Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947)

Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947)

Thông tin cơ bản

Thân thế 

“Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố”, đó là câu phương ngôn lưu truyền ở miền Bắc đầu thế kỷ XX – nhằm chỉ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và Nguyễn Văn Tố là bốn người giỏi tiếng Pháp vào bậc nhất. Không những thế, họ còn là những người tinh thông Hán học. Nguyễn Văn Tố sinh ngày 5/6/1889 tại Hà Nội. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán, lên chín tuổi bắt đầu học tiếng Pháp. Năm 1905, ông tốt nghiệp trường thông ngôn. Trường này thành lập vào tháng 1/1886 tại phố Jean Dupuis (nay là phố Hàng Chiếu), sau chuyển ra Yên Phụ vớimục đích mà Thống sứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ là Paul Bert đã chủ trương: “Nhanh chóng thiết lập mối quan hệ trực tiếp, càng nhiều càng tốt giữa dân tộc An Nam với chúng ta bằng cách truyền bá sự thôngdụng tiếng Pháp cũng như sự hiểu biết những phong tục và khoa học của chúng ta”. Ở trường này, Nguyễn Văn Tố đã đậu đầu kỳ thi. Năm đó ông mới 16 tuổi. Sau đó, Nguyễn Văn Tố làm việc ở Ecole Francaise d’Extrême Orient mà mọi người vẫn quen gọi là trường Bác Cổ. Trường này được quyền có tư cách pháp nhân và đặt dưới sự bảo trợ của Viện Hàn lâm khoa học nước Pháp. Ngoài khu nhà chính ở phố Carreau (nay là phố Lý ThườngKiệt) là nơi làm việc, hội họp, trong đó còn có một thư viện lớn và một nhà bảo tàng trong khu Đồn Thủy. Giúp việc cho Viện này là những trí thức Việt Nam được Pháp đào tạo lớp đầu như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Thiệu Lâu, Trần Văn Giáp

Sự nghiệp

Cũng như hầu hết các trí thức khác, Nguyễn Văn Tố vừa làm vừa học, ông từng nói: “Tôi học là để làm việc. Thường ngày chúng tôi phải vào sổ những sách vở và đồ cổ mới mua. Muốn biết một quyển sách vào loại nào, ít nhất phải biết nội dung thế nào; muốn vào sổ một pho tượng tám tay, ít nhất phải biết tên pho tượng là gì, biết qua loa tại sao pho tượng ấy có tám tay. Cứ thế, vừa làm, vừa học”. Không như những ai “sớm vác ô đi tối vác về”, mỗi ngày ông làm việc ở trường Bác Cổ đến 9, 10 giờ tối mới về. Sự cật lực học hỏi này đã giúp ông trởthành một “từ điển sống” về văn hóa Viễn Đông mà ngay cả giám đốc người Pháp cũng phải kính nể. Học giả Nguyễn Thiệu Lâu có kể lại: “Ở trường Bác Cổ, cụ đã làm công việc mà ít ai làm nổi. Tôi phục cụ ở điểm này: ấy là cụ đã làm thư ký tòa soạn bộ Kỷ yếu của Đông Phương Bác cổ Học viện (Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient) trong khi cụ chỉ là nhân viên phụ tá (Assistant) như tôi.

Cụ làm việc suốt ngày, trưa ở lại sở, tối mới về nhà ăn cơm. Phòng giấy của cụ ở ngay cầu thang đi lên, bé như cái chuồng chim. Trên một cái bàn thật to, ngổn ngang những sách chữ Hán, chữ Pháp, những bản thảo của cụ, những bản đánh máy, những bản ráp nhà in đưa cụ để sửa chữa. Một ông đồ ngồi né ở phía bàn dịch sách cho cụ. Cụ có khách luôn vì ông giám đốc George Coedès thẩy hết các công việc tiếp khách cho cụ. Các công văn cụ cũng thảo lấy hết, được cụ coi các công việc hành chính, ông giám đốc thảnh thơi lắm. Bác sĩ Huard thường luôn luôn đến hỏi tài liệu hay mượn sách, đã nói với tôi đại khái như sau: “Ông George Coedès chẳng phải làm việc gì cả, chính ông Tố làm đủ cả các công việc. Đó là một sự thực mà ai cũng phải công nhận”. Cha Cadière có bảo tôi, ở Huế, ít lâu trước khi cha mất: “Nguyễn Văn Tố đã viết nhiều lắm, trong tạp chí Tri Tân. Các bài đọc khô khan nhưng thật là những nguồn tài liệu vô cùng quí giá, rất ích lợi cho người khảo cứu. Đấy mới thật là một học giả. Tiếc thay đã chết oan. Sau này ông cho thu thập những bài của Nguyễn Văn Tố mà cho in lại, ấy là ông sẽ có công lắm đấy”.

