Cuộc đời
Bóng trăng tròn treo lơ lửng trên vòm tre. Cậu Dóng nằm đong đưa trên võng, nhìn lên trời xa tít, cứ nghĩ đó là chiếc mâm tròn mà ai đã tinh nghịch ném lên đó. Bất giác, cậu cất lên tiếng cười hồn nhiên. Trong khi đó, bà mẹ đôn hậu vẫn quạt cho con bằng chiếc quạt mo cau và tiếp tục kể nốt câu chuyện cổ tích về Thánh Gióng. Những câu chuyện thần thoại này còn in mãi trong trí nhớ, Dóng thích lắm và hầu như đêm nào bà mẹ cũng kể cho cậu nghe… Và sau này, khi lớn lên lao vào trường văn trận bút, cậu sẽ trở thành người kể chuyện cổ tích hay nhất Việt Nam – bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu có giá trị lâu dài. Cậu bé Gióng ấy chính là học giả Nguyễn Đổng Chi, quê ở làng Đông Thượng, xã Ích Hậu, huyện Can Lộc (Hà Tĩnh)… Nhân vật mà sau này giới nghiên cứu học thuật nước nhà đã tôn vinh là “người miệt mài tìm kiếm các giá trị văn hóa dân tộc”.
Học giả Nguyễn Đổng Chi sinh ngày 6/1/1915 tại Phan Thiết, dù quê quán ở Hà Tĩnh. Vì bấy giờ cụ Nguyễn Hiệt Chi (1870 – 1935), hiệu Mộng Thương, đậu Đầu xứ, có tham gia phong trào Duy Tân, bị giặc Pháp khủng bố nên phải bỏ xứ vào Phan Thiết. Tại đây cụ cùng các đồng chí thành lập công ty Liên Thành, trường Dục Thanh để kinh doanh và giáo dục theo lối mới. Sau đó, cụ bị giặc Pháp bắt giam một thời gian. Tri thức và khí phách của cụ, chắc chắn có ảnh hưởng đến con trai. Ngoài ra, Nguyễn Đổng Chi còn tiếp thu được tinh thần ham học hỏi của mẹ là cụ Nguyễn Thị Diên (1875-1948) – một người thuộc dòng dõi Thám hoa Nguyễn Văn Giai. Từ năm 1906, cụ Nguyễn Hiệt Chi thi đậu Tú tài, chuyển sang ngạch giáo dục và năm 1918 chuyển ra trường Quốc học Huế, rồi ra Vinh.
Sự nghiệp
Đi theo những bước chân của cha nên ngay từ nhỏ, Nguyễn Đổng Chi đã được cha dạy cho chữ Hán – Nôm, đến năm tám tuổi thì bắt đầu học trường tiểu học ở Vinh, Đồng Hới, Hà Tĩnh. Sau đó, Nguyễn Đổng Chi thi đậu bằng tiểu học Pháp- Việt ở Đồng Hới. Giữa lúc giao thời này, thế hệ trẻ đa phần chạy theo tiếng Pháp thì Nguyễn Đổng Chi đã được trang bị thêm chữ Hán – Nôm cho dù bấy giờ “Ông nghè, ông tú cũng nằm co” (Tú Xương). Chính “chữ của Thánh hiền” đã được thân phụ dạy trong nhiều năm, sau này sẽ là công cụ cần thiết để Nguyễn Đổng Chi tìm về cội nguồn văn hóa nước nhà. Năm 16 tuổi, Nguyễn Đổng Chi được cha cho theo học trường trung học Lê Văn ở Vinh, trọ học tại nhà của cụ Đoàn Danh Trì – một nho sĩ nổi tiếng ở Hà Tĩnh. Điều khó lý giải đối với chúng ta, là ở độ tuổi “ăn chưa no lo chưa tới”, nhưng ông đã có chí hướng hơn người. Đó là lúc ông bắt tay vào viết bộ sách “Kho sách bạn trẻ” nhiều tập như: Chí quả quyết, Một nhà hợp tan, Tìm ra châu Mỹ, Tài trẻ nước Nam, Vườn xuân bạn trẻ… Những sách này đều do Mộng Thương thư trai xuất bản. Chúng ta có cảm giác rằng ở Nguyễn Đổng Chi khi có tuổi thơ, nhưng thật ra, những tháng năm này, ông đã sống chan hòa như biết bao bạn bè cùng trang lứa với mình.
