Lương Định Của (1920 -1975)

Lương Định Của (1920 -1975)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Hiện nay, bà con nông dân và cán bộ khoa học nước ta vẫn nhắc đến những cái tên như: giống lúa ông Của, giống dưa không hạt của ông Của, giống cà chua ông Của, giống khoai lang ông Của với tất cả sự trìu mến thân thương. Vậy ông Của là ai? Đó chính là bác sĩ nông học Lương Định Của, người đã có nhiều công trình nghiên cứu cải tạo giống cây trồng, góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp của nước ta tiến lên một bước mới.

Quê quán, gia đình và con đường học vấn

Ông sinh ngày 16/8/1920 tại xã Đại Ngãi, huyện Long Phú (Sóc Trăng) trong ngôi nhà nằm kế bên ngã ba vàm Kế Sách và rạch Mương Điều chảy qua dòng Hậu Thạnh xanh biếc. Dù thân sinh Lương An Hùng, thân mẫu Huỳnh Thị Có mất lúc ông mới 12 tuổi, nhưng ông vẫn được ăn học chu đáo. Em gái của ông là bà Lương Thị Bạch Liên nói:

Dòng họ tôi vốn có truyền thống là ăn ở quây quần với nhau, trông nom đùm bọc lẫn nhau. Người lớn nhất trong dòng họ quản lý tài sản chung của gia đình. Vì vậy, khi ba má chúng tôi mất sớm, ông bác tôi có trách nhiệm cung cấp tiền cho các cháu ăn học.

Thuở nhỏ ông học ở trường dòng Tabert, sau khi thi đậu Sơ đẳng yếu lược thì lên Sài Gòn cũng theo học trường Tabert tại đây, và đậu tú tài toàn phần năm 1937.

Mời bảy tuổi, ông sang Hồng Kông thi vào Đại học Y khoa đậu thứ hạng 2. Học hết năm thứ ba, ông sang Thượng Hải học Đại học Kinh tế. Năm 1941 vì tình hình chiến tranh đang xảy ra nên việc học của ông phải gián đoạn. Hai năm sau, 1943, ông sang Nhật thi vào khoa sinh vật thực nghiệm (trường Đại học quốc lập Kyushu) và do đạt điểm cao nhất nên được nhận ngay vào học năm thứ ba. Năm 1945, tốt nghiệp đại học, ông lập gia đình với cô sinh viên Đại học nữ công là Nobuko Nakamura. Sau đó vợ chồng ông lên Tokyo. Ông theo học khoa di truyền chọn giống và năm 1951 tốt nghiệp bác sĩ Nông học. Điều lạ lùng cho sức học của Lương Định Của là kể từ thời Minh Trị Thiên Hoàng (Nhật hoàng Mutsu Hito) ông là người thứ 96 đạt học vị này của nước Nhật. Do đó, sau khi tốt nghiệp ông được công nhận là giáo thụ của trường đại học Tokyo. Dù có đủ địa vị, danh vọng, vợ đẹp con ngoan nhưng lòng ông vẫn luôn hướng về Tổ quốc.

Trở về nước và đi theo cách mạng

Người tác động ông hướng về cách mạng, về cụ Hồ là giáo sư bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Năm 1952, giáo sư Đặng Văn Ngữ về nước qua con đường Bangkok (Thái Lan), còn vợ chồng ông về qua con đường Hồng Kông. Khi vừa đến Sài Gòn thì chính quyền thân Pháp mời ông ra làm việc. Viện có chưa nắm bắt được tình hình thực tế trong nước nên ông chỉ nhận làm hợp đồng ở Bộ Canh nông. Vợ ông nhớ lại:

Từ ngày về Sài Gòn đến năm 1954 là những năm đầy ưu tư của vợ chồng tôi. Sau đó, nhà tôi bắt được liên lạc với cơ sở cách mạng.

Tổ chức đã bí mật đưa gia đình ông về Cần Thơ rồi xuống Phụng Hiệp – nơi đây có trụ sở của Ủy ban liên hiệp đình chiến – do ông Phạm Hùng phụ trách. Từ đó gia đình ông tập kết ra Bắc. Vợ ông được phân công biên tập và phát thanh tiếng Nhật trên Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Sự nghiệp của Lương Định Của bắt đầu từ những năm tháng gian khổ này.