Phòng làm việc của tôi ở gần phòng cụ. Hàng ngày tôi quấy rầy cụ. Cụ đọc rất nhiều sách và có một trí nhớ lạ lùng. Sau khi tôi khảo cứu kỹ một vấn đề, tôi trình cụ bản thảo.

– Phiền cụ xem hộ cháu bài này. Chắc còn phải sửa chữa nhiều.

Cụ cười ha hả:

– Ông còn trẻ, việc gì mà vội, mà sợ mất công sửa chữa. Chắc ông nhớ câu này của Lafontaine:

Travaillez, prenez de la peine,

C’est le fonds qui manque les moins.

(Có làm lụng chịu thương chịu khó mới mong phần giàu có dư tiêu)

và câu này của Boileau:

Vingt fois sur le métier, remettez votre ouvrage,

Polissez le sans cesse et sans cesse le repolissez

(Hãy đặt lên khung hai mươi công trình của bạn và bào đi dũa lại mãi không thôi).

Rồi cụ nói tiếp:

– Ông để tôi xem. Độ năm hôm, ông sang lấy được không? Tôi chữa đè lên chữ ông được không?

Cụ chữa xong bài của tôi, kèm theo vài trang ghi những nhận xét của cụ, rồi cụ đưa tùy phái chuyển sang phòng tôi.

Tôi còn nhớ cảm tưởng đầu tiên của tôi khi tôi lật từng trang một. Tôi giận lắm và nói một mình:

– Thật là một anh đồ già! Thế này còn ra cái gì nữa! Chữa hết! Chẳng thà vứt đi cho xong.

Cụ chữa bài bằng mực đỏ làm đỏ hoe cả bài, bên lề cụ ghi rõ lỗi thuộc loại nào.

Tôi trước giận cụ nhưng sau khi đọc kỹ tôi giận tôi và tự bảo:

– Giải nghệ đi cho xong! Cử nhân văn chương Pháp mà danh từ dùng không đúng, văn phạm sai, khảo cứu sử mà tài liệu thiếu sót, trình bày lại vụng về, để cho một ông thư ký già chỉ có bằng Cao đẳng tiểu học, phải chữa từng câu, từng chữ một, thời thực là nhục lắm.

Tôi ngồi nghĩ vơ nghĩ vẩn. Nghe tiếng gõ cửa, tôi mở cửa, ông giám đốc đi vào.

– Ông đương bận việc?

– Thưa ông giám đốc, tôi bực mình lắm! Đây, ông xem.

Rồi tôi đưa ông giám đốc bài của tôi mà cụ Tố đã chữa. Ông ấy cầm xem qua rồi kéo ghế ngồi trước mặt tôi, mỉm cười và dạy đại khái như sau này:

– Ông bạn trẻ của tôi ơi! Ông đừng lấy làm buồn. Văn Pháp không phải dễ viết cho hay và nghề khảo cứu không phải dễ mà làm. Ông còn trẻ, cố gắng đi. Ông có tất cả một đời người để học hỏi. Ông Tố chữa bài cho ông như thế này là ông Tố quí ông lắm đấy. Ông phải cám ơn ông ấy và đừng mất lòng, cũng đừng chán nản. À, ông có biết chuyện Bezacier không? Bezacier, nhân viên vĩnh viễn của trường, có đưa tôi một bài để đăng. Tôi chuyển sang ông Tố. Tôi tưởng ông Tố chữa rồi trả lại tôi để tôi xem lại và cho in. Ông Tố sau mấy hôm trả lại tôi, không chữa một chữ nào cả.

– Thế nào ông Tố?

