Thân thế
Ni sư tên thật là Huỳnh Thoại Nga, người gốc Hoa ở tỉnh Bạc Liêu, đệ tử của Hòa thượng Như Hiển Chí Thiền, pháp danh Hồng Nga, tự Diệu Ngọc. Thân phụ là người Trung Hoa lập nghiệp ở tỉnh Bạc Liêu, gia đình có điền sản lớn. Cô theo Tây học, chữ viết đẹp, tính tình cương nghị, ưa hoạt động cần cù và thích làm việc phước thiện. Năm 1914, cô lập gia đình nhưng cùng năm thì chồng mất, đến cuối năm, người con trai mấy tháng tuổi cũng mất.
Những đóng góp cho Phật giáo
Đến đấu năm 1919, cô xây cất chùa Giác Hoa tại tổng Thạnh An, làng Châu Hưng, tỉnh Bạc Liêu. Thợ từ miền Trung vào, ba năm mới xong, năm 1923 làm lễ khánh thành chùa và xin xuất gia với Hòa thượng Như Hiển Chí Thiền.
Năm 1927, cô mở trường gia giáo Ni và thường xuyên nuôi chúng tu học cho đến năm 1945.
Chùa Giác Hoa là ngôi chùa Ni đầu tiên của miền Nam, được xây dựng rất công phu, hoành tráng, nền đắp cao, tường xây kiên cố, chánh điện, hậu Tổ, hành lang Đông Tây dài trên hai công đất. Cột gỗ lim liễn đối mạ vàng, khám thờ chạm trổ công phu, nền gạch bông, hành lang cẩn gạch men trắng chạm bông hoa đủ màu. Vách chánh điện treo bích họa và phù điêu hình chư Bồ tát, đường nét tinh vi.
Bên cạnh đó, cô còn hướng dẫn một huynh đệ của mình là cô Ba Xàng lập nên chùa Tân Hòa ở Cái Tàu Hạ, Sa Đéc, có kiểu thức giống chùa Giác Hoa và cũng khai trường Ni tại đây, gọi là trường cô Ba Xàng, hoạt động trong thời gian từ 1940 đến 1945. Ngoài việc mở trường, cô còn tổ chức khắc in hai bộ kinh: Kinh Đại Bi Xuất Tượng và Kinh Tam Bảo.
Chùa Giác Hoa, như thế, là một ngôi phạm vũ uy nghi, một trường gia giáo đầy đủ tiện nghi cho Ni chúng tu học. Vào thời kỳ này, Ni sư đã mời được các vị Hòa thượng uy tín trong khu vực về tham gia giảng dạy, như Hòa thượng Chí Thiền chùa Phi Lai – Châu Đốc, Hòa thượng Chân Niệm chùa Trùng Khánh – Phan Rang, Hòa thượng Vạn Ân chùa Hương Sơn, Hòa thượng Vạn Pháp chùa Kim Quang – Phú Yên, Hòa thượng Khánh Anh. Đây là trường gia giáo Ni đầu tiên, cũng là trường có số Ni chúng theo học rất đông và tồn tại lầu nhất so với các trường Ni xuất hiện sau đó. Công việc học ở đây diễn ra hết sức thuận lợi. Ni chúng được cung cấp về ăn, mặc, ở và được mượn kinh sách để học. Ngôi trường hình thành một cách tự phát, nhưng lại được sự ủng hộ của các vị Hòa thượng đương thời, nên uy tín của trường lan rộng khắp vùng lục tỉnh. Nơi đây đã quy tụ và đào tạo được nhiều vị Ni xuất chúng, tạo nguồn nhân lực cho Ni giới phát triển về sau.
Viên tịch
Ni sư là người có tầm nhìn khá sâu rộng, biết nghĩ và tạo dựng nền tảng cho Ni giới. Nhưng có thể thấy, Ni sư là một người phụ nữ đơn độc chọn con đường xuất gia để tu hành và thực hiện hạnh nguyện của mình, làm được một công việc lớn lao trong thời kỳ hết sức hoang sơ về cả nhận thức lẫn thái độ ứng xử đối với Ni giới, thật đáng để lịch sử ghi nhận.
Ni sư mất vào ngày 24 tháng 3 năm 1952, lập di chúc để lại chùa cho cô Sáu Tạ và 500 mẫu đất cho chùa. Lợi tức dùng vào việc cúng dường và bố thí hàng năm.
Nguồn: Quảng Tuấn, Giác Ngộ Online, Ba vị danh Ni tiêu biểu trong tiến trình phát triển Ni giới Nam Bộ.