- Trụ trì đầu tiên, bậc khai sáng chùa Angkok Chum nay là chùa Ratanarañsi “Láng Cát”, thuộc phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Thân thế
Hòa thượng Riddhijaya (Rit-Thi-Chi) là một vị chân tu, xuất thân từ một gia đình nông dân lao động ở vùng quê Căm Poong Trach thuộc nước bạn Campuchia, bản chất Ngài rất cần cù chịu khó và kiên nhẫn.
Thời kỳ hành đạo
Cuộc đời hoằng hóa chánh pháp của Ngài gắn bó sâu sắc với ngôi chùa cổ Ratanarañsi, nay thuộc tỉnh Kiên Giang.
Chùa Ratanarañsi được thành lập vào mùa hạ, năm 1956 Phật lịch, tức là năm 1412 Dương lịch, với tên gọi cổ kính là chùa Angkor Chum. Ngôi chùa thiêng liêng và màu nhiệm của đồng bào phật tử Khmer ở khu vực Láng Cát này tọa lạc tại một vùng cát cao ở phía Đông Nam thành phố Rạch Giá, cách trung tâm thành phố khoảng 1.000m, nay là địa phận của phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Vị trí của chùa ở về phía sau, hướng bên phải của ngôi chùa hiện nay khoảng 200m (hai trăm mét).
Hòa thượng gốc từ nước bạn Campuchia Riddhijaya (Rit-Thi-Chi) chính là vị tổ khai sơn, trụ trì đầu tiên của ngôi chùa này. Ngài là người đầu tiên đã cùng bà con Phật tử tạo lập nơi này. Ngài sinh năm 1370 tại vùng quê Căm Poong Trach, với bản tính giàu đức hy sinh và sẵn có một tấm lòng thiết tha vì đạo, Ngài về đây vừa truyền đạo vừa cùng bà con Phật tử Khmer khai hoang, bát thú dữ và quần tụ trong một xóm nhỏ ở sát bờ biển hoang vu ẩm thấp, khí hậu khắc nghiệt để lao động sản xuất sinh sống, rồi tạo dựng ngôi chùa thiêng liêng cổ kính này.
Quá trình lao động cực kỳ gian khổ đó đã tạo nên xóm ấp đầu tiên và nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay.
Những năm tháng ảm u, tăm tối đó bà con phật tử Khmer đã tồn sinh một cách dũng mãnh bằng cách làm mọi công việc cực nhọc như bắt ong lấy mật, đánh bẫy bắt thú rừng, đốn củi, ra biển đánh cá,… Phật tử đã thương yêu đùm bọc lẫn nhau tạo nên sức mạnh đoàn kết của tập thể cùng với đạo đức và phẩm hạnh của đức Phật: Rải lòng từ bi, bác ái cứu độ chúng sanh,… Tất cả được rèn luyện dưới mái chùa của đấng Từ Bi, đó là ngôi chùa đầu tiên của xóm ấp mình gọi là “Rach Xáp” (tiếng Khmer gọi là KRO-MUN-SO). Nhân dân lao động Khmer đã bắt ong lấy mật và ném bỏ những tổ ong trôi trắng trên dòng sông nên gọi là Rach Xáp.
Xóm nhỏ Khmer đầu tiên ở vùng bờ biển này còn được gọi là Xóm Chài. Ngôi chùa Angkor Chum tuy chỉ là những mái lá đầu tiên được dựng theo kiểu nhà sàn để không bị ẩm ướt khi nước thủy triều lên xuống và chung quanh có hàng rào bằng cây bao bọc để chống những loài thú rừng hung dữ đến quấy phá.
Từ khi có ngôi chùa, đồng bào phật tử Khmer ở xóm ấp này càng ngày càng quần tụ đông đúc hơn và trao đổi mua bán, những sản phẩm do công sức lao động của mình làm ra, làm cho đời sống trong cộng đồng ngày càng sôi động hơn, vui vẻ hơn.
Chùa Angkor Chum ngày càng được đồng bào bà con bốn sóc đến cúng bái và ngưỡng mộ chân lý của đức Thích ca Mâu ni Phật.
Nền Chánh điện được bồi đắp đơn sơ trên một vùng đất cát khô và cao do sự hình thành tự nhiên của nước thủy triều lên xuống sau định kỳ thứ IV ở vùng này.
Xóm nhỏ hẻo lánh ở vùng duyên hải phía đông Rạch Xáp có một nơi nổi tiếng về bắt ong lấy mật và đóng thuyền bè đánh cá,… có người còn gọi nó là Xóm Chài như đã nói trên. Những tên gọi quen thuộc đầu tiên đó đều biểu hiện công việc làm ăn lao động cực kỳ khó khăn bằng mồ hôi nước mắt và cả máu của đồng bào dân tộc Khmer để tồn sinh và tạo dựng xóm ấp đầu tiên của mình cũng như tạo dựng ngôi chùa cổ kính Angkor Chum. Niềm tin tưởng vào trung tâm đoàn kết để cùng nhau thêm sức mạnh tinh thần, chống lại mọi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đã giúp cộng đồng tồn tại và nối tiếp nhau sinh sống qua các thời kỳ lịch sử tại vùng đất thân yêu này, nay là thành phố Rạch Giá.