– Ông muốn cho in thì cho in, có gì phải sửa chữa xin ông sửa chữa lấy.

– Tôi hiểu ông rồi! Bài này không cho in được có phải không?

– Thưa ông giám đốc, khảo cứu đã sơ sài lại sai lầm, lời văn không tha thứ được. Nhiều lỗi quá! Thế là bỏ trọn bài. Ấy ông Tố tốt với tôi lắm đấy chứ! Người thực thà lắm.

– Dạ.

Ông Coedes cười rồi lại bảo tôi:

– Có một lần tôi đưa bài của tôi để ông ấy đăng.

Mười hôm sau ông ấy bảo tôi:

– Thưa ông giám đốc, ông đã xem kỹ lại bài của ông chưa?

– Kỹ lắm, sao vậy?

– Có lẽ phải chữa nhiều.

– À, tôi hiểu rồi, ông Tố ôi! Xin ông cứ chữa đi cho tôi. Nếu sau này có ai chỉ trích một điểm gì là lỗi tại ông đấy nhé!

Ấy thế là ông Tố chữa. Ông Tố đã học giỏi lại tốt bụng. Nếu tôi không có ông ấy phụ tá thời tôi làm nhân viên còn hơn làm giám đốc, để được nhẹ mình. Ông Lâu ơi! Ông còn trẻ, nên chịu khó học tập. Ông Tố sẽ giúp ông lắm đấy. Đừng để cho ông ấy ghét mà bỏ rơi thời sẽ khó cho ông lắm đấy!

Bây giờ tôi viết bài, phải tự chữa lấy, thật là buồn…”.

Nguyễn Văn Tố là hình ảnh khá lạ lùng của trí thức Việt Nam thời bấy giờ. Mặc dù làm việc với người Pháp nhưng bao giờ ông cũng mặc áo ta, đầu đội khăn xếp, chân mang giày Gia Định, tay cầm ô đen. Ban đầu ông còn giữ cả búi tó trên đầu, nhưng sau bị tờ báo trào phúng Phong Hóa chế giễu, vẽ tranh châm biếm nên ông mới cắt bỏ đi. Từ nhà đến chỗ làm việc bao giờ ông cũng đi bộ, không đi xe kéo, ông đi chậm rãi, đi men dọc theo phố, do đó, nhiều người gọi đùa “ông Tố men” là vậy. Hình ảnh này có thể giúp chúng ta hình dung ra con người của buổi giao thời đầu thế kỷ – mà nay đã hoàn toàn biến mất. Một giáo sư người Pháp cho rằng: “Ông Nguyễn Văn Tố có những đức tính hoàn toàn Việt Nam, tựa hồ như một người đàn bà Việt Nam xưa, vừa có duyên vừa có đức hạnh, ở một vùng quê xa, chưa hề biết cái văn minh mới là gì”.

