Thân thế
Hòa thượng thuộc dòng họ Nguyễn, có hiệu Phả Minh, và pháp danh là Thích Thanh Tích, sinh năm Tân Tỵ (1881) tại thôn Quỳnh Trân, xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà (Hà Nam cũ). Ngài lớn lên trong một gia đình nhà Nho nghèo, với 4 anh em và 2 người xuất gia đầu Phật.
Cơ duyên tu hành
Năm 1893, khi Ngài mới 13 tuổi, với tâm nguyện giải thoát nơi chốn Hương Sơn, được sự chấp thuận của gia đình, Ngài quyết định xuất gia. Ngài hướng đến chùa Hương Tích Hà Đông, nơi Tổ Thanh Quyết trụ trì, một bậc long tượng trong thiền môn, và sớm hòa mình vào tu hành giải thoát, trải qua những năm đầu tiên của con đường tu đạo.
Năm 1898, Ngài thọ giới Sa Di khi 18 tuổi và tiếp tục hành trì, tinh tấn học đạo. Đến khi 21 tuổi, Ngài thụ giới Cụ Túc. Với kiến thức vững về kinh sách Nho học, Lão học và Phật học, cùng với tinh thần nghiêm túc tuân thủ giới luật và tích lũy lòng nhân ái, Ngài trở thành nguồn cảm hứng và tâm điểm tôn kính trong cộng đồng Tăng Ni.
Những đóng góp cho Phật giáo
Năm 1925, 45 tuổi, được Tổ Thanh Quyết, Tổ thứ 8 Hương Tích cử Ngài làm Giám Viện chùa Hương, là người hướng dẫn Tăng chúng trong môi trường yên tĩnh của khu danh sơn Hương Tích.
Năm 1931, Ngài 51 tuổi, được Tổ chọn làm trụ trì chùa Hương, tiếp tục truyền thống của đời thứ 9 sơn môn Hương Tích, khi Tổ cảm thấy sức yếu và tuổi già.
Năm 1934, trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Hội Bắc Kỳ Phật Giáo được thành lập, và Ngài được mời vào Ban Chứng minh Đạo sư của hội.
Năm 1938, khi chùa Quán Sứ được trùng hưng, Ngài được Tăng già thỉnh đảm nhận Thủ quỹ, phụ trách công tác hưng công chùa Quán Sứ cùng với các Tôn túc trong Hội Bắc Kỳ Phật Giáo.
Ngoài việc phát huy danh lam, thắng cảnh Hương Sơn, và tham gia công cuộc chấn hưng Phật giáo của Tăng Già, Hòa thượng Thanh Tích còn có công trùng tu trên mười ngôi chùa lớn nhỏ ở khắp các nơi như: chùa Hưng Long (Quỳnh Trân, Nam Hà); chùa Hương Trảm (Hội Xá, Mỹ Đức); chùa Liên Hương (Đông Bình, Mỹ Đức); chùa Đồng Chiêm (Mỹ Đức); chùa Huyền Công (Khả Phong, Hà Tây); chùa Nguyên Đoài (Hà Nam); chùa Châu Lâm (Duy Tiên, Hà Nam) v.v…
Song song với việc trùng tu tạo dựng các Tổ đình Tự viện Ngài còn cho trùng san, in khắc những bộ kinh luật luận nổi tiếng như: Duy Ma Cật kinh; Giải Thâm Mật kinh; Yết Ma Chỉ Nam; Di Đà Viên Trung; Pháp Hoa đề cương v.v…
Với chí nguyện độ sinh, giáo hóa Tăng chúng làm rạng danh nơi Phật Tích. Ngài đã giáo dưỡng được hơn một trăm đệ tử xuất gia đều tinh thông cả thế học cũng như Phật Học nổi tiếng như các vị: Tố Liên, Thanh Chân v.v…
Năm 1947, cuộc chiến chống Pháp bùng nổ, Ngài ưu mẫn trước cảnh nước mất nhà tan, cảm nhận sâu sắc lẽ vô thường nên Ngài truyền trao trách nhiệm trụ trì lại cho đệ tử là Hòa thượng Thanh Chân, kế thừa đời thứ 10 chốn Tổ Hương Tích trông nom sự nghiệp tùng lâm.
Thời kỳ viên tịch
Trong những năm tháng còn lại, Ngài lui về chùa Hưng Long, thôn Quỳnh Trân, mai danh ẩn tích chuyên lòng tu niệm cầu nguyện vãng sinh cho đến khi Ngài thị tịch vào ngày 21 tháng 12 năm Giáp Thìn (1964), hưởng thọ 84 tuổi đời, hành đạo 62 năm.
Bảo tháp của Hòa Thượng hiện còn lưu tại chùa Hưng Long, thôn Quỳnh Trân, Lam Hạ, Duy Tiên, Nam Hà. Suốt quá trình hành đạo, Ngài nổi tiếng là một bậc mô phạm chân tu, đức độ của Ngài cảm hóa Tăng tín đồ nơi nơi quy ngưỡng.
Âm vang sự nghiệp đó, còn được lưu truyền nơi danh sơn Hương Tích:
Điển hình do tại ư Tổ tràng.
Công nghiệp lưu truyền ư Phật Tích.
Tham khảo
- Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, TT. Thích Đồng Bổn, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995