau năm 1975, Ngài được cung thỉnh tham gia vào Ủy ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời kỳ viên tịch:
Với Báo thân dĩ thực, hữu hiện trên cõi đời theo duyên giả hợp, suốt 81 năm hoạt động liên tục, với 63 năm hành đạo không ngừng nghỉ truyền trì mạng mạch Phật pháp, trên tinh thần “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”. Trong những năm cuối đời, tuy sức khỏe có phần suy yếu nhưng Hòa thượng lúc nào cũng vẫn luôn Chánh niệm.
Các pháp hữu vi thật không bền vững, bởi nó có tánh Sanh diệt là thường. Thế rồi, theo duyên tan hợp, Hòa thượng đã thuận theo vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 8 tháng 10 (Kattika) năm Kỷ Mùi, nhằm ngày chủ nhật ngày 28 tháng 10 năm 1979 tại chùa Candaransi – tọa lạc số 164/235 Trần Quốc Thảo, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Trụ thế 81 năm, Hạ lạp 60 năm.
Tuy Hòa thượng đã viên mãn hóa duyên cõi Ta bà, trở về với thế giới Niết bàn vô sanh bất diệt, nhưng công đức và đạo nghiệp của Hòa thượng vẫn còn lưu mãi trong tâm tư ký ức của người con Phật và trang sử của Phật giáo Nam tông Khmer thời hiện đại.
Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.