Thân thế
Phạm Đình Hổ 范廷琥tự Tùng Niên (松年), Bỉnh Trực (秉直), bút hiệu Đông Dã Tiều (東野樵), biệt hiệu Chiêu Hổ tiên sinh (昭琥先生). Họ Phạm định cư tại làng Đọc (xã Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương, nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) cho đến đời Phạm Đình Hổ là 11 đời. Làng Đọc là một làng giàu vì nghề nhuộm cổ truyền, dân gian lưu truyền câu vè: “Tiền làng Đọc, thóc làng Nhữ, chữ làng Chằm”. Họ Phạm đến đời thứ 4 thì giàu quý và nhiều người làm quan tri huyện, thông phán. Đời thứ 10 đỗ khoa Tuyển cử làm quan Thái bộc tự khanh. Đây là 1 gia tộc có truyền thống học thi đỗ làm quan trước để phù vua, sau “phì gia ấm tử” rạng danh gia tộc.
Phạm Đình Dư (là thân phụ của Phạm Đình Hổ) biệt hiệu là Diệc Hiên tiên sinh, ấu thơ giỏi văn võ, thông thạo lí số. Ông thi nhiều lần nhưng chỉ đỗ Hương cống. Để mưu sinh ông mở học hiệu tại Thăng Long, dạy văn, võ. Học sinh theo học rất đông đều có người đỗ đạt cao và là những bậc danh thần như Nguyễn Bá Tông, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Đăng Thọ, Vũ Tông Diễm, Trịnh Lĩnh Hầu, Tự Trung Bá, Phồn Trung Bá … Về sau theo lệ, ông được bổ làm Nho học huấn đạo phủ Quốc Oai. Năm 1756, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 17 ông thi đỗ khoa Tuyển cử và được bổ vào làm trong phủ chúa. Rồi làm việc ở bộ Binh, rồi thăng Hiến sát phó sử xứ Sơn Nam, rồi tuần phủ Sơn Tây. Năm Giáp Ngọ 1774, ông làm trí sĩ ở phường Hà Khẩu (nay là phố Hàng Buồm, Hà Nội). Năm 1778, ông được thăng Hằng tín đại phu Thái bộc tự khanh cai quản các xứ Thanh Hoa.
Diệc Hiên tiên sinh có 3 đời vợ. Chính thất sinh được 2 con trai và mất sớm, thứ thất không có con. Kế thất là thân mẫu của Phạm Đình Hổ – Bà Phạm Thị Xuyến sinh được 4 người con: 3 nam, 1 nữ. Phạm Đình Hổ là con út trong gia đình. Bà là ái nữ của gia tộc Phạm nổi tiếng ở Đông Ngạc. Quan Bảng nhãn Phạm Quang Trạch (Cụ Bảng Vẽ) là ông nội của bà. Thân Phụ của bà là trưởng nam của cụ Bảng, và thân mẫu của bà là ái nữ của Gia tộc Nhữ nổi tiếng ở Hoạch Trạch. Bà Phạm Thị Xuyến có khí chất, thạo văn tự, lại được giáo dục hết sức gia giáo.
Sự nghiệp chính trị
Phạm Đình Hổ sinh năm Mậu Tý (1768), nguyên quán ở hương Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông xuất thân trong một gia đình vọng tộc có truyền thống khoa bảng, là ấm sinh của dòng họ khoa hoạn lâu đời. Ngay từ thuở nhỏ, Phạm Đình Hổ đã sớm bộc lộ chí hướng của một kẻ sĩ, nuôi hoài bão “lập thân hành đạo”, lấy văn chương để lập danh và lưu truyền tiếng thơm cho đời.
Từ khi lên chín tuổi, ông đã được tiếp xúc và học đọc nhiều sách Hán, nền tảng học vấn vì thế khá vững chắc. Tuy nhiên, do thời cuộc rối ren cuối triều Lê, con đường khoa cử của Phạm Đình Hổ gặp nhiều trắc trở; suốt đời ông chỉ đỗ đến bậc sinh đồ, vào những năm cuối triều Lê Chiêu Thống.