Ông Trần Xuân Phác, bạn học với Nguyễn Đổng Chi trong thời gian trọ học ở nhà cụ Đoàn Danh Trì có kể lại những chi tiết thú vị: “Một gia đình gồm chừng ấy nhân khẩu (11 người) mà cuộc sống hằng ngày vẫn giữ được ổn định vui vẻ, trong không khí thương yêu và tôn trọng lẫn nhau cũng không phải dễ. Nguyên nhân có nhiều, nhưng trong nhóm anh em ở trọ, cậu Gióng (Nguyễn Đổng Chi) đóng vai trò chủ chốt. Tính tình hơi cục nhưng hiền, cậu được mọi người nể và quý mến. Mới ở tuổi hai mươi, cậu đã tỏ ra là người biết cách gần gũi người khác, và hiểu biết khá rộng về mặt xã hội… Cứ mỗi khi đi làm về, có gì hay là cậu kể cho anh em và cả gia đình cùng nghe, kể cả trong lúc ăn cơm buổi trưa, buổi tối. Còn những ngày chủ nhật hay ngày lễ thì tất cả chúng tôi rủ nhau ra dưới vườn ổi cạnh bờ ao ở góc vườn, rồi đá cầu. Khi đã mỏi rồi thì cả bọn tụ tập lại dưới gốc cây, nghe cậu Gióng kể chuyện tiếu lâm hoặc kể vè ghẹo nhau làm chúng tôi cười đến vỡ bụng”; hoặc “Cứ mỗi chiều sau khi đi làm hay đi học về, chúng tôi rủ nhau ra bờ ao, xem cậu Gióng tập đánh võ. Rồi cậu rủ chúng tôi cùng tập và thách ai đánh trúng cậu là thắng, còn người nào bị gạt ra là thua”. Rõ ràng, những trò chơi của tuổi thơ vẫn không xa lạ với Nguyễn Đổng Chi, nhưng chí hướng ham hỏi học, nghiên cứu đã hình thành ở tháng năm này.
Đang học hành chăm chỉ, Nguyễn Đổng Chi cao hứng theo anh là Nguyễn Kinh Chi – y sĩ Đông Dương lên Kom Tum sưu tầm tài liệu và nghiên cứu các dân tộc ít người Bahnar, Djarai. Kết quả sau chuyến đi này là ông cùng với anh trai mình hoàn thành tác phẩm Mọi Kum Tom và xuất bản vào năm 1937. Một đàn anh đi trước là Trần Văn Giáp – bấy giờ ông Giáp đang phụ trách kho sách Hán Nôm của trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) – đã khen ngợi quyển sách này trong Khai Trí Tiến Đức tập san (số 1) là: “Cái công phu của tác giả, cái giá trị của quyển sách: thật là một sử học rất quý cho sử học Việt Nam ta”. Trở lại Vinh, ông học tiếp hệ trung học ở trường Lê Văn và bắt đầu cộng tác với các báo như Bạn dân (Vinh), Tiểu thuyết thứ hai (Hà Nội), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn)… cũng như hào hứng sáng tác văn học. Với bút danh Nguyễn Trần Ai, ông đã viết và xuất bản tập truyện Yêu đời – được báo Tiểu thuyết thứ hai trao giải thưởng. Điều này chứng tỏ, cách viết của ông đã được dư luận chú ý và đánh giá cao. Nhưng về sau, Nguyễn Đổng Chi không đi theo con đường sáng tác.
