Tiểu sử
Hòa thượng nhũ danh Phạm Xuân, người làng Hiệp Phổ Trung, xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Phạm Tùng, thân mẫu là bà Trần Thị Toản. Hòa thượng sinh ngày 24/6/1943 (năm Quý Mùi) là con thứ trong gia đình trung lưu có truyền thống hiếu đạo sùng kính Phật pháp. Tuổi trẻ thông minh hiếu học, giữ gìn khuôn mẫu phép tắc, được bà con láng giềng thương mến.
Túc duyên sâu dày nên được sinh ra trong gia đình có truyền thống Phật giáo. Do nương vào tâm đạo của cha mẹ, Hòa thượng thường lui tới chốn cửa thiền nghe kinh và tiếp xúc Chư Tăng, Ni, nhờ đó hạt giống Phật đã chuyển mình chờ duyên lành sẽ nẩy mầm sinh trưởng.
Duyên lành hội đủ, ngày 02 tháng 6 năm 1958 (Mậu Tuất) Hòa thượng được cha mẹ cho phép theo cầu pháp xuất gia với Hòa thượng Tâm Hương hiệu Mật Hiển, Trụ trì chùa Trúc Lâm, Thành phố Huế, được Hòa thượng thâu nạp và ban cho Pháp danh là Nguyên Chơn, hiệu Lưu Đoan.
Từ đó, chốn cửa thiền chuyên tâm học đạo, công phu công quả mọi bề được Thầy khen bạn mến. Đầu năm Tân Sửu, ngày 17/01/1961 Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho phép thọ Sa-di giới tại giới đàn chùa Trúc Lâm, Thành phố Huế.
Quyết tâm nỗ lực không ngừng trên đường học đạo, ngày 16 – 18 tháng 7 năm 1965 (Ất Tỵ), Hòa thượng được thọ Tỳ kheo giới tại Giới đàn Vạn Hạnh (tổ chức ở chùa Từ Hiếu, do Hòa thượng Giác Nhiên hiệu Trừng Thủy làm Đàn đầu Hòa thượng).
Thể hiện sự cầu tiến và quyết tâm nối truyền mạng mạch Phật pháp, Hòa thượng còn xin phép Thầy đi tham học các nơi như Đà Nẵng, Tp Huế … với các bậc danh tăng thạc đức đương thời .
Năm 1967, Hòa thượng dự thi tuyển vào Trường Trung đẳng chuyên khoa Phật học tại chùa Linh Quang, Thành phố Huế, kết quả thi đậu vào trường thuộc loại giỏi.
Để chuẩn bị tư lương trên bước đường hoằng pháp lợi sanh, ngồi nội minh Phật giáo, Hòa thượng còn tham học và thông hiểu các pháp thế gian như dịch lý tốn số, địa lý phong thủy… với tinh thần tùy duyên hòa hợp nhằm thích ứng hồn cảnh và đem lại lợi ích cho việc hoằng pháp sau này.
Năm 1971 Hòa thượng tốt nghiệp Trung đẳng chuyên khoa Phật học nhưng vẫn tiếp tục tham vấn các bậc cao minh về Phật học và gần gũi Bổn sư, được truyền khế ấn Mật tông.
Năm 1972, Hòa thượng tiếp nhận sự phân bổ của Giáo hội Phật giáo về tỉnh Vĩnh Bình làm nhiệm vụ Sứ giả Như Lai, Đặc ủy Hoằng pháp kiêm Giám học và Giáo thọ sư tại Phật học viện Khánh Hòa, chùa Phước Hòa.
Sau đó, Tăng Ni trong tỉnh Vĩnh Bình thỉnh Hòa thượng làm Chánh Đại diện Phật giáo huyện Châu Thành (nay là Thị xã Trà Vinh) và làm Phó Trụ trì chùa Long Khánh, trụ sở Giáo hội Phật giáo tỉnh Vĩnh Bình.
Ngồi công tác Phật sự được Giáo hội giao phó, Hòa thượng còn được Tăng Ni Phật tử thỉnh giảng tại các Trường Hạ và các đạo tràng trong tỉnh.