Năm Kỷ Dậu (1789) là một năm đầy bi kịch đối với Phạm Đình Hổ. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông liên tiếp chịu bốn đại tang: cha, anh cả, anh thứ và mẹ lần lượt qua đời. Gia đình lâm vào cảnh tan tác, trong khi xã hội Đàng Ngoài rơi vào loạn lạc, nạn đói xảy ra liên tiếp. Đúng vào lúc ấy, vua Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh, triều Lê nhanh chóng sụp đổ, quyền lực rơi vào tay Tây Sơn. Giữa cơn biến động lớn của lịch sử, Phạm Đình Hổ phải sống cuộc đời cơ hàn, chủ yếu dạy học ở quê để mưu sinh.
Sau khi Gia Long lên ngôi, triều Nguyễn khôi phục lại việc học hành và khoa cử. Phạm Đình Hổ từng ba lần dự thi Hương nhưng đều không đỗ. Thời gian này, ông dạy học ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương, trong kinh thành Thăng Long. Bên cạnh việc giảng dạy, ông miệt mài biên soạn sách và giao du văn chương, kết bạn thơ với nhiều văn nhân đương thời, trong đó có nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Dưới triều Gia Long, gia đình Phạm Đình Hổ sống tại phường Thái Cực. Vợ ông làm nghề nhuộm, còn bản thân ông làm đủ mọi công việc có thể của một kẻ sĩ thất thế: dạy học theo lời mời, viết thuê văn bia, văn tế, câu đối, hoành phi… Qua thư từ gửi bạn bè, có thể thấy rõ hoàn cảnh sống hết sức túng thiếu của ông. Trong thư gửi Nguyễn Thạch Đình ở Tiên Điền, ông bộc bạch rằng do tao loạn mà thất học, bất đắc dĩ phải dạy học để mưu sinh. Trong thư gửi Phan Thanh Ngọc, ông than thở cảnh cùng quẫn của kẻ sĩ, tiến không có vốn liếng để lập thân, lùi cũng không có ruộng đất để cày cấy. Với học trò Đinh Khắc Hài, ông tự nhận mình “điên đảo cùng đồ”, chỉ sống lay lắt qua ngày. Những dòng thư ấy phản ánh rõ một cuộc đời dài đằng đẵng trong nghèo đói và bệnh tật.
Từ khi trưởng thành cho đến lúc vua Minh Mạng ra Bắc năm 1822, khi đã 54 tuổi, Phạm Đình Hổ hầu như luôn sống trong tình trạng khốn khó. Trong lần được yết kiến vua Minh Mạng tại Bắc thành, ông đã trực tiếp trình bày hoàn cảnh gia đình: vợ mất sớm, con trai trưởng chết yểu, con thứ đau yếu triền miên, trong nhà không tích trữ nổi một đấu gạo, bản thân thì bệnh tật liên miên. Chính cuộc sống cơ cực ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách và nội dung trước thuật của Phạm Đình Hổ. Ông không có điều kiện “đóng cửa tạ khách” để chuyên tâm viết sách như Phan Huy Chú, mà phải viết xen giữa những cơn bệnh và nỗi lo cơm áo thường nhật.
Về con đường làm quan, năm Canh Thìn (1820), triều đình có chỉ triệu ông cùng Phan Huy Chú vào Huế để chờ bổ dụng, nhưng vì đau ốm nên ông không đi được. Năm Tân Tỵ (1821), khi vua Minh Mạng ra Bắc, Phạm Đình Hổ được triệu đến hỏi chuyện học vấn, khoa cử và tình hình nhân tài đất Bắc. Nhà vua khuyên ông dâng nộp những sách vở, trước thuật của mình. Nhờ đó, ông được triệu vào Huế giữ chức Hành tẩu Viện Hàn lâm, song không lâu sau thì xin từ chức.
Đến năm Minh Mạng thứ bảy (1826), vua lại triệu Phạm Đình Hổ ra làm Thừa chỉ Viện Hàn lâm, rồi bổ nhiệm chức Tế tửu Quốc Tử Giám. Tuy nhiên, chỉ một năm sau, ông xin cáo bệnh và từ quan. Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực chép rằng, Phạm Đình Hổ là người cương trực, nghiêm khắc trong việc dạy học. Có lần ông phạt một công tử không tuân kỷ cương, dẫn đến mâu thuẫn, khiến ông thẹn lòng mà xin về Bắc thành dưỡng bệnh; nhà vua chuẩn cho và ban 100 quan tiền.