Di sản

Sự nghiệp lớn lao về văn hóa của Nguyễn Văn Tố để lại chính là những bài khảo cứu có giá trị, bởi lẽ thuở sinh thời ông chưa xuất bản một tập sách nào. Ông từng nói: “Hiện nay, nước ta cho việc làm sách cũng như là một “nghề kiếm ăn”, cho nên tôi chưa dự định in sách, chỉ viết báo thôi”. Câu nói này, cho thấy quan niệm của một nhà nho khi trước tác là nhằm giúp ích cho đời, chứ không phải để kiếm ăn hoặc lưu danh! Thuở còn đi học, thầy giáo của ông là Trần Hữu Đức từng dạy: “Học cách làm người, học để giúp ích cho nhà, cho nước, cho đồng bào, học bao giờ biết được những việc gì là hay là phải…”. Lời dạy này ông đã chiêm nghiệm suốt cả đời như ông đã từng nói: “Ngẫm ra lời dạy ấy đời nào cũng hợp”. Bài báo đầu tiên được ông viết vào năm 1907. Lúc đó, trường Bác Cổ cử ông đi Đà Lạt và Lang Bian chép tiếng Koho. Trên đường đi ông chủ bút tờ L’Indochinecommerciale nhờ viết bài. Ông đã viết Voyage d’études en Annam, ký tên Nguyễn Tố. Sau đó, ông cộng tác với nhiều báo từ Pháp ngữ đến Việt ngữ với bút danh N. Tố, N.T hay T, A.T nhưng nhiều nhất vẫn là Ứng Hòe. Điều lạ lùng là ông đã viết ở nhiều lãnh vực.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc đã tạm phân loại: “Văn chương, ngôn ngữ, sử học, dân tộc học, luật học và văn hóa nghệ thuật” là những lãnh vực mà Nguyễn Văn Tố đã viết để thấy được sự đa dạng của một học giả cực kỳ uyên bác. Hầu hết ở các lãnh vực này, những bài viết của ông đều có những phát hiện đáng tin cậy. Chỉ xin nêu một ví dụ, khi khảo cứu về vấn đề Nước ta đúc tiền từ đời nào? Ông tra cứu từ sử Tàu đến sử Việt như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Trung học Việt sử toát yếu, Khâm định tiền lục chép rằng nước ta biết đúc tiền đồng từ thời Thiên Phúc (980-1005) nhà Lê. Nhưng trong khi đó sách do người Pháp biên soạn thì lại cho rằng nước ta biết đúc tiền đồng từ đời Thái Bình (970-979) nhà Đinh. Vậy thuyết nào đúng? Ông đã căn cứ vào hiện vật tại trường Bác Cổ để kết luận thuyết của người Pháp là đúng. Qua đó, ông còn phê phán sự nhầm lẫn của sử Tàu khi lẫn lộn tiền Thái Bình Hưng Bảo của nhà Đinh với tiền Thái Bình Thông Bảo của nhà Tống! Điều gì đã giúp Nguyễn Văn Tố trở thành một “địa chỉ đáng tin cậy” của giới nghiên cứu? Có lẽ nên tham khảo phương pháp làm việc mà ông đã tự thuật:

– “Đại khái nhà làm sử bắt đầu phải tìm tài liệu cho thật đủ, chọn lọc và phê bình tài liệu, rồi mới dùng tài liệu để viết thành sách.

Tài liệu tìm ở văn thư, ở những di tích còn lại, tìm cho thật hết. Nhưng muốn tìm được tài liệu, nhà làm sử phải biết ít nhiều về khoa học phụ thuộc. Thí dụ một người muốn viết về lịch sử Đông Dương – viết một cách mới mẻ, chứ không phải viết để “phổ thông” – tất nhiên phải biết chữ Nho, chữ Phạn, chữ Chiêm Thành, chữ Lào để có thể đọc sách, đọc bia. Muốn tả xã hội Việt Nam, phải biết chút ít về xã hội học, muốn hiểu bộ luật Hồng Đức, phải biết khoa luật học…

Khi đã tìm đủ tài liệu, nhà làm sử phải phê phán xem thứ nào chắc chắn, thứ nào phải tạm bỏ ra.

Phê phán là công việc quan hệ nhất, cái giá trị của bài khảo cứu là ở đấy cả.

Những nhà làm sử Âu Mỹ chia ra nào là phê phán ngoại diện tài liệu, phê phán để phục hồi nguyên trạng tài liệu, phê phán để biết các tài liệu xuất xứ ở đâu… rồi lại phê phán các nội dung tài liệu…

Khi đã phê phán tài liệu xong, biết được những việc nhỏ, lúc bấy giờ mới bắt đầu tổng hợp lại thành những việc lớn… rồi theo đấy mà viết thành sử. Viết đúng như sử liệu, đừng để tình cảm, vì để tình cảm vào, sợ có khi thiên vị”.

Phương pháp làm việc đó của Nguyễn Văn Tố vẫn còn ý nghĩa thiết thực cho thế hệ trẻ hiện nay, khi muốn dấn thân vào con đường khoa học. Mặc dù viết cho nhiều báo – chẳng hạn báo Tri Tân, từ số 1 đến số cuối cùng là 212, số nào cũng có bài của ông – nhưng cho đến khi qua đời, Nguyễn Văn Tố vẫn chưa in một tập sách riêng. Cho mãi đến năm 1997 – khi kỷ niệm 50 năm ngày mất của ông, Hội Sử học Việt Nam mới cho in tác phẩm Đại Nam dật sử, Sử ta so với sử Tàu, gồm những bài báo in trên hai báo Thanh Nghị và Tri Tân đã dày đến 520 trang in! Thế mới biết, sức lao động của ông khủng khiếp đến chừng nào. Mà lối phê bình, khảo cứu của ông kể cũng lạ, ông không khenlấy lòng bất cứ ai mà thẳng thắn, ôn tồn đính chính những sai lầm – sau khi căn cứ vào tài liệu đã kê cứu được ở trường Bác Cổ. Chính vì trung thành với cách làm việc này, nên mỗi bài viết của ông đều có sức nặng nhất định và hữu ích cho người đọc.

