Nguyễn Thức Tự (1841 – 1923)

Nguyễn Thức Tự (1841 – 1923)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Trong Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (NXB Nghệ An, 1995) do GS Nguyễn Đổng Chi chủ biên, ở trang 93 có đoạn viết:

Là danh sĩ, ông còn nổi tiếng về nhân cách. Phan Bội Châu – môn đệ ông – từng làm văn bia lúc ông mất gửi về nước, có câu: “… Đạo thông cả trời đất, học rộng cổ kim; thầy học về kinh truyện dễ có, còn thầy học về nhân cách khó tìm” (đạo thống thiên hạ, học bác cổ kim; kinh sư dị đắc, nhân sư tầm nan). Học trò ông có người đậu cao, lại cũng có những người đi theo cách mạng (như Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đức Công, Đặng Thái Thân, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Đình Kiên, Đặng Thúc Hứa, Đặng Văn Bá…). Bốn người con ông (Thức Canh, Thức Đường, Thức Bao, Thức Độ) đều hoạt động chống Pháp, hoặc hy sinh cho đất nước, hoặc vào tù ra tội…

Danh sĩ lẫy lừng đó là Nguyễn Thức Tự, hiệu Đông Khê, tự Tử Cẩn, sinh ngày 22/11/1841 tại làng Đông Chủ (nay thuộc xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc – Nghệ Tĩnh).

Gia thế và tuổi trẻ

Đây là vùng đất khô cằn, dù được mùa lúa thì cũng không thu hoạch nhiều hơn khoai! Thân phụ của Nguyễn Thức Tự là Nguyễn Huy Phước (1793-1843) học rất giỏi, nhưng không tiến thân bằng con đường khoa cử mà chú tâm nghiên cứu y thuật để cứu dân. Thân mẫu là bà Hồ Thị Duyệt – thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt.

Ngay từ thuở nhỏ thầy Nguyễn Thức Tự đã được dạy dỗ chu đáo và nổi tiếng là người ham đọc sách và “mài chí vào nghiên bút”. Năm thầy 24 tuổi thì một sự kiện bi đát đã xảy ra, từ đó, thay đổi cả quan niệm, chí hướng của thầy về học tập. Đó là anh rể của thầy, ông Hoàng Phan Thái (chồng bà Nguyễn Thị Quỳnh) đã bị giặc Pháp chém đầu vì tham gia chống Pháp! Nỗi đau này ám ảnh thầy trong một thời gian dài.

Năm 27 tuổi, thầy dự kỳ thi sát hạch ở tỉnh và đỗ đầu, sau đó đỗ cử nhân. Năm 1875, thầy được bổ làm hậu bổ tỉnh Hà Tĩnh, rồi mãi đến năm 1883 được giao giữ chức Chánh sơn phòng sứ tỉnh Hà Tĩnh – do đó, mọi người quen gọi thầy Nguyễn Thức Tự là cụ Sơn.

Từ quan và mở trường dạy học

Dù ra làm quan với quyền cao chức trọng, nhưng sau khi kinh thành Huế thất thủ, năm 1885 vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở lập căn cứ kháng chiến chống Pháp và xuống hịch Cần Vương thì thầy cũng từ quan. Lấy cớ mẹ qua đời, thầy xin về quê chịu tang mẹ rồi ở luôn tại quê nhà. Từ năm 1886, thầy mở trường dạy học ở Nam Đàn, Thanh Chương, nhưng lâu hơn cả vẫn là Đông Chử. Mục đích giáo học của thầy là nêu lên tấm gương “trung quân ái quốc” theo kiểu mới để giáo dục học trò. Khi giảng bài hoặc ra bài thi, thầy thường lấy gương điển tích của người trung thần nghĩa sĩ làm tài liệu học tập.

Theo hồi ký của con trai thầy là Nguyễn Thức Canh, thì ngay buổi đầu khai giảng thầy đã ra đề là Nhất thời trung phẫn độc thư sinh – lấy từ câu trong Hán thi “Thất thập Tề thành giai Bắc diện, nhất thời trung phẫn độc thư sinh” nghĩa là “Bảy chục thành nước Tề đều hàng phục cả, chỉ có lòng trung phẫn của một thư sinh”. Ra đề bài thơ ấy là thầy muốn tâm sự về lý do từ quan.

