Hòa thượng Suvannakeso Châu Phượng (1914 – 11/10/1988)

Hòa thượng Suvannakeso Châu Phượng (1914 – 11/10/1988)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Hòa thượng Suvannakeso Châu Phượng, sinh năm 1914, là con thứ năm trong một gia đình Phật tử thuần thành kính tin Tam bảo, có bảy anh chị em ở xóm Cù Lá, thuộc xã Cù Hòa Cũ, nay là khu phố Minh Lạc, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Thời kỳ xuất gia học đạo
Thuở nhỏ Hòa thượng sống trong một gia đình nghèo, có đông anh chị em. Nhờ đã gieo căn lành từ nhiều kiếp, sớm giác ngộ cõi đời là huyễn, thế sự phù du nên năm Ngài lên 8 tuổi đã xin phép cha mẹ vào chùa để học chữ Khmer và trau dồi giáo lý nhà Phật.

Bốn năm học tập và rèn luyện tại chùa Cù Lá Mới, Ngài đã được mở mang về đa tiếp thu học hỏi thêm nhiều về sự hiểu biết giới – định – tuệ, so với lúc còn ở gia đình.

Năm 1926, Ngài phát tâm muốn xuất gia đầu Phật, song thân Ngài rất hoan hỷ. Ông bà đưa Ngài đến chùa Cù Lá thỉnh Hòa thượng Tăng Sương làm Thầy tế độ. Sau khi xuất gia, thọ giới Sa di (năm 12 tuổi) Ngài luôn nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu học để xứng đáng là bậc sứ giả Như Lai.

Bốn năm tiếp sau Ngài đã miệt mài trong tu học, tham học Phật pháp, Hòa thượng đã tỏ ra là một tu sĩ có nhiều tiến bộ trong giáo lý và Kinh Kệ của Phật. Ngài được Hòa thượng Tăng Sương quý mến, hết lòng dạy dỗ và được các chư Tăng khác tin tưởng tạo nên sự đoàn kết trong giáo đoàn.

Năm Ngài được 16 tuổi thì cụ bà Thị Kem, mẹ ruột của Ngài qua đời. Tang mẹ chưa nguội thì năm sau (năm 1931) cụ ông thân sinh là Châu Yếu cũng qua đời.

Sau khi mẹ cha mất, Ngài đã mang tất cả tài sản được cha mẹ chia cho là bảy công ruộng và vàng bạc để cúng chùa, góp phần xây dựng và tu sửa ngôi chùa kính yêu của mình.

Năm 1934, sau thời gian chuyên cần tu học, Ngài đã được đăng đàn thọ giới Tỳ khưu, do Hòa thượng Danh Con chùa Cà Lang Mương làm đàn đầu. Hòa thượng được đặt cho Pháp danh là SOVANNAKESO.

Ngài xem đó là một hạt giống lành trong cuộc đời tu luyện của mình, là bước trưởng thành qua 12 năm sống dưới mái chùa. Và cũng chính trong năm đó cũng là năm mở đầu con đường hành đạo của một bậc chân tu.

Thời kỳ hành đạo

Năm 1942, Ngài được Hòa thượng Tăng Chi, chư Tăng và Phật tử bổ nhiệm chức vụ Phó Trụ trì chùa Cù Lá Mới trong niềm hân hoan và tin tưởng của các vị có mặt trong ngày lễ hôm đó. Ngay khi nhận nhiệm vụ, với tinh thần vì Đạo pháp – Dân tộc, Hòa thượng đã bắt tay vào việc củng cố nề nếp, tu sửa Phật đường, ra sức kiến tạo và phát triển chùa Cù Lá ngày càng hưng thịnh, khang trang hơn.

Năm 1943, Ngài cho xây dựng lại Ngôi Tăng xá, gồm có 7 căn của Hòa thượng Trụ trì trước đây là nhà sàn bằng cây lợp ngói.

Năm 1945, sau ngày Cách Mạng Tháng 8 thành công rồi tiếp tục cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp và bọn địa chủ phong kiến. Phó Trụ trì Châu Phượng đã hết lòng giúp đỡ cho Hòa thượng Tăng Chi góp phần không nhỏ trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

Năm 1947, Ngài đã cùng Hòa thượng Tăng Chi vận động cho bà con Phật tử lợp ngói để xây dựng một tháp để hài cốt của đồng bào Phật tử.

Năm 1949, do bệnh duyên và được sự đồng ý của Hòa thượng Trụ trì, Ngài xin hoàn tục về với gia đình để trị bệnh. Sau khi hoàn tục khoảng 8 tháng, do bệnh thể thập của bản thân đã khỏi và điều đặc biệt hơn có lẽ là do căn duyên chưa hết nên Ngài đã trở về chùa tiếp tục thọ giới Tỳ khưu.

Năm 1956, Hòa thượng đã cúng dường 26.572 đồng để thỉnh 2 quyển cẩm nang và hàng trăm quyển kinh các loại để làm tài liệu giáo lý cho việc học tập của chư Tăng và Phật tử tại chùa mình.