Hòa thượng Riddhijaya (Rit-Thi-Chi) là một vị chân tu, vị sư xuất thân từ một gia đình nông dân lao động hiền lành, chất phác, Ngài đã cùng bà con phật tử Khmer đổ ra nhiều công sức để dựng ngôi chùa Phật kính yêu, phát triển xóm ấp Khmer ngày càng thịnh ổn, củng cố cuộc sống vật chất đảm bảo và tinh thần được ổn định.
Người ta thường nhắc nhau về vị Hòa thượng của mình với hình ảnh một vị sư đắp bồ y casa bạc màu giản dị, vai trần đen sạm, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khó của nắng nôi, mưa gió. Thiên tính chan hòa, yêu thương mọi người, lúc nào Hòa thượng cũng gần gũi bà con Phật tử, động viên họ khắc phục mọi khó khăn thiếu thốn, tiếp tục lao động để tạo dựng cho cuộc sống của mình ngày càng khá hơn và đoàn kết thương yêu, đùm bọc nhau tạo nên sức mạnh để cùng nhau tồn sinh trong cuộc sống hằng ngày. Hòa thượng luôn bên cạnh và giúp đỡ thuốc men cho bà con Phật tử khi đau ốm hoặc khi có gia đình có tang gia hữu sự.
Địa điểm chùa đầu tiên là ở phía Đông Nam chánh điện ngày nay (nơi ấy sau này thành cái Miễu của đồng bào Hoa kiều, ở ngang cổng của Ban Chỉ huy Quân sự tỉnh hiện nay). Nhưng vì nhiều lần bị cháy và thú dữ quấy phá, nên Hòa thượng Riddhijaya (Rit-Thi-Chi) và bà con Phật tử Khmer đã làm lễ để xin dời địa điểm về chỗ địa điểm như ngày nay (cách trung tâm thành phố Rạch Giá 1.500m về phía Đông Nam) cạnh đường Ngô Quyền thuộc phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá.
Thời kỳ viên tịch
Hòa thượng Riddhijaya (Rit-Thi-Chi) đã giữ chức vị trụ trì chùa Phật cổ kính này dưới ánh sáng đạo màu suốt 30 năm. Các pháp hữu vi thật không bền vững, bởi nó có tánh Sanh diệt là thường. Thế rồi, theo duyên tan hợp, Hòa thượng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch cũng tại ngôi chùa Ngài đã dựng nên. Ngài viên tịch và đã để lại bao nhiêu niềm thương tiếc vô hạn trong lòng Phật tử về một vị chân tu đã có công tạo lập ngôi chùa của xóm ấp đồng bào dân tộc Khmer trong giai đoạn lịch sử đầu tiên này.
Hòa thượng đã vĩnh biệt chúng ta vào mùa xuân năm 1442, bà con Phật tử luôn tưởng nhớ Ngài một vị chân tu xuất thân từ một tầng lớp lao động đã sớm giác ngộ đi theo con đường chân lý của đức Thích ca Mâu ni Phật và suốt cả đời cống hiến vì đời và đạo. Hòa thượng trụ thế 72 tuổi.
Tuy Hòa thượng mất đi nhưng đã để lại cho đồng bào phật tử và các chư tăng một khu vực chùa có diện tích 40 công (một tầm 3m) và hơn 300 cây điều, sao, thốt nốt, xoài, dừa, mít,… trong đó có một phần diện tích trồng cây thuốc Nam để làm dược liệu trị bệnh thông thường cho bà con Phật tử. Những cây cổ thụ dầu, sao, bồ đề vút cao lên bầu trời, vượt hẳn như cây rừng ở vùng đất phù nhiêu ven biển này mà đồng bào dân tộc gọi là khu vườn phía Nam (Chăm-Ka-Trây-Tbôn).
Phía trước cửa chánh điện là một con rạch nhỏ chảy ngoằn nghèo (lúc nước ròng có thể săn quản lý qua sông được) do sự hình thành tự nhiên của nước thủy triều, còn phía sau chùa là bãi biển Rạch Giá.
Khu vực chùa âm u và rộng lớn này có một thời gian dài còn nhiều thú rừng hoang dã và các loài chim muôn ẩn sống,… Nhưng tiếng cầu kinh tụng niệm của các vị sư trong ngày lễ phước cùng đông đảo bà con Phật tử tới dự và công sức lao động khai phá trồng trọt của bà con đã đẩy lui dần sự hoang dã này ra xa khu vực nhà chùa.
Tên gọi ngôi chùa Angkor Chum nói lên sự đoàn tụ gắn bó diệu kỳ của đồng bào dân tộc quanh ngôi chùa lịch sử này và ngàn đời sau con cháu của họ được nối tiếp truyền thống vẻ vang để mãi mãi nhớ thương, ngưỡng mộ một công trình lao động cực kỳ vinh quang của tổ tiên mình trong quá khứ mà đã ông cha họ đã đổ mồ hôi, nước mắt để tạo lập nên.
Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.