Không phải là một trí thức “đóng cửa phòng văn hì hục viết”, Nguyễn Văn Tố còn quan tâm đến những vấn đề của xã hội. Năm 1938, khi Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ cần một người vừa được quần chúng tin yêu, vừa được thực dân Pháp kính trọng để đứng ra nhận trọng trách Hội trưởng Hội truyền bá quốc ngữ thì ai cũng nghĩ ngay đến học giả Nguyễn Văn Tố. Biết được việc làm ích nước lợi dân mà Đảng Cộng sản Đông Dương đang chủ trương, ông vui vẻ nhận lời ngay. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông tham gia Chính phủ lâm thời, giữ chức Bộ trưởng Bộ cứu tế xã hội. Rồi ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa 1 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bầu ông làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Như vậy, ông là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước ta. Ở tấm ảnh lịch sử chụp phiên họp thứ hai của Quốc hội – trước căn nhà số 8 Lê Thái Tổ (lúc đó là Avenue Beachamps) – tư dinh của Chánh tòa thượng thẩm Bắc Kỳ là Morché – chúng ta thấy Nguyễn Văn Tố đứng khiêm tốn ở góc phải. Điều cảm động ở chỗ ông là người duy nhất vẫn giữ bộ khăn đóng áo dài truyền thống.

Hy sinh

Sau khi có quyết định toàn quốc kháng chiến, Nguyễn Văn Tố hăng hái đi lên chiến khu “trường kỳ kháng chiến”. Không may, ngày 7/10/1947 giặc Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, ông bị chúng bắt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ký Chiến đấu trong vòng vây đã kể lại những chi tiết xúc động: “Ta biết rõ hôm ấy, bọn lính dù Pháp bắt được một ông già trông chững chạc, nói tiếng Pháp, yêu cầu chấm dứt chiến tranh xâm lược. Lúc biết không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng đã bắn chết khi ông tìm cách chạy thoát. Đó là cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban thường trực Quốc hội, một nhân sĩ tâm huyết và có uy tín. Cụ Tố hy sinh là một tổn thất to lớn cho ta”. Sau 60 năm, ngày 9/4/2007 chúng ta đã tìm được phần mộ của nhà văn hóa Nguyễn Văn Tố tại một khu rừng núi bao la thuộc xã Nguyên Phú, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn.

Với những cống hiến trong việc phụng sự văn hóa – chính trị nước nhà, Nguyễn Văn Tố xứng đáng được ghi nhận là một danh nhân văn hóa lỗi lạc của nước ta đầu thế kỷ XX. Và ông cũng là vị Bộ trưởng đầu tiên và duy nhất đã hy sinh như một liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 5 – 1948 đã viết Lời điếu cụ Tố với những lời thống thiết:

Nhớ cụ xưa

Văn chương thuần túy, học vấn cao sâu
Thái độ hiền từ, tánh tình thanh khiết
Mở mang văn hóa, cụ dốc một lòng
Phú quý công danh, cụ nào có thiết
Đến ngày dân tộc giải phóng thành công
Thì cụ sẵn sàng ra tay giúp việc
Giữ chức Bộ trưởng thì cụ ngày ngày gần gũi nhân dân
Đại biểu quốc hội thì cụ luôn luôn tính bàn kiến thiết
Và ghi nhận về cái chết của liệt sĩ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tiếp:
Cụ dù hy sinh, tinh thần cụ sẽ ngàn thu vẻ vang bất diệt
Với cụ, dân tộc mất một người chí sĩ, thế giới mất một người danh nho.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Văn Tố

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)