Năm 1963–1964, Ngài đã trực tiếp chỉ huy xây dựng Tăng xá, gồm 2 căn có kích thước ngang 8m dài 12m. Đồng thời xây dựng 2 cầu bê tông ngang dòng sông Cù Lá, cầu bê tông bắc ngang Rạch Tà Tùng có cùng kích thước ngang 2.5m dài 25m và 1 cầu cống dẫn vào chùa có chiều dài 7m, để tạo điều kiện cho bà con Phật tử cũng như khách thập phương đến thăm viếng chùa một cách thuận lợi.

Năm 1964–1965, Ngài lại tiếp tục cho xây bể nước mưa để đảm bảo đủ nước uống cho chư Tăng trong mùa nước mặn. Cũng trong năm đó Hòa thượng tiếp tục cho thi công hàng rào và tráng xi măng chung quanh Chánh điện.

Năm 1968, Ngài cho xây dựng trường học 7 căn có chiều dài 8.2m rộng 27m với tổng chi phí là 875.000 đồng. Công trình này đã hoàn thành vào năm 1971. Cũng năm đó Ngài đã mua sắm 1 máy, trị giá 48.000đ, một máy phát điện hiệu YANMAR (2 blocs) trị giá 300.000 đồng. Đồng thời xây dựng luôn nhà bếp ở cặp sông Tà Tùng có chiều ngang 8m dài 20m với chi phí trên một trăm nghìn đồng (100,530đ).

Năm 1971, Hòa thượng xây dựng tháp 2 tầng với những đường nét hoa văn độc đáo của dân tộc theo kiểu Angkor (như trên đất nước bạn Campuchia). Tháp 2 tầng của Hòa thượng và bà con Phật tử lòng lẫy như một công trình văn hóa dân tộc đã được khánh thành trọng thể vào mùa xuân năm 1980. Sau ngày hòa bình lập lại trên miền Nam, Hòa thượng có ý định lưu lại hài cốt của mình và bà con Phật tử trong ngôi tháp này.

Với tấm lòng từ bi bác ái của một bậc chân tu luôn luôn tâm niệm cứu nhân độ thế, Hòa thượng đã thiết kế và xây dựng một lò thiêu để làm lễ hỏa táng cho tất cả bà con Phật tử đã mất và một cỗ áo quan để tẩm liệm cho người nghèo đã khuất dùng trong lễ tang rồi trả lại chùa. Sự quan tâm và lo lắng đó đã để lại trong lòng bà con Phật tử sự tin yêu và kính trọng Hòa thượng vô cùng.

Tháng 5 năm 1974, sau ngày lễ hỏa táng Hòa thượng Danh Con, trụ trì chùa Cà Lang Mương, Hòa thượng Châu Phượng được ủy nhiệm và kế tục chức vụ trụ trì chùa Cù Lá Mới.

Hòa thượng Châu Phượng là một trong những vị hòa thượng ở tỉnh Kiên Giang đã thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta trong thời kỳ gay go, ác liệt nhất.

Ngày 9/6/1974, Hòa thượng đã chân tình đón tiếp các vị đại diện của Hội sư sãi yêu nước đến chùa, gồm có Hòa thượng Danh Nhưỡng, Đại đức Lâm Hùng, Đại đức Hải Sơn, v.v… đến họp bàn và bố trí lực lượng tham gia cuộc biểu tình ngày 10 tháng 6 năm 1974, đấu tranh trực diện chống bọn Mỹ – Ngụy đã bắt 10 vị sư đi dự lễ hỏa táng Hòa thượng Danh Con (5/6/1974).

Suốt thời gian đánh Mỹ, nhất là trong những năm bảy mươi, chùa Uttamasuriya “Cù Lá Mới”, là một địa điểm an toàn để cho hàng triệu thanh niên các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, … trong tuổi quân dịch ẩn náu trong các lần chiến dịch Mùa hè đỏ lửa, chiến dịch Phượng Hoàng. Tại thời điểm đó, trong Tăng xá của Hòa thượng, trên tầng gác trên nóc Chánh điện, đêm đêm đều có thanh niên trốn quân dịch trú ngụ. Hòa thượng đã cho các vị sư chuẩn bị gáy gốc để đánh bọn cảnh sát Ngụy ngang nhiên vào chùa để xét bắt thanh niên. Hàng ngày các sư đều cảnh giác để báo động có cảnh sát đến khu vực chùa. Hành động kiên quyết đó được nhiều bà con thân nhân của anh em thanh niên trong tuổi trốn quân dịch hết sức biết ơn Hòa thượng. Điều này cũng góp phần làm suy yếu lực lượng quân sự của địch tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công mùa xuân năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Năm 1978, Hội nghị Sư sãi của tỉnh được tổ chức tại chùa dưới sự truyền đạt của ông Danh Tứng về việc ban hành nội dung Hiến pháp của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, có sự tham gia đông đảo chư Tăng và bà con Phật tử.

Năm 1979–1980, Hòa thượng đã cho mở lớp giảng dạy ngôn ngữ Pali (lớp II và III) và năm 1980–1981 tiếp tục giảng dạy, nhằm nâng cao trình độ của chư Tăng để nghiên cứu giáo lý của đức Phật.