Năm Nhâm Thìn (1832), Phạm Đình Hổ chính thức xin trí sĩ. Năm Kỷ Hợi (1839), ông qua đời, hưởng thọ 71 tuổi, để lại một sự nghiệp trước thuật có giá trị, phản ánh sâu sắc xã hội và tâm thế của tầng lớp trí thức Việt Nam trong thời kỳ biến động cuối thế kỷ XVIII – đầu XIX.
Di sản văn chương
Phạm Đình Hổ, vốn muốn lấy văn thơ nổi tiếng ở đời, nên cuộc đời ông chủ yếu dành cho việc sáng tác và biên soạn sách hơn là việc ở chốn quan trường. Và nhờ đọc nhiều, đi nhiều, ông đã để lại nhiều công trình khảo cứu, biên soạn có giá trị thuộc đủ mọi lĩnh vực như luận lý, lịch sử, địa dư, trước thuật … tất cả đều bằng chữ Hán, nay còn lưu đến 22 trứ tác, đáng kể gồm: An Nam chí; Ô châu lục; Kiền khôn nhất lãm; Quốc triều hội điển; Đạt Man quốc địa đồ; Ải Lao sứ trình; Bang giao điển lệ; Nhật dụng thường đàm; Hi kinh lãi trắc; Quốc sử tiểu học; Hành tại diện đối; Quốc thư tham khảo; Châu Phong tạp kho; Vũ trung tùy bút; Tang thương ngẫu lục.
Ngoài ra thơ văn của ông có thể kể đến như: Đông Dã học ngôn thi tập; Tùng cúc liên mai tứ hữu tập; Bạn tiếp tồn phùng thi tập; Châu Phong thi tập.
Vinh danh
Phạm Đình Hổ đã được đặt tên phố ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Trước năm 2025, tên ông còn được đặt cho một đơn vị hành chính cấp xã tại quận Hoàn Kiếm: phường Phạm Đình Hổ, nay là một phần phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội.
Tài liệu tham khảo
- Phạm Đình Hổ, 1998,Vũ Trung tùy bút (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến). Nxb Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy Văn học TP. Hồ Chí Minh
- Dương Quảng Hàm, 1968, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản (bản in lần thứ 10) năm 1968.
- Tạ Ngọc Liễn, 2008, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Pham Dinh Ho (1768–1839)
Background
Pham Dinh Ho (范廷琥), courtesy names Tung Nien (松年) and Binh Truc (秉直), pen name Dong Da Tieu (東野樵), and sobriquet Chieu Ho Tien Sinh (昭琥先生). The Pham family settled in Doc village (Dan Loan commune, Duong An district, Hai Duong tran; now Nhan Quyen commune, Binh Giang district, Hai Duong province) for eleven generations up to Pham Dinh Ho. Doc village was prosperous thanks to its traditional dyeing craft, reflected in the folk saying: “Tien lang Doc, thoc lang Nhu, chu lang Cham.” By the fourth generation, the family had become wealthy and produced many officials such as district magistrates and judicial officers. The tenth generation passed the Tuyen Cu examination and served as Thai Boc Tu Khanh. This was a lineage with a strong tradition of learning, passing examinations, entering officialdom to serve the ruler, and thereby bringing honor to the family.
Pham Dinh Du, Pham Dinh Ho’s father, known as Diec Hien Tien Sinh, was gifted in both letters and martial arts from a young age and was proficient in divination and numerology. Although he sat for examinations many times, he attained only the Huong Cong degree. To make a living, he opened a school in Thang Long, teaching both civil and martial subjects. Many of his students achieved high distinction and became renowned officials, including Nguyen Ba Tong, Nguyen The Lich, Nguyen Dang Tho, Vu Tong Diem, Trinh Linh Hau, Tu Trung Ba, and Phon Trung Ba. Later, he was appointed Confucian Instructor of Quoc Oai prefecture. In 1756 (Canh Hung year 17), he passed the Tuyen Cu examination and served in the lord’s court, then worked at the Ministry of War, rose to Deputy Surveillance Commissioner of Son Nam, and later became Governor of Son Tay. In 1774 (Giap Ngo), he retired in Ha Khau ward (now Hang Buom Street, Hanoi). In 1778, he was promoted to Hang Tin Dai Phu and Thai Boc Tu Khanh, overseeing the Thanh Hoa regions.