Sau khi thi đậu Thành chung, năm 1936, ông trở về quê phân loại lại kho sách của gia đình để lập Mộng Thương thư trai – mở rộng cửa cho người dân trong làng cùng đến đọc để nâng cao tri thức. Ngôi nhà này, mặt cửa chính trông ra vườn và hồ sen, ông cho làm một vòm mái hiên, trên có đắp hình một cuốn sách dang mở ra, có ghi câu của cụ Nguyễn Hiệt Chi: “Học tập làm lụng ta ngó lên, ăn mặc ta nhìn xuống”, và hai bên có một thanh kiếm và một quản bút giao nhau. Có thể nói, kho sách này đã giúp ích không ít cho Nguyễn Đổng Chi hình thành những tri thức cần thiết trong nghiên cứu văn hóa. Giữa lúc ấy, tình hình chính trị bấy giờ đang mở ra những triển vọng mới. Đó là sự ra đời của Mặt trận Bình dân do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Chịu ảnh hưởng tiến bộ của phong trào này, Nguyễn Đổng Chi đã viết tác phẩm phóng sự nổi tiếng Túp lều nát – tố cáo chính sách “khai hóa” của thực dân Pháp. Chính vì tác phẩm này mà bọn mật thám đã “mời” ông lên để chất vấn! Trước đây, chú ruột của ông là Nguyễn Hàng Chi – từng lãnh đạo nhân dân trong huyện tham gia cuộc biểu tình chống sưu thuế và bị giặc Pháp tử hình năm 1908! Do đó, chúng có nhắc lại chuyện này để hăm dọa, ông khẳng khái đáp: – Nếu muốn lãnh án tử hình thì tôi đã làm cách khác chứ không viết sách làm gì. Tôi chỉ theo gương cụ Huỳnh trên báo Tiếng Dân mà Chính phủ và Nam triều đang cho phát hành công khai trên khắp xứ Trung kỳ. Cụ Huỳnh nào có muốn đi nếm cơm tù Côn Đảo một lần nữa đâu! Trước lập luận này, chúng không bắt bẻ gì được đành thả ông về.
Có thể nói cùng với những trang viết hiện thực phê phán trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng)… Túp lều nát đã góp thêm một tiếng nói đanh thép nhằm tố cáo và phơi bày đời sống xã hội nghèo đói của nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc. Nếu trước đây, cụ Nguyễn Hiệt Chi tham gia vào phong trào Duy Tân cùng các sĩ phu hoạt động yêu nước thì bây giờ, Nguyễn Đổng Chi cũng tham gia vào Đoàn Thanh niên dân chủ phản đế ở Hà Tĩnh. Những hoạt động chính trị, ít nhiều đã giúp cho ông có được nhân sinh quan đúng đắn khi nhìn về di sản văn hóa nước nhà. Thật vậy, khi mà trong các nhà trường thực dân giảng dạy một cách xuyên tạc “Tổ tiên ta là người Gaulois”, thì ông đánh thức lòng tự hào dân tộc qua tác phẩm Việt Nam cổ văn học sử nổi tiếng. Tác phẩm này, Nguyễn Đổng Chi hoàn thành vào năm ông chỉ mới 25 tuổi và in vào năm 27 tuổi! Nó được xuất bản cùng thời điểm với Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh – Hoài Chân), Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy Anh), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan)… và được xem như những tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc, mẫu mực và có giá trị lâu bền.
