Nha Cát Đại vương – Nguyệt Nga Công chúa

Nha Cát Đại vương – Nguyệt Nga Công chúa

Thông tin cơ bản

Xưa trời Nam mở vận, thánh tổ họ Hồng Bàng trải qua lúc thịnh lúc suy, ngắm thấy địa thế núi sông tiện lợi bèn đặt đỉnh vạc ở Hoan châu, dựng đô ở Nghĩa Lĩnh, cha truyền con nối hơn hai ngàn năm đều xưng hiệu Hùng Vương, lấy đó làm tôn hiệu.

Thục Vương lên ngôi hơn 500 năm, Triệu Quang lấy nước, tương truyền được năm đời thì thay đổi. Lại đến đời Tiền Lý, Hậu Lý, Ngô Vương xây dựng đất nước thì Nam Bắc phân tranh, sinh dân lầm than đau khổ. Trải đến 4 đời Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng vua hiền, các đời vua đều hưng thịnh. Vua nước Chiêm ngầm xâm lấn biên giới nước Nam, cướp phá người dân vùng biên. Mặt khác nước ta lại thường có nỗi lo Trung Quốc. Các đời vua đều ban đức lấy đó để lo lắng cho dân, lấy uy nghiêm, tin tưởng để chinh phục các nước. Nhưng núi sông hiểm trở, mà bọn phản loạn lại nổi lên bất ngờ nên phải lấy ân ý để ràng buộc lòng người.

Duy đến đời [16] vua Lê Thái Tổ Cao hoàng đế, núi Lam Sơn khởi nghĩa, tiễu bình giặc Ngô, dựng nước lấy hiệu là Thuận Thiên, hưởng phúc dài lâu. Trải đến đời Thái Tông, Nhân Tông, thiên hạ thái bình, người Chiêm tới cống, Thánh Tông Thuần hoàng đế lên ngôi. Bấy giờ người dân có thơ rằng:

Oanh oanh thiên ngoại đại thanh lôi,
Nhật thượng trung thiên hoàng đạo khai,
Tứ hải thăng binh nhân cộng lạc,
Vạn phương dao tổng tử hà bôi

(Không trung ầm vang tiếng sấm động,
Vầng nhật giữa trưa tỏa hào quang,
Bốn biển thanh bình, người hưởng lạc,
Chén rượi vạn phương tiếng mời vang).

Năm thứ 2 niên hiệu Hồng Đức (1471)241, giặc biển Chiêm Thành lại đến cướp bóc người dân vùng biên. Chúng lấy đi tất cả của cải, súc vật của người dân. Ngoài biên ải, thư về gấp báo. Vua nghe tin phẫn nộ than rằng:

– Người xưa có câu “Vương nhất nộ dĩ an thiên hạ chi dân” (Một khi vua nổi giận thì dân trong thiên hạ được yên). Trẫm từ ngày lên ngôi tới nay, một mặt thi hành ân đức, một mặt dùng vũ lực để chinh phục, nhưng giặc Chiêm kia lại làm trái mệnh trẫm, không tới triều đình, cướp phá dân chúng vùng biên. Đã đến lúc phải mang quân đi hỏi tội.

Vua bèn xuống chiếu triệu tập đình thần tới nghị bàn. Vua tức giận bảo:

– Từ ngày trẫm có thiên hạ tới nay, các nước xa xôi không nước nào không đến thần phục, chỉ có Chiêm Thành ngang bướng, không chịu cống tiến, lại lấy mật ngọt loại ong để đầu độc dân các quận huyện vùng biên, nếu không dùng võ công chính nghĩa thì không đủ để uy nghiêm với dân nơi xa.