Diec Hien Tien Sinh had three wives. The principal wife bore two sons and died early; the secondary wife had no children. The third wife, Pham Thi Xuyen—Pham Dinh Ho’s mother—had four children: three sons and one daughter; Pham Dinh Ho was the youngest. She was the beloved daughter of the renowned Pham family of Dong Ngac. The Bang Nhan laureate Pham Quang Trach (Cu Bang Ve) was her grandfather. Her father was the eldest son of Cu Bang, and her mother was the beloved daughter of the famous Nhu family of Hoach Trach. Pham Thi Xuyen was refined, literate, and strictly educated.
Political Career
Pham Dinh Ho was born in Mau Ty year (1768), originally from Dan Loan village, Duong An district, Thuong Hong prefecture, Hai Duong tran (now Nhan Quyen commune, Binh Giang district, Hai Duong province). He came from an eminent scholarly family with a long tradition of examinations and official service and was an am sinh of an established bureaucratic lineage. From an early age, he showed the aspirations of a Confucian scholar, nurturing the ideal of “establishing oneself and practicing the Way,” seeking to make a name through literature and leave a lasting reputation.
At the age of nine, he had already studied many classical Chinese texts, giving him a solid scholarly foundation. However, due to the turmoil at the end of the Later Le dynasty, his examination career was fraught with difficulties; throughout his life, he attained only the sinh do degree, toward the end of the reign of Le Chieu Thong.
The year Ky Dau (1789) was tragic for him. In a short span, he suffered four major bereavements: his father, eldest brother, second brother, and mother all passed away. His family was devastated, while Dang Ngoai plunged into chaos and repeated famines. At that time, King Le Chieu Thong sought aid from the Qing, the Le dynasty quickly collapsed, and power fell to the Tay Son. Amid these upheavals, Pham Dinh Ho lived in poverty, mainly teaching in his hometown to survive.
After Gia Long ascended the throne, the Nguyen dynasty restored education and the examination system. Pham Dinh Ho sat the provincial examinations three times but did not pass. During this period, he taught in Thai Cuc ward, Tho Xuong district, in the capital Thang Long. Alongside teaching, he diligently compiled books and engaged in literary exchanges, befriending many contemporary writers, including the poetess Ho Xuan Huong.
Under Gia Long, his family lived in Thai Cuc ward. His wife worked as a dyer, while he took on whatever work a frustrated scholar could find: teaching by invitation, composing stele inscriptions, funeral orations, parallel sentences, and horizontal plaques. His letters reveal extreme hardship. Writing to Nguyen Thach Dinh in Tien Dien, he confessed that due to chaos he had been deprived of formal study and was compelled to teach for a living. In letters to Phan Thanh Ngoc, he lamented the plight of the impoverished scholar—lacking capital to advance and lacking land to retreat to farming. To his student Dinh Khac Hai, he described himself as “utterly destitute,” barely surviving day to day. These letters reflect a long life marked by poverty and illness.
From adulthood until Emperor Minh Mang’s northern tour in 1822, when Pham Dinh Ho was already 54, he lived largely in hardship. When granted an audience with Minh Mang in Bac Thanh, he directly reported his circumstances: his wife had died early, his eldest son had died young, his second son was chronically ill, there was not even a peck of rice stored at home, and he himself suffered constant illness. This harsh life deeply shaped his style and the substance of his writings. Unlike Phan Huy Chu, he lacked the conditions to withdraw and write in seclusion; instead, he wrote amid illness and daily worries over subsistence.
Regarding official service, in Canh Thin year (1820) the court summoned him and Phan Huy Chu to Hue for appointment, but he could not go due to illness. In Tan Ty year (1821), when Minh Mang traveled north, Pham Dinh Ho was summoned to discuss learning, examinations, and northern talent. The emperor advised him to submit his writings. As a result, he was appointed Han Lam Vien Hanh Tau in Hue, but soon resigned.
In Minh Mang year seven (1826), he was again summoned to serve as Han Lam Vien Thua Chi and then appointed Te Tuu of the Quoc Tu Giam. However, a year later he resigned due to illness. Quoc Su Di Bien by Phan Thuc Truc records that Pham Dinh Ho was upright and strict in teaching; once he punished a noble youth for violating discipline, leading to conflict, after which he felt ashamed and requested to return to Bac Thanh to recuperate. The emperor approved and granted him 100 quan.
In Nham Thin year (1832), Pham Dinh Ho formally retired. In Ky Hoi year (1839), he passed away at the age of 71, leaving behind a valuable body of writings that profoundly reflect Vietnamese society and the intellectual mindset during the turbulent late eighteenth and early nineteenth centuries.
