Thân thế
Hòa thượng Thích Thiện Tòng, tên thường gọi Nguyễn Văn Thung, ra đời vào năm Tân Mão (1891) tại thôn Tân Long, nay là xã Tân Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ngài là con thứ ba trong gia đình của ông Nguyễn Văn Nhựt và bà Võ Thị Ngọt, với tám anh em, trong đó có em thứ năm cũng xuất gia với pháp danh là Sư Phổ Phú.
Gia đình Ngài thuộc tầng lớp trung lưu, với thân phụ làm nghề Đông y và sở hữu kiến thức sâu rộng về Nho học. Nhờ vào môi trường gia đình, Ngài sớm làm quen với chữ Hán, và từ khi 12 tuổi, Ngài đã thành thạo Tứ Thư và Ngũ Kinh.
Cơ duyên tu hành
Cùng với việc học vấn, vào thời điểm đó, Ngài được dẫn đến chùa Khánh Quới để kết duyên xuất gia với Hòa thượng Phước Chí, được Bổn sư đặt cho pháp danh Thiện Tòng. Với trí tuệ nhanh nhạy và sự học hỏi tích cực, Ngài nhanh chóng nắm vững các quy tắc của thiền môn và kiến thức cơ bản về Phật học.
Năm Ất Tỵ (1905), khi Hòa thượng Phước Chí viên tịch, Ngài vẫn còn là Sa di. Sau thời gian chấp tác và thọ tang Bổn sư, Ngài quyết định rời chùa để vân du tham cầu học đạo. Ngài đến cầu học với Hòa thượng Thiền chủ Phước Minh ở Vũng Liêm, sau đó tiếp tục tìm đến Đại đức Bửu Quang ở chùa Phước Sơn (Bằng Lăng, Vĩnh Long).
Năm Kỷ Dậu (1909), Ngài, 20 tuổi, cùng với sư đệ Quảng Ân, an cư tại chùa Sùng Đức (Chợ Lớn) và thọ đại giới tại trường Hương. Năm Tân Hợi (1911), Ngài, 22 tuổi, chuyển đến an cư tại Tổ đình Đại Giác (Biên Hòa). Đến khi 23 tuổi, Ngài tiếp tục an cư tại chùa Long Phước (Vĩnh Long), nơi Ngài được giao làm Phó chúng thiền đường.
Tại Chợ Lớn, nơi có các Hòa thượng danh tiếng như HT. Chơn Hương, HT. Thanh Ẩn, HT. Hoan Hỷ, HT. Từ Phong, Ngài đã khai đàn thuyết giáo tham gia nhiều nơi để học hỏi. Bằng lòng chấp nhận gian khổ, mỗi ngày Ngài lặn lội hàng chục cây số, chịu đựng nắng mưa, không biết mệt mỏi, để có thể học hỏi được nhiều kiến thức từ các vị cao Tăng và tham gia vào các buổi thuyết giáo và thảo luận.
Mùa hè năm Quý Sửu (1913), Ngài quyết định an cư tại chùa Sắc Tứ Tam Bảo ở Rạch Giá. Trong thời gian này, Hòa thượng Từ Văn, hay còn gọi là Hòa thượng Cả, làm Pháp sư tại Trường Hạ. Ngài được giao trách nhiệm làm Phó Na thiền đường, nơi Ngài thể hiện lòng trách nhiệm và lòng cầu pháp cao cả. Vì sự tích cực và tận tâm của mình, Ngài được Hòa thượng Từ Văn mời về chùa mình để được giảng dạy kinh luật và học nghề thuốc với lương y Mai Hữu Thân để có thêm kỹ năng cứu người. Hòa thượng Từ Văn tin tưởng vào Ngài và chọn Ngài làm thị giả. Trong những lúc lui tới các già lam khắp nơi, và trong mọi vấn đề kiến giải hai thầy trò rất tâm đắc, nên Hòa Thượng Từ Văn càng tin yêu hơn.
Trong hành trình tu học, Ngài còn gặp Hòa thượng Chí Thiền tại chùa Phi Lai ở Châu Đốc. Ngài đã đảnh lễ và cầu pháp, nhận được pháp hiệu Phổ Quảng và pháp danh Hồng Tòng từ Hòa thượng Chí Thiền, nối đời thứ 40 của dòng Lâm Tế.
Mùa hè năm Bính Dần (1926), trường Hương được mở tại chùa Hội Phước (ấp Rạch Miễu, xã Tân Thạnh, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Bến Tre). Hòa thượng Từ Văn được cung tỉnh làm Pháp sư và sau đó tin tưởng cử Ngài thay mặt. Ngài lúc này mới 36 tuổi.
Những đóng góp cho Phật giáo
Mãn hạ, Ngài quay trở lại thăm Tổ đình Khánh Quới. Sư huynh đang trụ trì Tổ đình đề nghị Ngài trở thành trụ trì chùa Long Phước ở xã Phú Luông (nay là xã Long Khánh, huyện Cai Lậy). Tuy nhiên, với khát vọng học pháp ở nhiều nơi, Ngài quyết định mạnh dạn đề xuất để Sư Phổ Phú, em ruột của mình, làm trụ trì chùa Long Phước để hỗ trợ nhau.
