Ni Trưởng Bảo Nguyệt (1943–2011)

Ni Trưởng Bảo Nguyệt (1943–2011)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Chùa Diệu Giác – Tp. Hồ Chí Minh

Cố Ni trưởng Thích Nữ Bảo Nguyệt, Pháp danh Tâm Nhượng, Tự Bảo Nguyệt, thế danh là Thái Thị Lê, sinh ngày 11 tháng 02 năm Quý Mùi (1943) tại làng Cam Lộ, Huyện Cam Lộ, Tỉnh Quảng Trị.

Ni trưởng được sinh ra trong một gia đình nền nếp, đời đời thâm tín Tam Bảo. Thân phụ là Cụ ông Thái Tăng Tụy, Pháp danh Tâm Chánh; Thân mẫu là Cụ bà Trần Thị Súy, Pháp danh Tâm Trừng. Cụ ông và cụ bà sinh hạ được 7 người con, 4 trai – 3 gái, Ni trưởng là con thứ 6 trong gia đình. Cả gia đình của Ni Trưởng đều là đệ tử quy y với Cố Đại lão Hòa thượng thượng Trừng hạ Nguyên hiệu Đôn Hậu, Trú trì Quốc tự Linh Mụ –  Huế.

Thuở ấu thời, khi mới tròn một tuổi, Ni trưởng đã gặp phải bất hạnh, cha mất sớm, Ni Trưởng lớn lên trong vòng tay của mẹ, và sự nâng đỡ của các anh chị trong gia đình. Nhưng nhờ có bẩm tính thông minh hiếu học, nên Ni trưởng đã được mẹ và các anh chị rất mực cưng quý, thương yêu. Dẫu nhà nghèo, phải lo toan nhiều nỗi, nhưng từ thuở nhỏ, Ni trưởng đã được mẹ và các anh chị cho theo nghiệp sách đèn. Để có thể được học hành mà đỡ phần vất vả cho mẹ, Ni Trưởng đã phải từng đi dạy kèm, làm gia sư để kiếm tiền ăn học. Năm 1958, Ni Trưởng đã có văn bằng tốt nghiệp Trung học Đệ nhất cấp, chương trình Pháp Việt.

Vốn có túc duyên nhiều đời với Phật pháp, lại có một kiến thức cơ bản về thế học để nhận thức về cuộc đời; thêm vào đó lại được sự hướng dẫn và khuyến khích của bào huynh, nên vào mùa thu 1958, Ni Trưởng xin phép thân mẫu vào chùa Linh Mụ – Huế để đảnh lễ Hòa thượng Bổn sư  xin  được xuất gia. Ngay sau đó, Ni trưởng đã được Hòa thượng đưa qua chùa Hồng Ân, đảnh lễ Sư Cụ thượng Diệu hạ Không làm Hòa thượng thế độ xuất gia. Lúc này Ni trưởng vừa tròn 16 tuổi.

Sau 3 năm nhập chúng tập sự xuất gia, được sự hướng dẫn trực tiếp của một bậc Sư Ni danh đức, Ni trưởng đã chuyên tâm công phu chấp tác, kinh luật tinh cần, nên rất được Thầy yêu bạn mến. Mùa hạ năm 1961, Ni trưởng đã được chính Sư Cụ hướng dẫn lên chùa Linh Mụ để đảnh lễ Hòa thượng Bổn sư, xin phép cho thọ giới Sa Di Ni, và được Hòa thượng hoan hỷ ban cho pháp tự Bảo Nguyệt. Ni trưởng thọ Sa Di Ni giới vào ngày 19 tháng 06 năm Tân Sửu ( 1961) tại chùa Diệu Đức – Huế, do Hòa thượng Ni thượng Diệu hạ Hương làm Đường đầu Hòa thượng.

Cũng năm này, sau khi thọ giới xong, Ni trưởng được Sư Cụ cho theo học lớp y tá tại bệnh xá Từ Đàm; một năm sau (1962), thì tốt nghiệp, được cử về phục vụ tại bệnh xá chùa Hồng Ân.

Năm 1965, Ni trưởng thọ giới Thức Xoa-ma-na tại giới đàn Vạn Hạnh được tổ chức vào ngày 19.6 năm Ất Tỵ (17.07.1965) tại chùa Từ Hiếu – Huế, do Hòa thượng trụ trì Tổ đình Thiền Tôn thượng Giác hạ Nhiên làm Đường đầu Hòa thượng. Thọ giới xong, Ni Trưởng liền được Sư Cụ cho vào Sài Gòn để học thêm về Văn hóa.