Literary Legacy
Pham Dinh Ho aspired to gain renown through literature; thus, his life was devoted more to writing and compilation than to officialdom. Through extensive reading and travel, he produced many valuable scholarly works across fields such as ethics, history, geography, and miscellaneous studies, all in classical Chinese. Twenty-two works survive, notably: An Nam Chi; O Chau Luc; Kien Khon Nhat Lam; Quoc Trieu Hoi Dien; Dat Man Quoc Dia Do; Ai Lao Su Trinh; Bang Giao Dien Le; Nhat Dung Thuong Dam; Hi Kinh Lai Trac; Quoc Su Tieu Hoc; Hanh Tai Dien Doi; Quoc Thu Tham Khao; Chau Phong Tap Kho; Vu Trung Tuy But; Tang Thuong Ngau Luc.
His poetry collections include: Dong Da Hoc Ngon Thi Tap; Tung Cuc Lien Mai Tu Huu Tap; Ban Tiep Ton Phung Thi Tap; and Chau Phong Thi Tap.
Commemoration
Pham Dinh Ho’s name has been given to streets in Hanoi and Ho Chi Minh City. Before 2025, his name was also used for a ward-level administrative unit in Hoan Kiem district—Pham Dinh Ho Ward—now part of Cua Nam Ward, Hanoi.
References
- Phạm Đình Hổ, 1998,Vũ Trung tùy bút (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến). Nxb Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy Văn học TP. Hồ Chí Minh
- Dương Quảng Hàm, 1968, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản (bản in lần thứ 10) năm 1968.
- Tạ Ngọc Liễn, 2008, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
Tiếng Pháp
Pham Dinh Ho (1768–1839)
Origines et famille
Pham Dinh Ho (范廷琥), noms de courtoisie Tung Nien (松年) et Binh Truc (秉直), nom de plume Dong Da Tieu (東野樵), surnom Chieu Ho tien sinh (昭琥先生). La famille Pham s’est établie au village de Doc (commune de Dan Loan, district de Duong An, province de Hai Duong ; aujourd’hui commune de Nhan Quyen, district de Binh Giang, province de Hai Duong) et y demeura jusqu’à la onzième génération, celle de Pham Dinh Ho. Le village de Doc était prospère grâce à son artisanat traditionnel de teinture ; un dicton populaire disait : « L’argent du village Doc, le riz du village Nhu, les lettres du village Cham ». À partir de la quatrième génération, la famille s’enrichit et plusieurs de ses membres devinrent magistrats de district ou fonctionnaires judiciaires. À la dixième génération, l’un d’eux réussit l’examen de Tuyen cu et fut nommé Thai boc tu khanh. Il s’agit d’un lignage attaché de longue date aux études et aux concours, d’abord pour servir le souverain, puis pour assurer la prospérité et la renommée de la famille.
Pham Dinh Du, père de Pham Dinh Ho, surnommé Diec Hien tien sinh, était doué dès l’enfance aussi bien pour les lettres que pour les arts martiaux et maîtrisait la divination. Bien qu’il n’ait obtenu que le grade de Huong cong, il ouvrit une école a Thang Long pour enseigner les lettres et les arts martiaux. De nombreux élèves y étudièrent et réussirent brillamment, devenant de grands dignitaires, tels Nguyen Ba Tong, Nguyen The Lich, Nguyen Dang Tho, Vu Tong Diem, Trinh Linh Hau, Tu Trung Ba, Phon Trung Ba, etc. Plus tard, il fut nommé instructeur confucéen du district de Quoc Oai. En 1756 (annee Canh Hung 17), il réussit l’examen de Tuyen cu et entra au service du palais princier, puis travailla au ministere de la Guerre, avant d’etre promu Hien sat pho su de Son Nam, puis gouverneur de Son Tay. En 1774 (annee Giap Ngo), il se retira a Ha Khau (actuelle rue Hang Buom, Hanoi). En 1778, il fut promu Hang tin dai phu, Thai boc tu khanh, charge de l’administration des regions de Thanh Hoa.