Ra Bắc, 1955 ông công tác ở Tổ lúa trại Quang Trung (thuộc Viện khảo cứu nông lâm). Trớ trêu thay, ông lại dưới quyền của trưởng phòng chỉ mới là cán bộ… trung cấp! Dù vậy, vốn tính khiêm tốn, ít nói, ông lặng lẽ chấp hành sự chỉ định của cấp trên. Năm 1956, trường Đại học Nông lâm được thành lập và khai giảng khóa I, ông được điều về trường làm phó hiệu trưởng phụ trách khoa học kỹ thuật. Ông đã để nhiều kỷ niệm ở ngôi trường này. Có lần, một anh công nhân vi phạm nội quy công tác, ông gặp, giải thích cho anh ta rõ những tai hại đã gây ra và thi hành kỷ luật ngay! Anh này thấm thía và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm của mình thì ngay cuối năm đó ông ký quyết định tăng lương. Việc làm này đã gây phản ứng của cấp trên:

Anh ta vừa mới bị kỷ luật nhưng nay sao lại tăng lương? Anh định đùa với kỷ cương đấy à?

Ông nhỏ nhẹ trả lời đầy thuyết phục:

Tôi kỷ luật là để anh ấy không mắc sai lầm lần nữa và cũng để răn người khác, chứ không phải để trù dập ai cả. Nay anh ta đã tiến bộ, công tác tốt, đáng bậc lương mới, tôi phải tăng lương là hợp tình hợp lý vậy.

Chủ trương cải tạo đồng ruộng và kỹ thuật thâm canh

Từ năm 1962 đến đầu năm 1967, ông được phân công làm phó Viện trưởng Viện khoa học nông nghiệp. Nhưng ông xác định chỗ ngồi của mình không phải là bàn giấy trong Viện mà chính là đồng ruộng của bà con nông dân. Đây cũng là thời gian giặc Mỹ bắt đầu ném bom bắn phá miền Bắc. Có một lần ông cùng giáo sư Trương Công Tín đi công tác từ Hà Nội và Thanh Hóa, suốt đoạn đường xe lửa, nhìn qua cửa sổ, ông nói:

Đồng ruộng không bờ vùng bờ thửa, ruộng đồng như thế này làm sao thâm canh, tăng năng suất, tăng vụ? Cái khó lớn nhất là ở chỗ này, chứ chưa phải là làm ra cây lúa lai tốt hoặc nghiên cứu công thức bón phân đâu!

Khi đến huyện ủy Thọ Xuân, ông đã trình bày lợi ích của việc bờ vùng, bờ thửa. Từ đó, khắp huyện đã mọc lên những câu khẩu hiệu:

Ruộng không bờ thửa, bờ vùng
Khác gì đổ nước vào thùng lủng trôn

Ngày nay có ai đứng trước cánh đồng với những thửa ruộng vuông vắn, cấy thẳng hàng, lúa nặng bông… hoặc đạp xe ung dung phóng qua những cánh đồng cò bay thẳng cánh, trên những bờ vùng, bờ thửa vạch ngang dọc như bàn cờ thì đừng quên người quy hoạch xây dựng ruộng đồng kiểu mới ở nước ta là Lương Định Của. Chính ông đã khẳng định:

Trong kỹ thuật trồng lúa nước, bờ vùng kiên cố, bờ thửa thích đáng, mương tưới, mương tiêu hợp lý là điều kiện tối thiểu để thực hiện thâm canh, tăng năng suất, bảo vệ và cải tạo đất. Đó cũng là phương tiện cơ bản để lưu thông, vận chuyển phân bón ra đồng và đưa sản phẩm nông nghiệp về thôn xóm.

Chính ông đã chứng minh qua thực tiễn rằng:

Để đạt hơn 5 tấn thóc một hécta cả năm trên diện tích rộng trong một thời gian ngắn cần nắm vững nhân tố đồng đều trong sản xuất nông nghiệp. Đó là sự đồng đều của: thóc giống, ruộng mạ, ruộng cầy, kỹ thuật cấp, chăm bón.

Trên báo Nhân Dân số ra ngày 11/12/1966 ông đã công bố những luận điểm của mình. Và ông cũng là người đưa ra kỹ thuật cấy để cây lúa được thẳng hàng và nhanh gấp nhiều lần trước đây. Có lần ông Phạm Hùng cùng Lương Định Của đi tìm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp. Nhìn thợ cấy, ông Phạm Hùng hỏi vui:

Các cô cấy theo kiểu nào mà ngửa tay, thẳng hàng đẹp thế?

Các thôn nữ không biết đó là quan chức đi khảo sát tình hình và cũng không biết trong đó có Lương Định Của cũng đùa lại:

Các chú cứ đứng trên bờ thì bao giờ biết cấy được? Cứ lội xuống bùn thì em sẽ bày cho cách cấy của ông Của!