Đào tạo học trò 

Cuộc đời của thầy đã đào tạo hơn bốn trăm học trò thành đạt – trong đó đáng kể nhất là chí sĩ Phan Bội Châu. Ông Nguyễn Thức Sương – cháu nội của thầy – có kể lại một chuyện rất cảm động về tình nghĩa giữa thầy và cụ Phan Bội Châu. Thuở ấy, cụ Phan còn có tên là Phan Văn San:

Sau khi đậu đầu xứ, Phan tiếp tục đi thi Hương, nhưng mấy kỳ liên tiếp đều không đạt. Cụ Phan Văn Phổ, thân phụ của San đưa cậu xuống xin tập bài ở trường cụ Son. Sau khi nghe rõ sự tình, cụ Sơn quay sang hỏi San:

– Ta cũng nghe tiếng cậu không những học khá mà còn có chí lớn. Ta rất mến những chàng trai như vậy. Ta thiết nghĩ cậu có thể tự học ở nhà, cần gì phải tìm xuống tận đây, vừa khó nhọc, vừa tốn kém?

Ông Phan Văn Phổ đỡ lời:

– Dạ, thưa cụ, tư chất của cháu cũng không đến nỗi nào, thế mà mãi đến nay vẫn chưa thành đạt, chắc là còn nhiều khiếm khuyết. Cha con tôi nghe tiếng cụ từ lâu, thấy rằng: chỉ có cụ mới tác thành được cho cháu. Ông Vương Thúc Quỳ cũng bàn với chúng tôi như vậy.

Cụ Sơn quay lại hỏi San:

– Thế cậu muốn học để thi đậu hay học để làm người?

Ông Phan Văn Phổ trả lời thay San:

– Thưa cụ, thiết tưởng hai điều ấy cũng là một chứ ạ?

– Có khi là một, có khi là hai đấy!

Rồi quay sang San, cụ Sơn nói tiếp:

– Ta có đọc bài Hồ thượng khóa lư của cậu. Bài ấy khá đấy. Ngày nay không thiếu Tần Cối và cũng không ít người phải ngậm ngùi như Hàn Thế Trung. Thế nhưng, nếu ai nấy đều bắt chước Hàn mà về cưỡi lừa dạo chơi trên Tây Hồ thì còn người đâu mà đi cứu nước?

Phan Văn San ngẫm nghĩ một lúc, rồi thưa:

– Bẩm thầy, đúng thế ạ!

Không chỉ buổi gặp gỡ ban đầu mà trong suốt thời gian Phan Bội Châu theo học trường cụ Sơn cũng như nhiều năm sau đó, thầy Nguyễn Thức Tự đã luôn dành cho San sự quan tâm đặc biệt! (xem Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng). Khi Phan Bội Châu đỗ Giải Nguyên cùng khoa với Nguyễn Thức Hào thì thầy đã có câu đối mừng trò. Tình thầy trò ấy thật đẹp. Thầy như thế thì ắt phải có trò như thế. Mà trò cũng thật xứng đáng với thầy.

Quan điểm giáo dục 

Nguyễn Thức Tự còn là một mẫu mực về nhân cách mô phạm. Vào năm 1898, sau khi đi thăm thành phố Vinh về đến nhà, nhà cũng là nơi thầy mở trường dạy học, lòng thầy buồn rười rượi. Lúc ấy, các học trò tâm phúc như Đặng Thái Thân, Phạm Văn Ngôn… và các con là Bao, Thức, Đường đang chụm đầu trò chuyện với nhau. Bước vào nhà, thầy nói:

Cái đại họa diệt vong của nòi giống Việt đã đến nơi rồi các con ạ! Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Huống chi cha con thầy trò mình là những người được thấm nhuần đạo lý Thánh hiền. Ta khuyên các con phải cố gắng học hơn nữa. Nhưng đừng học theo lối cắm đầu miệt mài thơ phú, mà không biết thực học là gì. Học là để giành lại mảnh đất của tổ tiên đang bị ngoại bang dày xéo.

Uống một ngụm nước chè tươi, thầy nói tiếp:

Sinh ra làm thân con trai, gặp lúc quốc gia nguy biến, khi sống dám đem thân ra những nơi góc biển chân trời, khi chết lấy ruồi nhặng làm khách điếu tang!

Đêm đó, thầy trò Nguyễn Thức Tự đàm đạo đến tận khuya về vấn đề thực học. Chính từ những lời khuyên của thầy mà các con thầy và học trò như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Học Lãm, Đặng Thúc Hứa… đã tìm đường xuất dương. Họ bôn ba chân trời góc biển để mở mang kiến thức và học hỏi để sau này quay về giải phóng đất nước.