Diec Hien tien sinh eut trois epouses. L’epouse principale donna naissance a deux fils et mourut jeune ; la concubine n’eut pas d’enfants. La troisieme epouse, Pham Thi Xuyen, mere de Pham Dinh Ho, eut quatre enfants (trois fils et une fille). Pham Dinh Ho etait le benjamin. Pham Thi Xuyen etait issue d’une grande famille Pham de Dong Ngac ; le lauréat Bang nhan Pham Quang Trach (surnomme Cu Bang Ve) etait son grand-pere. Son pere etait l’ainé de ce dernier, et sa mere appartenait a la celebre famille Nhu de Hoach Trach. Dotee d’un temperament distingue et d’une solide formation litteraire, Pham Thi Xuyen fut elevee dans une stricte tradition familiale.
Carriere politique
Pham Dinh Ho naquit en 1768 (annee Mau Ty), originaire de Dan Loan, district de Duong An, prefecture de Thuong Hong, province de Hai Duong (aujourd’hui Nhan Quyen, Binh Giang, Hai Duong). Issu d’une grande famille de lettrés-fonctionnaires, il etait un am sinh d’un lignage ayant longtemps servi l’Etat. Des son jeune age, il manifesta l’ambition d’un lettré, aspirant a « etablir sa personne et suivre la voie », en se faisant un nom par les lettres.
A partir de neuf ans, il etudia de nombreux ouvrages en chinois classique, acquerant une base solide. Toutefois, en raison des troubles de la fin de la dynastie Le, sa carriere aux examens fut semee d’obstacles ; toute sa vie, il ne depassa que le rang de sinh do, a la fin du regne de Le Chieu Thong.
L’annee Ky Dau (1789) fut tragique : en peu de temps, il perdit son pere, son frere aine, son second frere et sa mere. La famille fut desunie, tandis que le Nord du pays sombrerait dans les troubles et la famine. Au meme moment, Le Chieu Thong appela a l’aide la dynastie Qing ; la dynastie Le s’effondra rapidement et le pouvoir passa aux Tay Son. Dans ce contexte, Pham Dinh Ho vecut dans la misere, gagnant sa vie surtout par l’enseignement au village.
Apres l’avenement de Gia Long, la dynastie Nguyen restaura l’enseignement et les concours. Pham Dinh Ho se presenta trois fois a l’examen provincial (Thi Huong) sans succes. Il enseigna alors dans le quartier Thai Cuc, district de Tho Xuong, a Thang Long. Parallelement, il redigea de nombreux ouvrages et frequenta les milieux litteraires, se liant d’amitie poetique avec plusieurs auteurs, dont la poétesse Ho Xuan Huong.
Sous Gia Long, la famille vecut a Thai Cuc. Son epouse exerçait le metier de teinturiere ; lui-meme multipliait les travaux d’un lettré defavorise : enseignement a la demande, redaction d’inscriptions, d’oraisons funebres, de distiques et de panneaux calligraphies. Sa correspondance revele une grande precarite. Dans une lettre a Nguyen Thach Dinh a Tien Dien, il confia que, a cause des troubles, il avait du interrompre ses etudes et enseigner pour survivre. A Phan Thanh Ngoc, il deplorait la misere du lettré sans ressources, incapable ni d’avancer ni de se replier. A son eleve Dinh Khac Hai, il se decrivait comme « accable et sans issue », survivant au jour le jour. Ces lettres temoignent d’une vie longue marquee par la pauvrete et la maladie.
De l’age adulte jusqu’a la venue de Minh Mang au Nord en 1822, a 54 ans, Pham Dinh Ho vecut presque toujours dans la difficulte. Lorsqu’il fut recu par Minh Mang a Bac thanh, il exposa directement sa situation : epouse decedee tot, fils aine mort jeune, second fils maladif, pas meme un boisseau de riz en reserve, et lui-meme continuellement malade. Cette vie eprouvante influença profondement son style et le contenu de ses ecrits. Contrairement a Phan Huy Chu, il ne pouvait se retirer pour ecrire paisiblement, mais redigeait entre maladies et soucis quotidiens.