Với Việt Nam cổ văn học sử, Trần Văn Giáp đề tựa và Huỳnh Thúc Kháng viết lời bạt. Điều gì đã giúp Nguyễn Đổng Chi hoàn thành tác phẩm này vào lúc còn rất trẻ? Như ta đã biết, trước đây, học chữ Hán với thân phụ, Nguyễn Đổng Chi chỉ mới đủ kiến thức để đọc, để viết chứ chưa đủ sức nghiên cứu sâu rộng về di sản Hán Nôm phong phú và đồ sộ… Để khắc phục điều này, ông quyết định học thêm chữ Hán với ông chú họ là Nguyễn Lợi, cho dù bấy giờ ông đã lập gia đình với bà Đoàn Thị Tịnh – con gái của cụ Đoàn Danh Trì, mà ông quen biết lúc còn trọ học. Nếu trước đây, nhà bác học Phan Huy Chú (1782 – 1840) khi biên soạn Lịch triều hiến chương loại chí phải bỏ nhà trốn vào núi, tránh cám dỗ chung quanh và khi bạn bè tìm đến rủ du hí, vui chơi thì tự lấy nghệ bôi vào mặt, tay rồi đun nước thơm như đang sắc thuốc để cáo bệnh thì nay, Nguyễn Đổng Chi… từ chối bằng cách cạo đầu trọc! Ông nói: “Có vậy mình mới không dám mò đi đâu xa và mới yên tâm ngồi nhà mà học”. Nỗ lực đáng khâm phục này đã giúp ông hoàn thành Việt Nam cổ văn học sử và tiếp tục nhiều công trình khác. Giá trị và công lao đóng góp của Nguyễn Đổng Chi qua tác phẩm Việt Nam cổ văn học sử là ở chỗ nào? Nhà thư mục học Trần Văn Giáp đã nhận xét xác đáng: “Sách này chép riêng về lịch sử – văn chương cổ đại Việt Nam, từ đời thuộc Hán đến cuối đời Nhuận Hồ. Cái tên sách Việt Nam cổ văn học sử đủ tỏ cho người ta biết ông Nguyễn Đổng Chi là người đạt kiến, trông rõ hơn những người trước ông. Sách này tuy chưa dám đoán định là toàn bích, tuy phải không thể xuy mao cầu tỳ được nhưng làm theo phương pháp mới, rất công phu, tra cứu kỹ càng, sưu tập cẩn thận. Mỗi điển cố có giải thích phân minh; mỗi bài thơ có chua rõ xuất xứ và dịch ra Việt văn. Không những thế, đoạn nào hồ nghi, chỗ nào mập mờ cũng đều nói rõ. Tóm lại, làm sách không những là có thể tài, có phán đoán, có phương pháp, khiến người xem có thể thâu thái được tư tưởng, học thuật của cổ nhân mà lại giúp ích cho người hữu tâm đến văn học Việt Nam, nhờ đó mà tra cứu trông rộng thêm ra”.
Sức viết của Nguyễn Đổng Chi thời gian này thật dữ dội. Sau Việt Nam cổ văn học sử, bên cạnh các hoạt động yêu nước, ông bắt tay vào viết tác phẩm khảo cứu về Đào Duy Từ – được giải thưởng khuyến khích của Học hội Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn và tiếp tục xuất bản Hát dặm Nghệ Tĩnh, dịch chung với thầy dạy học Nguyễn Lợi tác phẩm Thối thực ký văn… Tình hình chính trị -xã hội đang có những chuyến biến tích cực với các hoạt động sôi nổi của phong trào Việt Minh. Không phải là người chỉ biết “Đóng cửa phòng văn hì hục viết” (Chế Lan Viên), Nguyễn Đổng Chi hào hứng cùng các đồng chí của mình như Nguyễn Chung Anh, Đặng Giá, Nguyễn Hưng Chi, Lê Viết Quân… thành lập Đội khởi nghĩa vũ trang theo chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Để phục vụ tích cực cho công tác này, ông đã dịch Chiến thuật du kích, thực hiện báo Kháng địch phổ biến rộng rãi trong công chúng. Sau ngày Độc lập, ông lập Kho sách bạn dân để in các sách như Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội… để mở mang kiến thức cho dân, chuẩn bị tinh thần tổng tuyển cử. Có thể ghi nhận, đây là những năm tháng thanh xuân mà ông đã sống hết mình với nhiều hoạt động sôi nổi nhất. Đúng như sau này, ở tuổi 70, ông có viết:
Lập “Tập phúc phường”khiến chúng phải xôn xao
Chân non Hồng nhóm họp dăm bảy bạn anh hào
Dẫn quần chúng dám tấn công vào Can Lộc
Cờ ứng nghĩa đầu tiên sao vàng tung bay sáng rực
Tiếng reo hò hả nỗi nhục non sông
Khi Tự vệ Thủ đô, khi Đồn điền Bà Triệu, khi Kinh tài, khi Liên việt, khi lại về giảng dạy lớp nông thôn…
Công việc linh tinh buổi cách mạng dập dồn
Đem nhiệt huyết cũng lo tròn nhiệm vụ.