Năm 1968, sau khi hồn tất chương trình Trung học Đệ Nhị Cấp, đỗ Tú tài, Ni trưởng vâng lời Sư Cụ trở về Huế, và sau đó được Bổn sư cho thọ giới Tỳ-kheo-ni tại Giới đàn Phước Huệ (Hải Đức, Nha Trang) được tổ chức vào ngày 19 tháng 6 năm Mậu Thân (14.07.1968) do Đại lão Hòa thượng trụ trì Tổ đình Tường Vân thượng Tịnh hạ Khiết làm Đường đầu Hòa thượng. Cũng trong năm này, Ni trưởng được cử làm Hiệu trưởng trường Mẫu giáo Lâm-tỳ-ni tại chùa Diệu Đế – Huế.

Năm 1970, Ni trưởng theo học chương trình Trung Đẳng Phật học tại Ni Viện Diệu Đức – Huế.

Năm 1972, Ni Trưởng vâng mệnh Sư Cụ Bổn sư vào các tỉnh phía Nam để hoằng hóa và được Sư Cụ ủy thác đảm nhận chức vụ Trụ trì chùa Diệu Giác –  Giám đốc Ký Nhi Viện tại đây. Đây là cơ sở mà Sư cụ Thích Nữ Diệu Không vừa mới tạo dựng tại miền Nam để dành cho Ni chúng miền Trung vào tu học.

Chùa Diệu Giác lúc bấy giờ, vốn chỉ là một vài dãy nhà lợp tôn rất đơn sơ, nằm giữa ruộng đồng vắng vẻ. Nhưng nhờ công đức của Ni Trưởng miệt mài tôn tạo, mà giờ đây đã trở thành một ngôi phạm vũ trang nghiêm; chùa trước viện sau,  quy mô đồ sộ, xứng đáng là một ngôi già lam danh tiếng trong vùng. Công tác trùng tu tôn tạo lớn nhất là vào năm 1986.

Năm 1989, Ni trưởng xin phép thành lập nhà Nuôi Dạy Trẻ Mồ Côi Diệu Giác và được Thành hội Phật giáo Tp.HCM cùng Ủy ban Nhân dân quận 2 cho phép và chính thức cử Ni trưởng đảm nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm cơ sở này. Năm 2005, Ni Trưởng phát nguyện chú tạo Đại hồng chung nặng 1 tấn và xây dựng tháp chuông để tôn trí tại chùa Diệu Giác.

Từ 1997 đến nay, Ni Trưởng đảm nhận  chức vụ Ủy viên Từ thiện Ban Đại Diện Phật giáo quận 2, và được mời làm Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh.

Ni trưởng được Giáo hội tấn phong Giáo phẩm Ni sư vào năm 2002 và Giáo phẩm Ni trưởng vào năm 2010.

Suốt cuộc đời tu học và hành đạo, Ni trưởng đã luôn luôn giữ gìn giềng mối kỷ cương của Giới Luật, Y chỉ và nương theo hạnh nguyện của các Bậc Tổ đức để lập hạnh cho mình, chăm lo hàng hậu học một cách chu đáo, tạo được uy tín lớn với đạo với đời. Từ năm 1972 đến lúc viên tịch, Ni trưởng đã độ cho nữ giới xuất gia trên 30 vị, trong đó có 25 vị Tỳ-kheo Ni, một số vị này hiện đang phục vụ trong các cơ sở của Giáo hội và các hội Từ thiện, cũng như đang hành đạo và tham phương tại một số nơi khắp trong và ngồi nước; cùng với hàng nghìn Phật tử hữa duyên đã được Ni trưởng truyền giới, quy y.

Năm 1980, Ni Trưởng xây dựng Đạo Tràng Phật Tử tu học tại chùa Diệu Giác và thành lập Gia Đình Phật Tử Đức Tâm

Dấu ấn để lại đậm nét nhất là các lớp học tình thương, nhà nuôi dạy trẻ mồ côi trong khuôn viên chùa Diệu Giác. Nhờ sự bảo bọc của chùa, của Ni trưởng mà các em đã được nuôi dưỡng, lớn lên và bước vào đời để phục vụ cho xã hội một cách tốt đẹp. Đó là một đại hạnh mà Ni trưởng để lại cho đời, cho hậu thế làm gương. Cuộc đời của Ni trưởng học và hành song đôi, nói và làm không bao giờ sai lệch; thường thường nói ít, làm nhiều. Đối với các Bậc Tôn đức và Chư tăng, Ni trưởng luôn luôn khiêm hạ, giữ đúng Bát Kỉnh pháp theo hạnh của Bổn sư, nên rất được mọi người kính quý.

Hằng năm, cứ vào mỗi mùa an cư, vì cảm mến công đức tu hành của chư Tăng Ni, nên Ni trưởng đã hướng dẫn các Phật tử phát tâm cúng dường các tự viện tại một số nơi như Bà Rịa Vũng Tàu và những vùng Cao nguyên hẻo lánh, cho đến tận miền Tây Nam bộ.