Năm 1982, trong phong trào cải tạo nông nghiệp chung tại địa phương đi vào con đường làm ăn tập thể, Hòa thượng đã hướng dẫn chư Tăng trong chùa xin được tham gia sản xuất góp phần động viên khích lệ bà con Phật tử tham gia làm ra của cải vật chất cho xã hội, giảm bớt khó khăn và đóng góp chút sức mọn đối với nhà chùa, đưa nề nếp tu tịnh của chùa phù hợp với tình hình phát triển của xã hội bên ngoài.

Năm 1983, chùa tổ chức học Kinh luận giới cho các vị sư trong huyện.

Năm 1984, Hòa thượng đã tổ chức dạy bổ túc văn hóa cấp III (lớp 10, 11, 12) để nâng cao trình độ văn hóa phổ thông cho chư Tăng để tiến kịp phong trào cách mạng chung của cả nước. Cũng trong năm đó, Hội nghị sư sãi trong toàn tỉnh đã phát động phong trào “Mua công trái để xây dựng tổ quốc” trong Tăng chúng và đồng bào dân tộc trong tỉnh, đồng thời học chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về vấn đề dân tộc.

Vì điều kiện sức khỏe và bệnh tình ngày càng trầm trọng nên Hòa thượng Châu Phượng không thể trực tiếp tham dự hội nghị quan trọng này. Nhưng Hòa thượng đã chỉ đạo các đệ tử và ban quản trị chùa hoàn thành việc giúp đỡ cho hội nghị được thành công tốt đẹp.

Ngày 4 và 5/5/1988, dưới sự chỉ đạo của Hòa thượng, hội nghị tổng kết phong trào sư sãi yêu nước của tỉnh Kiên Giang tổ chức trong thể tại ngôi chùa lịch sử tỉnh, nhiều vị khách thay mặt cho cấp Ủy và chính quyền địa phương, Ủy ban mặt trận huyện, xã và hàng trăm vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức AChar, ban quản trị các chùa đại diện cho hơn 140.000 đồng bào Phật tử các xóm ấp Khmer trong tỉnh được vinh dự đón tiếp và nghe ý kiến phát biểu của ông Trần Quang Quý – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Kiên Giang thay mặt cho Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh về một số vấn đề trước mắt cần làm ngay và hướng đi lên của sư sãi và đồng bào dân tộc. Khẳng định tinh thần đoàn kết với nội dung dân chủ bình đẳng; khẳng định thành tích cách mạng của chư sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer trong tỉnh qua cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.

Thời kỳ viên tịch

Là một trong những cao tăng cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, Đại lão Hòa thượng Châu Phượng đã có nhiều đóng góp, công đức to lớn trong công cuộc chấn hưng, thống nhất và hòa hợp Phật giáo, góp phần xây dựng và bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc, phụng sự đất nước.

Những tường trên lộ trình phụng sự Đạo pháp và chúng sinh, Hòa thượng còn trụ thế lâu hơn nữa, đã làm bóng cây đại thụ che mát Tăng Ni trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Nam tông Khmer, Phật giáo tỉnh Kiên Giang, góp phần lãnh đạo Giáo hội, đưa con thuyền Đạo pháp xuôi theo dòng chảy của dân tộc. Nào ngờ đâu: “Cá sa bính bát xin gói lại. Một mảnh chơn tâm nhập Niết bàn. Sa la nhập diệt gương còn đó, mãi mãi ngân sau vẫn ngát hương”.

Các pháp hữu vi thật không bền vững, bởi nó có tánh Sanh diệt là thường. Khi hạnh nguyện hoằng dương Phật pháp, theo duyên tạm hợp, tế độ chúng sinh của Hòa thượng đã viên mãn, thì cũng chính là lúc luật vô thường đưa Hòa thượng trở về Tây phương kiến Phật vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 11 tháng 10, năm Mậu Thìn (1988), trụ thế 74 tuổi, hạ lạp 40 năm tại chùa Cù Lá Mới, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Sự ra đi vĩnh viễn của Hòa thượng là một sự mất mát lớn lao đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang cũng như hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer và Tăng Ni Phật tử Việt Nam. Từ nay trên lộ trình phụng đạo giúp đời, trang nghiêm Giáo hội, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, Tăng tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer không còn được diện kiến tôn dung khả kính của một bậc Cao tăng phạm hạnh. Nhưng công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn sống mãi trong tâm tư, trong ký ức của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, Tăng tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer và trang sử rạng ngời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Tuy Hòa thượng đã viên mãn hóa duyên cõi Ta bà, trở về với thế giới Niết bàn vô sanh bất diệt nhưng Chánh điện và ngôi Bảo tháp vẫn còn. Tên tuổi của Hòa thượng vẫn gắn liền với những công trình văn hóa này mãi mãi cao thượng và rực rỡ ánh hào quang chân lý như tên chùa Uttamasuriya “Cù Lá Mới” cổ kính này.

Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng (7)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)