Có thể nói phương pháp giảng dạy của thầy không đóng khung trong sách vở, mà được liên hệ với thời cuộc – để khơi dậy trong lòng học trò trách nhiệm trước tiền đồ của Tổ quốc. Nhiều học trò vẫn còn nhớ bài thơ chan chứa nỗi niềm của thầy:

Vừa mới đi thăm tỉnh Nghệ về,
Nhìn xem phong cảnh nghĩ mà ghê.
Trên trời dây thép giăng chằng chịt,
Dưới đất kèn đồng thổi tọ loe.

Phố xá nghênh ngang bồi cưỡi ngựa,
Lâu đài nghi ngút đã ngồi xe.
Ai lên nhắn với ông Tinh Bạch:
“Sao để trời Nam mãi rứa hè?”

Trước tác

Ngoài việc giảng dạy, thầy Nguyễn Thức Tự còn có một bút lực, một thi hứng dồi dào. Thầy đã viết những tác phẩm như Đông Khê thi tập, Đông Khê thu tập, Đông Khê lịch sử, sự trạng… rất tiếc nay thất lạc hết. Có thể, những trước tác này được thầy dùng để giảng dạy thêm cho học trò của mình như:

Á, Âu tiến tới văn minh
Ra công học tập chen chân với đời
Học làm ăn, học làm người
Nước non chờ đợi lớp người thiếu niên

Tình nghĩa thầy trò

Năm 1901, nhân mừng thọ thầy 60 xuân, để cảm tạ công đức của thầy, học trò các thế hệ của thầy đã tự nguyện đứng ra xây dựng nhà sinh từ rộng chừng 24 mét vuông, tường đá ong, mái lợp ngói âm dương để thờ thầy lúc còn sống và xây cả sinh phần rộng khoảng 2 mét, cao hơn 1 mét để sau này làm phần mộ cho thầy.

Bức trướng có ghi những dòng chữ chói lọi:

Đạo đầy đủ bởi ngậm được nay, nuốt cả xưa… Giáo dục trẻ con có hướng, có phương; dạy dỗ người đời không chán, không mệt, nên trong danh giáo có nhiều thú vui.

Những việc làm này quả là một hình ảnh cảm động về tình nghĩa thầy trò thuở ấy. Và đây là một trong những câu đối mà học trò đã dành cho thầy (dịch nghĩa):

Thi lễ của truyền gia, vị chân nho Việt Nam như cột đá giữa dòng nước;
Văn chương đến hồi tàn cuộc, bậc di lão Nghệ Tĩnh như ngôi sao nửa buổi mai.

và câu:

Đây nước biếc non xanh, xuân sắc lâu dài trong vũ trụ;
Tả bản đồ hữu sử sách, gia đình bền vững nếp thư hương.

Cuối đời

Ngày 10/6/1923, thầy trút hơi thở cuối cùng tại làng Đông Chử. Cái chết của thầy đã gây niềm thương tiếc trong nhân dân. Dòng người dài hơn ba cây số đưa thầy đến nơi an nghỉ cuối cùng, họ đi từ ba giờ chiều nhưng mãi đến rạng sáng hôm sau mới tới huyệt. Đêm ấy cả làng Đông Chử rợp đuốc sáng lòa.

Từ hải ngoại có Phan Bội Châu; từ tù Côn Đảo có Cao Đạt; từ triều đình có tiến sĩ Nguyễn Huy Nhu v.v… không về dự tang thầy đều có gởi câu đối viếng. Sống làm thầy như Nguyễn Thức Tự, cho dù có chết đi thì nhân cách và tâm hồn vẫn sống mãi trong thế hệ học trò có nhiều đóng góp cho đất nước. Các con của thầy cũng đều là những người dấn thân vào sự nghiệp cứu nước theo lời dạy của thầy.

Ca dao Nghệ Tĩnh đến nay vẫn còn lưu truyền:

Ai về Đông Chứ làm ơn
Hỏi thăm con cháu cụ Sơn thế nào?
Hỏi Canh, hoạt động bên Tàu
Hỏi Đường, Tây đã chặt đầu năm nao
Hỏi Bao, một đấng anh hào
Vào sinh ra tử mấy tao vượt vời
Hỏi Độ, quản thúc một nơi
Chim lồng cá chậu suốt đời thì thôi
Cha con sau trước mấy người
Hiến thân cho nước, cho nòi Việt Nam

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Thức Tự

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)