Thế là ông Của cũng vui tính không kém, liền xắn quần bỏ dép xuống ruộng thoăn thoắt cùng các cô cấy lúa. Những động tác ngửa tay của ông cấy lúa vừa thẳng hàng vừa nhanh khiến các cô phục lăn:

Ôi! Chú này đáng là “đồng nghiệp” của ông Của rồi đấy!

Kỹ thuật đồng đều trong động tác cấy của ông đã được ghi nhận: cấy ngửa tay để cây lúa không bị ngập quá sâu xuống bùn là một áp dụng sáng tạo (báo Nhân Dân số ra ngày 29/8/1985).

Thành tựu nghiên cứu giống lúa

Đóng góp lớn nhất của Lương Định Của cho nền nông nghiệp nước nhà là ông đã “đẻ” ra giống lúa lai tạo đầu tiên: “giống lúa nông nghiệp I”. Giống lúa này được tạo ra bằng cách lai giữa giống Ba Thắc (Nam bộ) với giống Bun-kô (Nhật Bản). Dựa vào đặc tính của hai giống lúa này, ông đã áp dụng thành công tập giao, giữ lại và phát huy được các đặc tính tốt, loại trừ đặc tính xấu từng bước tạo thành công giống lúa mới: ngắn ngày, thu hoạch nhanh, cứng cây, bông to, nhiều hạt, năng suất cao, phẩm chất tương đối ngon cơm. Hội đồng khoa học Bộ nông nghiệp đã chính thức công nhận và cho phát triển giống lúa Nông nghiệp 1 tại nhiều nơi. Năng suất đạt trên 3 tấn/hecta góp phần đẩy mạnh luân canh, luân vụ. Ngoài ra ông còn đưa ra giống lúa mùa muộn và giống lúa chiêm mà ông đặt tên là Đoàn Kết và Thắng Lợi. Nhưng hai giống lúa này không thành công.

Không nản chí, ông tiếp tục lao vào nghiên cứu thử nghiệm bằng cách lai giống giữa Đoàn Kết và Sài Đường – để cho ra giống chiêm 314. Giống lúa này chịu được nước sâu, năng suất từ 2 tấn rưỡi đến 3 tấn/hecta được đưa vào sản xuất từ năm 1968 và hiện nay vẫn còn tồn tại ở miền Bắc. Thời gian từ năm 1968 trở đi, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc rất ác liệt, nhiều địa phương phải cấy hái vào ban đêm tận dụng ánh pháo sáng của giặc, việc nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn. Với những đóng góp rực rỡ như trên, Lương Định Của có quyền nghỉ ngơi và “gặm nhấm” vinh quang của mình cho đến cuối đời mà không ai phiền trách được cả. Thế nhưng ông vẫn lao vào công việc sáng tạo và nghiên cứu.

Vào những năm cuối của thập niên 60, từ giống lúa IR8 (hay còn gọi là Nông nghiệp 8) ông đã phân lập thành 1.000 dòng và chọn ra dòng 388. Dòng lúa 388 đã được trồng rộng rãi, năng suất bình quân từ 4 đến 6 tấn/hecta – góp phần tăng sản lượng lúa hàng triệu tấn/năm. Rồi ông tiếp tục thành công rực rỡ với giống lúa xuân sớm chịu được rét cắt da, cắt thịt ở miền Bắc mà ông đặt tên là Nông nghiệp 75-1 với năng suất từ 3 tấn rưỡi đến 4 tấn rưỡi/hecta, và được chính thức công nhận là giống lúa nhà nước theo quy định hiện hành.

Nghiên cứu và lai tạo các giống cây trồng khác

Không những là nhà chọn giống, lai giống lúa đầu tiên của nước ta, Lương Định Của còn là người góp phần không nhỏ trong việc lựa giống, lai tạo giống cho nhiều loại cây trồng nữa. Ngoài việc đưa ra giống dưa hấu không hạt, cà chua, khoai lang, dưa lê v.v… ông còn áp dụng cả tri thức uyên bác về tế bào học vào việc xử lý đa bội thể với rau muống. Ở miền Bắc rau muống nhỏ bé như ngón tay, ông đã lai tạo ra loại rau muống tứ bội thể có cọng to, lá to! Cuối năm 1968, trong Đại hội anh hùng lao động và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước ông được tuyên dương là “được quần chúng nông thôn tín nhiệm”.