Năm 1974, chấp nhận gian nan thử thách với muôn vàn khó khăn giữa mưa bom bão đạn của chiến tranh tàn khốc, Hòa thượng đến xứ Bến Cát xã Hiếu Tử huyện Tiểu Cần, tỉnh Vĩnh Bình (nay là tỉnh Trà Vinh) theo lời thỉnh mời của Phật tử kiến lập khai sơn chùa Như Pháp, hầu dem ánh từ quang của Phật thắp sáng tâm mê chúng sanh nơi vùng thôn quê hẻo lánh.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, Hòa thượng tiếp tục công việc Phật sự tại tỉnh Trà Vinh và Chùa Như Pháp.
Kể từ sau khi thống nhất đất nước, Hòa thượng vẫn dõi theo từng bước thời gian nhằm tìm thời cơ thuận lợi phát dương quang đại giáo pháp Như Lai .
Sau khi Trà Vinh được tách ra từ tỉnh Cửu Long năm 1993, Hòa thượng cùng chư Tôn đức Tăng Ni tích cực vận động, xin phép thành lập Giáo hội Phật giáo tỉnh Trà Vinh. Khi Giáo hội tỉnh được thành lập, Hòa thượng được thỉnh làm Phó Ban Trị sự kiêm Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni và cố vấn ban Đại diện Phật giáo huyện Tiểu Cần xuyên suốt 4 nhiệm kỳ.
Cũng trong năm năm 1993, lo hậu sự cho Hòa thượng Bổn sư thượng Mật hạ Hiển viên mãn, Hòa thượng được huynh đệ Tăng Ni Phật tử trong hệ phái Trúc Lâm và Chư Tôn đức các tự viện trực thuộc môn phái Tây Thiên suy cử làm Trụ trì Tổ đình Trúc Lâm, Thành phố Huế, kế thừa tổ nghiệp của Bổn sư.
Năm 1998, Hòa thượng được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong lên hàng Giáo phẩm Thượng tọa.
Với chí nguyện lo cho sự phát triển của Phật pháp, Hòa thượng cùng chư tôn giáo phẩm trong tỉnh Trà Vinh tích cực vận động tái thiết lại trường Phật học Trà Vinh, cái nôi của Phật giáo Miền Nam trong thời chấn hưng Phật giáo.
Năm 1999, trường Cơ bản Phật học Trà Vinh (nay là trường Trung cấp Phật học) được phép thành lập tại chùa Phước Hòa , Hòa thượng được đề cử làm Phó Hiệu trưởng kiêm Giám luật và Giáo thọ phụ trách giảng dạy Luật giới cho Tăng Ni xuyên suốt 3 khóa học.
Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Trà Vinh khai Đại Giới đàn Khánh Hòa năm 2002, Đại Giới đàn Huệ Quang năm 2005, Đại Giới đàn Khánh Anh năm 2008 Hòa thượng đều được thỉnh làm Yết-ma A-xà-lê để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni tu tập.
Cũng trong năm 2002, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong Hòa thượng lên hàng giáo phẩm Hòa thượng.
Hòa thượng còn được mời tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Trà Vinh khóa VI và VII với chức danh là Phó Chủ tịch không chuyên trách..
Năm 2005, Hòa thượng trùng tu lại chùa Như Pháp với quy mô lớn và tồn diện, làm chỗ nương tựa vững chắc cho môn đồ tứ chúng tu tập lâu dài.
Năm 2007, Hòa thượng được Giáo hội Phật giáo Việt Nam suy cử làm ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Với uy tín đức độ và sự hy sinh chịu khó, Hòa thượng không chỉ thực hiện các Phật sự lớn nhỏ trong tỉnh mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến các tỉnh khác.
Đệ tử xuất gia 26 vị hiện đa số đã là Trụ trì các tự viện trong, ngồi tỉnh, tham gia và tổ chức các hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo tỉnh Trà Vinh, Phật tử tại gia trong và ngồi nước hơn 6.000 vị .
Sau gần nửa thế kỷ Hoằng pháp lợi sanh, vì tuổi cao sức yếu nên Hòa thượng đã lâm trọng bệnh, mặc dù đã được môn đồ pháp quyến, thế quyến, tập thể Y- Bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng Hòa thượng đã thuận thế vô thường , thâu thần thị tịch vào lúc 7 giờ 45 phút ngày 16 tháng 10 năm 2010 (nhằm ngày mùng 9 tháng 9 năm Canh Dần), trụ thế 67 năm, hạ lạp 45 năm.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.