Concernant sa carriere officielle, en 1820 (Canh Thin), la cour l’appela avec Phan Huy Chu a Hue pour une nomination, mais la maladie l’en empecha. En 1821 (Tan Ty), lors du voyage de Minh Mang au Nord, il fut convoque pour parler des etudes, des concours et des talents du Nord. Le souverain l’encouragea a soumettre ses ouvrages. Il fut alors appele a Hue comme Hanh tau a l’Academie Han Lam, mais demissionna peu apres. En 1826 (Minh Mang 7), il fut de nouveau nomme Thua chi de l’Academie Han Lam, puis Te tuu du Quoc Tu Giam. Un an plus tard, il demanda a se retirer pour raison de sante. Le Quoc su di bien de Phan Thuc Truc note qu’il etait droit et strict dans l’enseignement ; apres avoir puni un jeune aristocrate indiscipline, un conflit s’ensuivit, ce qui le conduisit, par honte, a demander son retour a Bac thanh pour se soigner. Le roi l’autorisa et lui accorda 100 ligatures de monnaie.
En 1832 (Nham Thin), Pham Dinh Ho demanda officiellement sa retraite. Il deceda en 1839 (Ky Hoi), a l’age de 71 ans, laissant une oeuvre importante, reflet profond de la societe et de l’etat d’esprit des intellectuels vietnamiens a la charniere de la fin du XVIIIe et du debut du XIXe siecle.
Heritage litteraire
Souhaitant se faire connaitre par la litterature, Pham Dinh Ho consacra l’essentiel de sa vie a l’ecriture et a la compilation d’ouvrages plutot qu’a la carriere administrative. Grand lecteur et voyageur, il laissa de nombreux travaux de recherche et de compilation touchant a la logique, l’histoire, la geographie et d’autres domaines, tous rediges en chinois classique. On en conserve aujourd’hui 22, parmi lesquels : An Nam chi ; O chau luc ; Kien khon nhat lam ; Quoc trieu hoi dien ; Dat Man quoc dia do ; Ai Lao su trinh ; Bang giao dien le ; Nhat dung thuong dam ; Hi kinh lai trac ; Quoc su tieu hoc ; Hanh tai dien doi ; Quoc thu tham khao ; Chau Phong tap kho ; Vu trung tuy but ; Tang thuong ngau luc.
Ses recueils poetiques et litteraires comprennent notamment : Dong Da hoc ngon thi tap ; Tung cuc lien mai tu huu tap ; Ban tiep ton phung thi tap ; Chau Phong thi tap.
Distinctions
Le nom de Pham Dinh Ho a ete donne a des rues a Hanoi et a Ho Chi Minh Ville. Avant 2025, il designait egalement une unite administrative au niveau communal dans le district de Hoan Kiem : le quartier Pham Dinh Ho, aujourd’hui integre au quartier Cua Nam, ville de Hanoi.
References bibliographiques
- Phạm Đình Hổ, 1998,Vũ Trung tùy bút (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến). Nxb Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy Văn học TP. Hồ Chí Minh