Từ giữa năm 1967 đến ngày 28/12/1975 (ngày mất của ông) Lương Định Của được bầu làm Viện trưởng Viện cây lương thực, thực phẩm. Thời gian này ông đã nhận được bằng khen của Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông lâm rồi danh hiệu Chiến sĩ thi đua, huân chương Lao động hạng nhất, hạng nhì, Anh hùng lao động v.v…

Đây không phải chỉ là những lời tuyên dương, ca ngợi mà nó còn là kỷ niệm của những ngày sục chân xuống bùn, đổ mồ hôi trên đồng ruộng cùng bà con nông dân. Ngoài những cống hiến cho khoa học, ông còn là người có công xây dựng nền móng cho trường Đại học Nông lâm đầu tiên ở nước ta, và cũng là người đào tạo nên những kỹ sư đầu tiên.

Đánh giá 

Nghĩ về ông, xin trích nhận xét của giáo sư Vũ Tuyên Hoàng – báo Nhân Dân số 29/8/1985 – đã viết bằng giọng văn thủ thỉ, tâm tình và chứa chan tình cảm:

Bác Của – tiếng gọi yêu mến của mọi người đối với ông, đã từ tấm lòng tha thiết yêu nước mà trở về với cách mạng, với nhân dân lao động trên đồng ruộng. Ông đã đem hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp khoa học nông nghiệp vào những buổi đầu, là một trong những người đặt nền móng cho Khoa học – Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam phát triển như ngày nay. Danh hiệu Anh hùng lao động mà ông được Đảng và Nhà nước phong vào năm 1966 đã ghi nhận công lao đóng góp của ông.

Tính ông ít nói, thường suy tư trầm lặng, ưa cụ thể và xác thực trong nghiên cứu khoa học. Ông hướng dẫn những người công tác bằng những ý kiến thiết thực, đơn giản, có thể áp dụng trong thực tế. Hình ảnh cao gầy của bác Của, xắn quần lội ruộng, không quản nắng mưa, thường được mọi người nhắc đến. Ông và gia đình sống cuộc sống thanh bạch như nhiều người. Ông đã từng đi chỉ đạo sản xuất ở nhiều nơi: tỉnh Thanh Hóa là nơi ông dừng lại lâu nhất, đưa thử nghiệm giống lúa chiêm Trăng – cái tên đẹp một thời. Ở địa phương, bác Của đi thăm sản xuất ở các hợp tác xã bằng chiếc xe đạp đã cũ, qua nhiều quãng đường dài hàng mấy chục cây số lầy lội….

Những năm cuối đời 

Năm 1975, tiếng súng của quân giải phóng thắng trận giòn giã ở chiến trường miền Nam đã mở ra trong tâm tưởng ông biết bao hy vọng, ông hăm hở trở về quê hương Nam bộ để tiếp tục phục vụ bằng chuyên môn của mình. Ông dự định nghiên cứu phục hồi sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, dự định ấy chưa kịp thực hiện thì ông đột ngột qua đời. Sau một ngày ông mất, Chủ tịch nước đã ký quyết định (29/12/1975) truy tặng ông Huân chương lao động hạng nhất, rồi đúng 16 năm sau ở Sóc Trăng có con đường và trường học cấp II, III vinh dự mang tên Lương Định Của.

Còn nhớ, khi ông được Bác Hồ ký bằng Anh hùng lao động ngày 1/1/1967 (sổ vàng số 104/SV) thì giáo sư Phạm Thiều đã tặng ông bốn câu thơ trong bài Tân lang thụ của chí sĩ yêu nước Nguyễn Thông:

Trực cán đinh đinh bất thụ điều,
Dao phong bổng nhật tưởng cô liêu.
Cùng phong tự hữu lăng sương tiết,
Thiên nhượng hàn tùng tác hậu điêu.

Dịch:

Như thân cây thẳng tắp, không đeo theo cành non
Nghĩ đến dáng dấp cô độc gió lay bưng mặt trời
Suốt mùa đông tự có tiết cứng cao ngạo với sương giá
Chỉ chịu kém cây tùng chịu rét tàn tạ sau cùng.

Vâng, có thể lấy hình ảnh Tân lang thụ (cây cau) để ví với bác sĩ nông học Lương Định Của. Hiện nay, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã lập giải thưởng mang tên ông dành trao tặng những thanh niên nông thôn tuổi từ 18 đến 35 làm việc trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (nông, lâm, ngư, diêm nghiệp); đồng thời có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và xây dựng nông thôn mới, có phẩm chất đạo đức tốt, tích cực tham gia các hoạt động xã hội… được tổ chức Đoàn hoặc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giới thiệu.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Lương Định Của

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)