Do đó, tháng 8/1947, ông được kết nạp vào Đảng Lao Động Việt Nam. Thế nhưng, ông trời cũng trớ trêu, không ông thênh thang bước trên con đường hoạn lộ. Vì đến năm 1954, do sai lầm trong cải cách ruộng đất, gia đình ông bị quy nhầm là địa chủ nên ông bị đưa ra khỏi Đảng. Nhưng đó là chuyện sau này.
Trong suốt chín năm chống Pháp, ông vẫn tiếp tục viết và có nhiều đóng góp trên cương vị công tác khi tổ chức cách mạng giao phó. Nếu một người tâm địa hẹp hòi khi gặp cảnh “Đùng một cái giữa đất bằng sóng gió” dễ dàng oán trách cách mạng – mà thật ra sự oán trách cũng cần được chia sẻ, thông cảm. Nhưng không, ở Nguyễn Đổng Chi trước sau vẫn son sắt một lòng với niềm tin, lý tưởng mà từ đời cha mình – cụ Nguyễn Hiệt Chi đã chọn. Và cuối cùng, cách mạng cũng đặt ông vào đúng vị trí mà ông đã có. Con trai của ông là nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi có kể lại những năm tháng này với nhiều chi tiết cảm động: “Kể từ ngày về Ban Văn sử địa (1953), con đường khoa học trong 30 năm của bố chúng tôi đã đi cho đến tận lúc lìa đời, tuy không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhưng đã có được không ít những bàn tay bạn bè đưa ra đúng lúc, nên nói chung đã không đến nỗi nào. Trong tâm trí con cái chúng tôi bao giờ cũng đinh ninh hình ảnh những tấm lòng quý hóa đó… Duy có một người mà thân phụ chúng tôi từng căn dặn một lúc nào đấy phải nói ra trước mọi người cho sòng phẳng. Người đó là Giáo sư Trần Huy Liệu, một nhân cách đàn anh, tiêu biểu cho hàng ngũ lãnh đạo khoa học ưu tú của nước ta. Nhà sử học Trần Huy Liệu – Trưởng ban Văn sử địa trung ương đã nhiệt thành giúp đỡ thân phụ chúng tôi vượt qua mọi khó khăn trong những năm 1954-1955, lúc ông mới ra công tác ở Ban Văn sử địa. Sau này, ông còn có một nghĩa cử mà bố chúng tôi đã trân trọng ghi nhớ. Bấy giờ là vào năm 1957, mẹ và các em tôi được chuyển ra Hà Nội sống cùng bố tôi. Trước đó, bố tôi sống tập thể ở ngôi nhà 18 Hàn Thuyên. Nhưng mẹ tôi với một nách 4 con còn ở tuổi học sinh thì làm thế nào chung sống trên cái giường tập thể được! Vì vậy sau khi suy nghĩ, bố chúng tôi quyết định rời khỏi chỗ ở 18 Hàn Thuyên, đem gia đình về ở ngôi nhà lá cạnh đình An Cư, xóm Thanh Nhàn, là nơi vài anh em sinh viên chúng tôi đang trọ nhờ ở đấy. Vợ chồng bác công nhân chủ nhà tên là Hậu rất tốt bụng, cho cả gia đình cùng ở, chỉ khổ nỗi căn nhà quá tối tăm và dột nát, ban ngày vẫn sinh hoạt trong bóng tối và những đêm mưa gió cứ phải giăng từng tấm ni lông lên đình màn. Chỉ ít lâu sau ông Trần Huy Liệu đã biết chuyện này. Ông rất lấy làm ái ngại. Nhưng ông cũng không làm gì được hơn, vì thuở ấy đâu đã có chủ trương cho xây nhà tập thể cho cán bộ như sau này. Thế rồi một hôm, ông cho mời bố tôi đến phòng ông ở 16 Phan Huy Chú. Sau khi trò chuyện một lúc ông bỗng rút một cuốn sách mỏng trong tủ sách của ông đưa ra cho bố tôi: đó là cuốn Túp lều nát do bố tôi viết năm 1937 mà Trần Huy Liệu cất giữ đã 20 năm. Ông đưa sách cho bố tôi và chỉ nói một câu rất nhẹ nhàng: “Xin tặng lại anh “túp lều” quý này để anh tạm yên lòng với túp lều dột nát mà anh và gia đình đang phải sống, và chắc làcòn sống lâu ở đó”. Chỉ một lời nói thế thôi, đối với người trí thức đã là cả một sự tri ngộ. Gia