- Dương Quảng Hàm, 1968, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản (bản in lần thứ 10) năm 1968.
- Tạ Ngọc Liễn, 2008, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
Tiếng Trung
范廷琥(Pham Dinh Ho,1768–1839)
生平身世
范廷琥(范廷琥,Pham Dinh Ho),字松年(松年,Tung Nien),秉直(秉直,Binh Truc),号东野樵(東野樵,Dong Da Tieu),别号昭琥先生(昭琥先生,Chieu Ho Tien Sinh)。范氏家族自定居于读村(丹峦社、塘安县、海阳镇,今属海阳省平江县仁权社)起,至范廷琥已历十一世。读村因传统染织业而富庶,民间流传歌谣云:“钱在读村,谷在女村,字在詹村”。范氏至第四世已显贵,多人出任知县、通判;第十世中选“选举科”,官至太仆寺卿。此为一重科第、以仕进辅君、以“肥家荫子”光耀门楣之世家。
范廷琥之父范廷余(范廷餘,Pham Dinh Du),别号亦轩先生(亦轩先生,Diec Hien Tien Sinh),幼年文武兼备,通晓理数,多次应试仅中乡贡。为生计,开馆于升龙,教授文武,门生众多,且多成名臣,如阮伯宗(Nguyen Ba Tong)、阮世历(Nguyen The Lich)、阮登寿(Nguyen Dang Tho)、武宗焰(Vu Tong Diem)、郑领侯(Trinh Linh Hau)、自忠伯(Tu Trung Ba)、蕃忠伯(Phon Trung Ba)等。后循例授国威府儒学训导。景兴十七年(1756)中选举科,入王府供职,继而任兵部,升山南道宪察副使,后任山西巡抚。甲午年(1774)致仕,居河口坊(今河内行帆街)。1778年,升恒信大夫太仆寺卿,统辖清化诸处。
亦轩先生三娶:正室生二子而早逝,次室无子;继室为范廷琥之生母范氏绚(范氏绚,Pham Thi Xuyen),生四子女(三男一女),范廷琥为幼子。范氏绚出自东谔著名范氏家族,其祖父为榜眼范光泽(范光澤,Pham Quang Trach,俗称“榜绘”),其父为榜眼长子,其母则出自获泽著名女氏家族。范氏绚气质端方,通晓文墨,家教甚严。
政治生涯
范廷琥生于戊子年(1768),原籍丹峦乡、塘安县、上洪府、海阳镇(今海阳省平江县仁权社)。其出身望族,世代科宦,自幼立志“立身行道”,以文章立名、垂芳后世。九岁起即研读汉籍,学业根基深厚。然而,值黎末世局动荡,其科举之路屡遭挫折,终生仅得生徒之资,止于黎昭统末年。
己酉年(1789)为其人生大劫:短期内父、长兄、次兄及母相继去世,家道凋零;北河社会动乱、饥荒频仍。其时黎昭统求援清廷,黎朝迅速覆亡,西山掌权。巨变之中,范廷琥生活困顿,主要在乡里授徒以维生。
嘉隆帝即位后,阮朝恢复教育与科举。范廷琥三赴乡试皆不第,期间在升龙京城寿昌县太极坊授业。除教学外,勤于著述、诗文交游,与当世文人唱和,其中包括女诗人胡春香(胡春香,Ho Xuan Huong)。
嘉隆朝时,范廷琥一家居太极坊,妻从事染织,其本人则以士人失意之身,兼做诸般营生:应邀授课、代撰碑文、祭文、对联、匾额等。其致友人书信中,屡陈困境:致阮石亭(阮石亭,Nguyen Thach Dinh)书言因世乱失学,不得已而教书;致潘清玉(潘清玉,Phan Thanh Ngoc)书叹士人进无资以立身,退无田以耕;与门生丁克骇(丁克骇,Dinh Khac Hai)言自处“颠倒穷途”,苟延岁月。诸信折射其长期贫病交加之人生。
自成年至明命帝北巡(1822)时年五十四,范廷琥几乎始终处于窘迫。北城觐见明命帝时,直陈家况:妻早亡、长子夭折、次子久病、家无隔夜之粮,自身疾病缠绵。此种艰辛深刻影响其著述风格与内容——无从闭门专著,只能在病痛与生计忧虑之间断续写作。
仕途方面:庚辰年(1820),朝廷诏召其与潘辉注(潘輝注,Phan Huy Chu)入顺化待用,因病未行。辛巳年(1821),明命帝北巡,召问学业、科举与北地人才,劝其进呈著作。旋入顺化,任翰林院行走,未久即请辞。明命七年(1826),复召为翰林院承旨,继授国子监祭酒;一年后称病致仕。《国史遗编》载其为人刚直,治学严谨,曾惩戒违纪贵公子,致生嫌隙,因愧而请归北城养病,帝准并赐钱百贯。壬辰年(1832)正式告老。己亥年(1839)卒,享年七十一,遗著丰厚,深刻反映十八世纪末至十九世纪初社会变迁与士人心态。
文学遗产
范廷琥志在以文名世,毕生重在创作与编纂。因博览多闻、行旅广泛,留下涵盖伦理、历史、地理、制度等多领域之汉文著作,今存二十二种,尤著者有:《安南志》《乌州录》《乾坤一览》《国朝会典》《达蛮国地图》《隘牢使程》《邦交典例》《日用常谈》《希经赖测》《国史小学》《行在面对》《国书参考》《州峰杂库》《雨中随笔》《桑沧偶录》等。诗文集尚有:《东野学言诗集》《松菊连梅四友集》《伴接存逢诗集》《州峰诗集》。
纪念
范廷琥之名被用于河内市与胡志明市街道。至2025年前,其名亦用于河内还剑郡一基层行政单位——范廷琥坊,今并入河内市门南坊(Cửa Nam)。
参考资料
- Phạm Đình Hổ, 1998,Vũ Trung tùy bút (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến). Nxb Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy Văn học TP. Hồ Chí Minh
- Dương Quảng Hàm, 1968, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu Sài Gòn xuất bản (bản in lần thứ 10) năm 1968.
- Tạ Ngọc Liễn, 2008, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nxb Thanh Niên, Hà Nội.