Nói rồi, năm sau đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành. Vua sai lập các đội Long, Phượng, Ngư, Xả, Hỗ, Báo cùng vài trăm tàu thuyền, chiến hạm, vua không xuống chiếu mà thân chỉnh cầm quân chinh phạt Chiêm Thành. Đoàn quân đóng lại ở cửa biển Đại Ác 242, đã nghe tin giặc Chiêm Thành mang quân cùng đội voi, dựng trận ở bờ sông Ngũ Bồ để cầm cự chống lại quan quân. Vua lệnh cho đoàn quân bỏ thuyền lên bờ, rồi dẫn quân sĩ đến bến Đà Giang thì thấy bọn địch đã dàn hàng bên sông. Vua bèn phân chia sĩ tốt thành các đội, dựng cờ, đánh trống ầm ĩ rồi tiến đánh, đánh nhau đến hơn 10 hiệp, ta mạnh, địch yếu, người Chiêm biết không thể chống được bèn bỏ chạy toán loạn, quân ta truy đuổi, chém được hơn 500 vạn thủ cấp, bắt được hơn 50 con voi đã thuần dưỡng, bắt sống được mười mấy vạn tù binh, [26] [trong đó] có chúa của bọn chúng là Nha Cát Kiền và Nguyệt Nga cùng bọn cung nữ giỏi đàn ca vũ điệu trong cung vài trăm ngàn người. Vua sai sứ đi khắp nơi đến từng hương ấp để phủ dụ người dân. Sau đó vua ban lệnh cho quần thần mở hội báo tin thắng trận ở Thái miếu. Vua còn cho bày yến tiệc long trọng ở trên điện. Quần thần dâng tù binh hơn 1 vạn 5 trăm ngàn người cùng vàng bạc châu báu. Vua xuống chiếu cho bọn tù binh được sung vào làm ở các bộ thuộc. Chúa Chiêm là Nha Cát Kiền và công chúa Nguyệt Nga cho về ở bên sông Lỵ Nhân. Đêm ngồi khóc với nhau rằng:

Sống làm quốc vương thì cuộc sống ấy vẻ vang, chết vì nạn nước, tuy chết mà như sống. Sao có thể sống vụng trộm, trói buộc, cam chịu làm phận nhi nữ.

Hai người không chịu nổi cảnh đó, phẫn uất ngầm lấy tấm chăn tự trói mình rồi nhảy xuống sông tự vẫn. Vua nghe tin, giật mình, than mãi không thôi. Chẳng ngờ phong tục dân man di người dân cũng kiên cường như vậy, và cũng biết lo giữ trinh tiết đức hạnh như thế. Vua bèn sai cho người Chiêm cùng quân sĩ [3a] tìm lấy những thứ có thể làm lễ để mai táng. Lại xuống chiếu rằng, phàm là những nơi ruộng công bỏ phế thì giao cho các bộ cày cấy để lấy kế sinh sống. Còn vùng đất hoang có ao xanh, vườn chè thì cho người Chiêm sinh sống ở đó. Vua còn lệnh cho cứ một vạn người thì được lập một xá để thờ. Chúa cũ là Nha Cát được gia phong làm Đại vương, lấy chữ Nha làm tước, đổi tên hoàng hậu Định An phu nhân thành Nhã Tịnh Kiền Nguyệt Nga công chúa, cho người trong nước thờ tự không để hương khói lạnh tàn, cùng được hưởng huyết thực muôn đời, mãi cùng đất nước. Lại cho dời dân đến ở đó để mãi dựng thành ấp mới. Vua nhân đó đặt tên cho là trang Vĩnh Hưng, truy phong huyết thực phúc thần, để cho dân thờ cúng mãi mãi.

Trang Vĩnh Hưng phụng thờ:

– Nha Cát linh ứng Đại vương, húy là Cát [3a].

– [36] Nguyệt Nga công chúa Trinh Thiện phu nhân, huý là Nga.

– Ngày mồng 3 tháng 2 là ngày lễ Xuân tế.

– Ngày 10 tháng 8 là ngày giỗ chính.

– Ngày mồng 8 tháng 7 là ngày lễ Thu tế.

– Ngày mồng 2 tháng 9 là ngày lập miếu gia phong, lễ khánh hạ đại tiệc.

– Không rõ ngày sinh.

Lập vào ngày lành tháng trọng xuân (tháng 2) năm Vĩnh Hựu thứ nhất(1735).

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần là Nguyễn Bính phụng soạn. Ngày lành tháng quý hạ (tháng 6) năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750).

Quản giám Bách thần Tri điện thiếu khanh Hùng lãnh bá, thần là Nguyễn Kiên củi lạy khảo lại bản chính phụng sao chép lại.

Ngày lành tháng 3 năm Giáp Thìn niên hiệu Thành Thái thứ 16 (1904).

Chú thích:

  1. Đại Việt sử ký toàn thư ghi sự kiện vua đi đánh giặc Chiêm Thành sang quấy nhiễu nước ta bắt đầu từ năm 1470. Xem thêm Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỳ thực lục, Quyển XII, Sđd, tr. 444 – 452.
  2. Cửa biển Đại Ác: Nay thuộc xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, là nơi sông Đáy đổ ra biển. Xưa nơi đây có tên là cửa Liêu hay cửa Đại Ác sóng to gió dữ, tàu bè ra vào khó qua lại.

Nguồn: “Nha Cát Đại vương, Nguyệt Nga Công chúa”, trích trong Thần tích xã Vĩnh Tuy, ký hiệu AE.a2/35, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (10)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)