đình chúng tôi đã phải sống ở cái nơi tăm tối ẩm mốc đó đến… 9 năm, cho đến ngày sơ tán đánh Mỹ, mà không một lời kêu ca phàn nàn”. Biết được những chi tiết rất đời thường này, chúng ta thêm yêu quý tấm lòng của nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi. Vì cũng như những tri thức chân chính khác, ông đãvượt lên những khó khăn thường nhật để hoàn thành những công trình có giá trị lâu bền, có ích cho đời sau. Đáng lưu ý nhất là bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), ông bắt đầu viết từ năm 1956, sau khi xuất bản Lược khảo về thần thoại Việt Nam. Công trình này được công bố lần lượt trong vòng 25 năm (từ năm 1958-1982) và sau này đã tái bản nhiều lần.Trong đó, có 200 truyện cổ tích Việt Nam (chưa kể phần khảo dị), ông trình bày theo thứ tự như sau:
1. Nguồn gốc sự vật;
2. Sự tích đất Việt;
3. Sự tích các câu ví;
4. Thông minh, tài trí, sức khỏe;
5. Sự tích nông dân anh hùng;
6. Truyện phân xử;
7. truyện thần tiên, ma quỷ, phù phép;
8. Đền ơn trả oán;
9. Tình bạn, tình yêu, nghĩa vụ;
10. Truyện vui tươi dí dỏm.
Cho đến nay, vẫn chưa có một bộ sách nào kể chuyện cổ tích có thể vượt qua tầm vóc của nó. Với công trình đồ sộ này ông xứng đáng được tôn vinh là nhà cổ tích học độc đáo của Việt Nam. Chuyện cổ tích Việt Nam thì ai cũng biết, nhưng kể lại như thế nào mà từ trẻ em đến người già đều yêuthích và từ thế hệ này đến thế hệ khác cũng chấp nhận lối kể như thế thì quả là điều không dễ dàng. Thế nhưng, bằng tài năng của mình, Nguyễn Đổng Chi đã làm được điều đó và đạt đến toàn bích của sự mẫu mực. Không chỉ kể cổ tích Việt Nam, ông còn thêm phần khảo dị qua tư liệu sưu tầm thực địa, hoặc tóm tắt các dị bản để người đọc có thể so sánh, tìm ra những điểm đại đồng tiểu dị qua mỗi câu chuyện kể. Sức hấp dẫn cũng nằm ở đó và cũng là cái khó mà không phải ai cũng có thể làm được.
Trong thời gian này, Nguyễn Đổng Chi tiếp tục lao vào công việc – đúng như GSTS Nguyễn Duy Quý – Giám đốc Trung tâm KHXH và NV quốc gia – đã nhận định: “Những đóng góp của Nguyễn Đổng Chi đối với học thuật Việt Nam thật là đa dạng: có sáng tác, có nghiên cứu, có văn học sử, sử học, khảo cổ học, Hán Nôm học và nhất là Folklore học. Ở đâu, anh cũng tỏ ra nghiêm túc, thận trọng, có phát kiến, có những bước đi đầu và là những bước đi bản lĩnh, gợi mở, đầy hứa hẹn cho người đi sau muốn nối chí Anh. Có những lãnh vực chính Anh là người đạt tới đỉnh cao”. Ngoài đỉnh cao Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Lược khảo về thần thoại Việt Nam… ông còn là một trong những người đầu tiên phát hiện Di chỉ đá cũ núi Đọ nổi tiếng vào năm 1960. Có thể nói, từ năm 1955 – 1977 ở trong Ban Văn sử địa và Viện sử học Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã có nhiều đóng góp lớn. Đúng như nhà sử học Văn Tân đã nhận định: “Nói đến công tác tư liệu và phiên dịch, đóng góp của GS Nguyễn Đổng Chi cũng như của Giáo sư Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm… còn rất độc đáo là ở chỗ làm sách dẫn cho tất cả các công trình dịch thuật và chú thích đầy đủ cho các công trình nghiên cứu, biên soạn”. Và một trong những đỉnh cao mà Nguyễn Đổng Chi đã đạt được là ông đã dành nhiều tâm huyết cho việc sưu tầm, nghiên cứu về Folklore học.