Ngồi ra, nhờ uy tín về giới hạnh sáng ngời, khả năng Phật học rất căn bản, nên thỉnh thoảng Ni trưởng còn đựơc mời tham dự trong ban Kiến đàn, hoặc làm thành viên ban Giám khảo tại các giới đàn được tổ chức cho Ni giới tại tổ đình Từ Nghiêm và các trú xứ khác. Nhưng với bản chất hiền hòa khiêm cung và luôn muốn được an tịnh ẩn tu, nên Ni trưởng chỉ thể hiện một cách hữu hạn và rất dè dặt khi được cử nhận những chức vụ nầy hay chức vụ nọ.

Với lòng từ bi và hạnh nguyện gần gũi, thương tưởng đến những người gặp hồn cảnh khó khăn, Ngồi việc nuôi dạy trẻ mồ côi, Ni trưởng còn luôn đích thân cùng Ni sư Huệ Trí và Ni chúng chùa Diệu Giác tổ chức nhiều cuộc cứu trợ tại các tỉnh có thiên tai bão lụt trên khắp mọi miền đất nước.

Ni trưởng cũng thường quan tâm và giúp đỡ những người già yếu bệnh tật, neo đơn không nơi nương tựa được có nơi ăn chốn ở, được khám chữa bệnh chu đáo và những gia đình có người thân qua đời gặp hồn cảnh khó khăn được có điều kiện khâm liệm tử tế.

Tất cả là những việc làm ấy đều xuất phát tự tấm lòng của một vị sứ giả Như Lai suốt đời tận tụy với hạnh nguyện cứu khổ, ban vui không từ lao nhọc…

Trong vài năm trở lại đây, do ảnh hưởng sự biến đổi khí hậu tồn cầu và nạn nước biển dâng, chùa Diệu Giác thường bị ngập nứơc lầy lội trong những mùa mưa. Ni Trưởng có tâm nguyện sẽ nâng cấp trùng tu chùa Diệu Giác, để cho Ni chúng và Phật tử ổn định tu học. mọi kế hoạch và dự tính đang được thực hiện đúng theo ý nguyện của Ni Trưởng, thì than ôi, giờ đây:                          

Chùa xưa chừ vắng vẻ
Đệ tử luống bơ vơ
Lòng người thương tiếc sững sờ
Thầy đi là hết… trăng mờ, sao băng!

Nhìn lại cuộc đời của Ni Trưởng:

Tuổi đồng chơn đã cát ái từ thân, xuất gia học đạo
Tuổi ngồi đôi mươi thì nhân duyên hội đủ, Cụ túc đăng đàn
Đất phương Nam, y bát hóa duyên
Sông Sài Gòn, dựng pháp tràng Diệu Giác
Từ đó,
Thập phương tụ hội,
Đạo tục triêm ân
Người hữu duyên giáo hóa bao lần
Kẻ bất hạnh mấy phen thùy thủ

Những tưởng, Ni trưởng còn tại thế lâu dài để gánh vác trọng trách với Đạo pháp và làm nơi nương tựa cho hàng Phật tử hữu duyên. Nhưng than ôi ! Cuộc đời vô thường, không ai đốn định trước được một việc gì, Ni trưởng đã bất ngờ ra đi vĩnh viễn mà không nói một lời từ biệt nào với hàng đệ tử, ngay cả những đệ tử cận kề, để bao tiếc thương cho những người ở lại.

Vẫn biết rằng: Đức Phật ra đời còn có ngày Niết bàn tịch diệt, sinh- già- bệnh- tử, thành- trụ-hoại- không là quy luật muôn thuở của các pháp hữu vi. Thế nhưng, làm sao chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động, khi nhớ lại cuộc đời của Ni Trưởng,  suốt bao năm miệt mài cần mẫn, đem hết tấc lòng son mà phụng sự cho đạo cho đời, với Bồ Để tâm không bao giờ lay chuyển. Đối với những bậc Ân Sư và các vị huynh đệ pháp lữ trong tông môn thì nghĩa tình trước sau trọn vẹn; đối nhân xử thế thì tế nhị khiêm cung, đối với đồ chúng thì một mực chăm lo, yêu thương lượng thứ.

Ôi thôi!
Hương xưa nay vẫn mãi còn
Nguyện xưa nay vẫn vuông tròn nguyên sơ
Ngày xưa tằm đã nhả tơ
Nay tằm hóa kiếp thành tờ kinh thiêng.

Ni trưởng đã thanh thản xả báo thân vào lúc 3h 45 phút ngày 18 tháng Giêng năm Tân Mão,  nhằm ngày 20 tháng 02 năm 2011, thọ thế 68 năm và 43 Hạ lạp.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản

Chấm điểm
Chia sẻ
Ni truong bao nguyet 1943 2011

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)