Tháng 7 năm ấy, Ngài chuyển giao chùa Long Phước cho Sư Phổ Phú và lên Sài Gòn theo lệnh của Hòa thượng Từ Văn, để trụ trì chùa Trường Thạnh gần Chợ Mới. Mặc dù chùa Trường Thạnh không có vẻ ngoại hình ấn tượng và cổ kính nhưng nằm ngay trung tâm Sài Gòn, điều này rất thuận lợi cho việc hoằng hóa theo hướng mới của Ngài. Với tầm nhìn đó, Ngài đặt lòng biến chùa Trường Thạnh thành một điểm nổi bật thu hút nhiều người học Phật.
Hè năm Đinh Mão (1927), chùa Sắc Tứ Long Hoa ở Gò Vấp tổ chức kiết hạ An cư. Hòa thượng Chủ hương ở đây chuyên trì kinh Pháp Hoa. Nghe Ngài thường giảng kinh Pháp Hoa ở trường Hương chùa Hội Phước, nên Hòa Thượng đã tìm đến tận chùa Trường Thạnh, nơi Ngài đang trụ trì mời Ngài làm Pháp sư.
Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài quyết định trở về chùa Long Phước (Cai Lậy) để tổ chức chúc thọ Giới Đàn, nhằm báo đáp công ơn của chư Phật. Ngài đại diện cho giới tử địa phương, mời cung thỉnh Hòa thượng Từ Văn đến chứng minh. Hòa thượng chùa Sắc Tứ Long Hoa, còn được biết đến là Hòa thượng Đường đầu, và sư đệ Quảng Ân (chùa Linh Phước) được chọn làm Giáo thọ.
Lúc này, phong trào chấn hưng Phật giáo đang phát triển mạnh mẽ khắp ba kỳ. Trong lúc Ngài giảng kinh ở trường Hương Gò Vấp, Sư Thiện Chiếu đến gặp Ngài, và Ngài cam kết hỗ trợ chư vị để thúc đẩy phong trào. Ngài cũng khuyến khích nhiều Phật tử tham gia hội Nam Kỳ Phật Học và kêu gọi họ mua tìm đọc tạp chí Từ Bi Âm. Mặc dù chùa Trường Thạnh lúc ấy còn nghèo, nhỏ, nhưng luôn mở cửa đón tiếp những tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết, đồng lòng hướng về sứ mệnh trùng hưng Phật Pháp. Sư Phổ Phú, người em đồng lòng với Ngài, thường xuyên mở các lớp học Phật tại chùa Long Phước và hai lần mời sư Thiện Chiếu đến Long Phước thuyết giảng giáo lý và bài học yêu nước.
Phong trào chấn hưng Phật giáo phát triển vài năm nhưng sau đó bị tác động từ nhiều phía, buộc phải tạm thời lắng xuống. Ngài Khánh Hòa lúc này quyết định thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, Sư Thiện Chiếu chuyển về chùa Hưng Long (Ngã bảy Sài Gòn) để viết sách. Ngài tiếp tục trụ lại tại chùa Trường Thạnh mở các lớp giáo lý. Đối mặt với sự theo dõi của mật thám Pháp, khi bị hỏi về phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài khéo léo trả lời: “Hiện giờ trong giới Tăng Già có người nhiều tài đức hơn tôi. Tôi phần vì sức yếu tuổi già lại tài hèn đức mọn nên phải lựa đường mà đi. Nếu mình không đủ sức quét nhà thì đừng xả rác”.
Thời kỳ kháng chiến
Tháng 10 năm Canh Thìn (1940), Ngài quyết định trùng tu chùa Trường Thạnh sau một biến cố gian khó đến tai Thống Đốc Nam Kỳ. Tuy nhiên, nhờ sự kiện này, chùa Trường Thạnh thu hút ngày càng nhiều Tăng Ni và Phật tử đến lễ bái và học Phật, trở thành một trong những cơ sở quan trọng của phong trào Việt Minh trong nội thành Sài Gòn.
Sau Cách Mạng Tháng Tám, Ngài chính thức làm cơ sở nội thành cho kháng chiến. Khoảng năm 1949-1950, phong trào Phật Giáo ở nội thành Sài Gòn hoạt động mạnh mẽ. Theo yêu cầu của kháng chiến, Hòa thượng Giác Ngộ (ở Ngã sáu) cùng nhiều vị khác tổ chức đại hội thành lập Giáo Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật Tử vào ngày rằm tháng hai năm Nhâm Thìn (1952). Ngài được bầu làm Đại Tăng Trưởng (tương tự chức Tăng Thống) và chủ trương của Giáo Hội là tu theo cách truyền thống.
Thời kỳ viên tịch
Tháng 10 năm Kỷ Hợi (1959) Ngài lại khởi công nâng cấp chùa Trường Thạnh. Lúc này Ngài đã 70 tuổi. Trong giai đoạn này, nhiều Tăng sĩ trong chùa đã thoát ly theo kháng chiến và nhiều vị đã hy sinh.
Biết cơ duyên hoằng hóa đã đến hồi viên mãn, Ngài để lại lời phú chúc hậu sự. Khuya ngày 3 tháng 3 năm Giáp Thìn (24-4-1964) Ngài nhẹ nhàng viên tịch.
Thọ 74 tuổi đời, 50 tuổi đạo (hưởng được 10 hạ lạp). Tháp Ngài được tôn trí trong khuôn viên chùa Giác Lâm.
Tham khảo
- Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, TT. Thích Đồng Bổn, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995