Từ năm 1944, ông đã xuất bản Hát dặm Nghệ Tĩnh (tập 1) rồi đúng 22 năm sau ông cùng với Ninh Viết Giao soạn và xuất bản tập 2. Đây cũng là năm mà ông cùng với vợ khởi công soạn Văn học dân gian sưu tầm ở Ích Hậu, công trình này hoàn thành vào năm 1969 gồm 4 tập. Bên cạnh đó, ông cùng với Võ Văn Trực,Nguyễn Tất Thứ và một số người khác hoàn thành Vè Nghệ Tĩnh (hai tập). Cho đến những năm tháng cuối đời, ông chủ biên bộ sách có tầm vóc là Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh cùng với nhóm biên soạn là Vũ Ngọc Khánh, Ninh Viết Giao, Nguyễn Du Chi… Trong bộ sách này – khổ lớn 19×27, dày trên 500 trang – ông đã viết phần Dẫn luận, Tri thức dân gian, Món ăn, Kết luận và thư mục. Riêng trong phần viết về món ăn ở Nghệ Tĩnh, ông viết tuyệt hay, từng câu chữ lấp lánh tinh thần và cốt cách của người xứ Nghệ. Phải yêu quê nhà từ máu thịt thì mới có thể viết một cách thong dong, đằm thắm đến như thế. Ở đây, do khuôn khổ có hạn của một tập sách, chỉ xin trích dẫn một đoạn ngắn mà ông viết về nước chè xanh, một thức uống mà hầu hết làng quê Việt Nam nơi nào cũng có nhưng ở xứ Nghệ ra sao? “Đặc biệt là chỗ nấu lần đầu rất đặc, rất chát, gọi là chè cốt hay nước chát.
Người xứ Nghệ có câu nói cường điệu: “Khăm (cắm) đũa vào không bổ (ngã)” để chỉ đặc điểm món đồ uống của họ. Nói chung, ở đâu cũng vậy, nước chè thường dùng sau bửa ăn, như câu: “Cơm sốt, canh sốt, nước chè cốt mới nấu”, hay là vào lúc tiếp đãi bạn bè khách khứa, như câu: “Chè ngon, nước mát xin mời/ Nước non non nước nghĩa người chớ quên”. Nhưng ở xứ Nghệ không nhất thiết như vậy. Ở nông thôn người ta thường uống chè vào những buổi riêng biệt cách bữa ăn. Chưa tiến lên thành trà đạo như ở Nhật Bản, nhưng ở đây có tục uống chè ngồi đàm đạo giữa những người hàng xóm láng giềng. Họ chẳng có quy định gì chặt chẽ, nhưng cũng có ước lệ nho nhỏ: những bạn bè nghiện chè xanh ở gần nhau, mỗi lần nhà ai nấu một nồi nước chè, thường múc ra nhiều bát (lớn hơn bát ăn cơm, độ ¼ lít gọi là bát đàn hay đọi nạy) đặt lên mâm nan, rồi chủ nhà (hoặc cho vợ con) đi “ới” lên một tiếng gọi những ông bạn dăm bảy người quanh nhà, tới dự cuộc. Họ ngồi chõng hoặc đòn (ghế thấp) chuyện trò, thường là chuyện làm ăn, chuyện thời sự trong làng ngoài xã. Có khi uống lúc rãnh rỗi hoặc đêm khuya họ thường khuyến khích một người trong bọn đọc truyện Nôm hay thoại chèo đã thuộc lòng, hoặc ngâm vè hoặc kể chuyện cũ mới mua vui. Trò chuyện chán chê, đợi nước nguội mới uống. Mỗi nồi thường nấu một “rộp chè” cả cành lẫnlá. Người ta cho nấu cả cành như vậy, nước mới ngon. Mỗi người dự cuộc có thể làm được vài tuần nước cốt cho đến cạn. Đói bụng uống vào có thể say nhưng những bạn nghiền thì cho rằng có thế mới đã, thậm chí có người già còn uống nước chè thay cơm, có nghĩa là cơm chỉ cần ăn ít cũng được, miễn là được nước chè cốt hàng ngày. Rất nhiều người thừa nhận uống chè xanh làm khỏe người, ít bệnh tật. Điều đó gần đây khoa học cũng đã xác nhận.
“Sau khi cạn nồi nước chè cốt, chủ nhân lại đổ nước lã vào nấu lần thứ hai, thứ ba, họi là chè giạo, để cho những người trong nhà, nhất là trẻ em giải khát, hoặc uống ít nhiều sau bữa ăn. Những vùng quê có chè nhiều và ngon như Hương Bộc (Thạch Hà), Giăng, Minh Sơn (Thanh Chương) Gay (Anh Sơn), Hồng Yến (Can Lộc) v.v… đều nổi tiếng khắp tỉnh”. Những câu văn như thế, dù ngắn, nhưng đã cho thấy Nguyễn Đổng Chi am tường về nước chè xanh ở xứ Nghệ như thế nào, không bình luận dài dòng nhưng người đọc vẫn cảm động với tình làng nghĩa xóm qua bát nước chè xanh đặc thù của nông thôn Việt Nam nói chung.
Cuối đời
Bền bĩ làm việc ròng rã suốt một đời, không một phút xao nhãng, sau năm 1975, ông chuyển hẳn vào công tác ở Ban sử – khảo cổ Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, lại có lệnh ra Hà Nội là Quyền Viện trưởng Viện Hán Nôm. Hai công trình sáng giá của ông đã thực hiện trong thời gian này là Từ điển thư tịch Hán Nôm và chủ biên bộ Từ điển thuật ngữ văn hóa dân gian. Nhưng rồi, trái tim vị tha với khoa học đã vĩnh viễn ngừng đập vào ngày 20/12/1984 tại Hà Nội sau một tai nạn đột ngột, cho dù trong tâm trí “Hãy còn dan díu bút nghiên”.
GSTS Phạm Huy Thông là trưởng ban tang lễ đã khẳng định:
GS Nguyễn Đổng Chi là một nhà khoa học, một cán bộ tận tụy với công việc được giao. Anh ham mê tìm tòi phát hiện, với thái độ nghiêm túc trong khoa học. Anh trọng nhân cách của ngòi bút, không nói những điều mình không biết, cũng như không biết che giấu cái “không biết” của mình. Là một con người nhân hậu, một trí thức xã hội chủ nghĩa chân chính, cuộc đời và sự nghiệp của GS. Nguyễn Đổng Chi gắn bó với cách mạng, với sự nghiệp phát triểncủa khoa học xã hội nước nhà. Anh nêu một tấm gương sáng cho tất cả giới khoa học chúng ta.
Cuộc đời của nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi đã gợi cho chúng ta nhớ đến hình ảnh chuyên cần của con ong góp từng giọt mật cho đời, mà không đòi hỏi cuộc đời phải bù đắp gì cho mình; thậm chí có lúc không được hiểu đúng về ông nhưng ông vẫn vượt qua được những nhỏ nhặt tầm thường ấy. Năm 1996, Nhà nước ta trao Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I) gồm 77 nhân vật, riêng cho ngành Văn nghệ dân gian có ba nhà văn hóa nổi tiếng: Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Cao Huy Đỉnh.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ.