Phạm Phú Thứ (1820 – 1882)

Phạm Phú Thứ (1820 – 1882)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Trên báo Ngày Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn trước đây in bức tranh biếm họa, vẽ các ông quan Annam sang Pháp. “Phát hiện” của họ về văn minh của Paris chỉ là một câu “trớt quớt”: “Ở đây nhiều… ông Tây bà đầm quá!”. Nghe tức cười mà chua chát. Điều này cho thấy, không phải ai đi nước ngoài cũng đều chú tâm học hỏi, tìm hiểu văn minh của họ – để sau này trở về canh tân đất nước. Ở đầu thế kỷ XIX, có một nhân vật rất đáng để hậu thế học tập về tinh thần cầu tiến là Tiến sĩ Phạm Phú Thứ. Cho đến nay chúng ta vẫn còn ngạc nhiên về những gì “mắt thấy tai nghe” mà ông đã thể hiện trong tập Tây hành nhật ký – bắt đầu từ ngày 21/6/1863 và kết thúc vào ngày 28/3/1864 – nhân chuyến đi sứ của các quan chức cao cấp triều Nguyễn sang Pháp và Y Pha Nho nhằm thương lượng, chuộc lại đất đai của Nam kỳ đã mất vào tay giặc Pháp. Trong tập Người Quảng Nam (NXB Đà Nẵng – 2007), chúng tôi có nhận xét: “Đọc lại tập sách này (qua bản dịch của Tô Nam, Văn Vinh – NXB Văn Nghệ TP.HCM – 2001), ta phải kinh ngạc trước sự quan sát tỉ mỉ, ghi chép của cụ. Nói cách khác, qua tập sách này, cụ bộc lộ rất rõ tư duy của một nhà báo lão luyện; cụ có những thao tác nghiệp vụ của nhà báo hiện đại, biết chọn lọc thông tin, biết đặt vấn đề tìm hiểu cặn kẽ, chứ không đơn thuần thấy gì ghi nấy. Cách ghi chép của cụ cho thấy cụ có tầm tư duy của một nhà khoa học ứng dụng, ham thích quan sát, khảo sát từ thực tiễn. Tôi ngạc nhiên khi đọc những đoạn cụ miêu tả khi tham quan nhà máy, sự vận hành máy móc ở các nước mà cụ đặt chân tới. Thậm chí phong tục, tập quán, nghi lễ ngoại giao… cụ cũng không bỏ sót. Có thể ghi nhận Tây hành nhật ký là tập khảo sát công phu, nghiêm túc về nền công nghiệp hiện đại của châu Âu thời ấy. Công phu đến thế là cùng. Cùng trong chuyến đi này, nếu cụ Phan Thanh Giản cho rằng, “bá ban xảo nghệ” phương Tây có thể sánh bằng trời đất “trên cả tuyệt vời”, chỉ có sự sống chết họ chưa can thiệp được mà thôi, thì cụ Phạm Phú Thứ có phần bình tĩnh hơn. Theo cụ:

Giá như phương Đông sớm giỏi công nghệ,
Ba-lê, Luân-đôn chắc gì đã hơn ta.

Chính nhờ sự quan sát, ghi nhận và học hỏi lúc trở về nước, cụ mới có thể giúp cho nông dân nhiều địa phương cải tiến cách tát nước vào đồng ruộng. Nếu trước đây dùng sức người với gàu sòng, thì nay cụ sáng tạo bánh xe tát nước với sức trâu. Ở Quảng Nam, sáng kiến này được người ta gọi bằng cái tên thân mật, trìu mến “xe trâu”. Trong bài thơ “Đứng trên bờ Nông Giang xem xe nước nhớ em cô là Tư vụ Lương Văn Tấn”, cụ viết:

Nướng đất, đốt rừng hạ nóng a,
Ba vùng bứt rứt ngóng mưa sa.
Gàu xưa hao tốn bao công sức,
Xe nước mới này tiện lợi là.
Thay thế sức người thêm giảm phí,
Thế gay, giữ vụng: dại riêng ta.
Mạch Tây chuyện lạ ai còn nhớ?
Ta nhớ đến người biển Việt xa.

(Quang Uyển dịch)

Câu thơ thứ 6 cho biết, cụ đã thấy xe trâu này ở Ai Cập. Mạch Tây là tên nước Ai Cập xưa phiên âm tiếng Hán. Ai dám chắc là ngoài việc ghi chép, cụ không vẽ lại hình ảnh “xe trâu” ở xứ người để sau này đem về áp dụng tại cố hương? Có thể nói, cụ Phạm Phú Thứ là người Quảng Nam có tư tưởng canh tân một cách triệt để” (trang 145 – 146).

Thân thế

Phạm Phú Thứ sinh ngày 27/1/1821 tại Quảng Nam trong một gia đình có truyền thống hiếu học, đậu Tiến sĩ năm 22 tuổi. Ông ra làm quan trong tình thế đất nước đang có nhiều biến động. Sự kiện quan trọng nhất là năm 1862, triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Nhâm Tuất, cả thẩy có 12 điều khoản, nhưng đau đớn nhất đối chúng ta vẫn là điều khoản thứ 3: “Ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn được nhượng cho nước Pháp. Nước Nam không được ngăn trở tàu buôn Pháp mượn đường sang buôn bán với Căm – bốt và cũng phải để chiến thuyền Pháp tự do vào thám hiểm trên các sông ngòi của nước này”. Than ôi! Đất Gia Định là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn, là đất quê ngoại của vua Tự Đức chính vì thế nhà vua càng đau đớn, càng dằn vặt… Bằng mọi cách phải chuộc lại ba tỉnh đã mất. Tháng 6/1863, vua Tự Đức cử quan Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản làm chánh sứ, quan Tham tri Lại bộ Phạm Phú Thứ làm phó sứ dẫn đầu phái đoàn sang Pháp. Nhân đây xin nhắc lại, lâu nay trên các sách sử đều “lưu truyền” giai thoại chính Phạm Phú Thứ là người có “sáng kiến” đã lấy khăn gói màu đỏ tươi để làm cờ khi tàu sắp vào Kênh Suez, vì “theo thủ tục quốc tế, khi tàu của một vị sứ thần ngoại quốc đến một hải cảng nào, thì hải cảng ấy phải bắn 19 phát súng lệnh để chào mừng, và tàu phải thượng quốc kỳ của mình lên để đáp lễ. Vậy xin đại sứ thượng quốc kỳ của nước Đại Nam lên cột tàu để đáp lễ cùng chính phủ Ai Cập khi họ bắn súng chào”. Do phái đoàn không lường trước tình thế này nên trong “cái khó ló cái khôn” như trên. Để cho “hợp lý” nguời ta còn cho biết các đại quan nhà ta đã thêu vào cái khăn ấy bốn chữ “Đại Nam Khâm Sứ” thượng trên đỉnh cột tàu Européen phấp phới vẫy chào đáp lễ. Thật ra thông tin này không đáng tin cậy, trước một sự kiện quan trọng như trên tại sao các chính sử không ghi lại; hơn nữa, Phạm Phú Thứ là “người trong cuộc” sao ông không ghi lại trong nhật ký của mình?

Sự nghiệp

Sau chuyến đi này, Phạm Phú Thứ đã làm được một việc rất đáng quý. Ông đã dâng vua Tự Đức tập Tây hành nhật ký, Tây phù thi thảo cùng nhiều bản ghi chép những điều mắt tai nghe lúc đi công cán. Không những thế, ông còn tìm kiếm, sưu tập những cuốn sách liên quan đến nhiều lãnh vực khác. Chẳng hạn, Bác vật tân biên (sách về khoa học kỹ thuật), Khai môi yếu pháp (sách về cách khai mỏ), Hàng hải kim châm (sách về cách cách đi biển), Vạn quốc công pháp (sách về cách giao thiệp quốc tế)… Tiếc rằng, vua Tự Đức đã không đánh giá hết những tư tưởng canh tân của ông.

Phải hiểu những thăng trầm trong cuộc đời Phạm Phú Thứ, ta mới thấy ông là người dũng cảm. Dù đã từng bị giáng chức vì viết sớ can vua, nhưng ông vẫn tiếp tục bày tỏ thái độ, chứ không e dè lựa chọn cách sống “ngậm miệng ăn tiền”… Năm 1849, ông được đề bạt về Viện Tập hiền với nhiệm vụ ghi lại lời nói và hành động của nhà vua, rồi làm việc ở Tòa Kinh diên (phòng giảng sách cho vua). Bấy giờ vua Tự Đức mới lên ngôi, còn trẻ, ham chơi và lơ là việc triều chính nên ông viết sớ can gián – trong đó có những câu mà Đại Nam liệt truyện nhận xét “Lời lẽ trong tờ không còn kiêng sợ”. Ông viết: “Lễ đại đình ít thấy ra triều thị, nhạc nội uyển kèn trống suốt cả đêm, nhà Kinh diên lâu không tới giảng, chốn triều đình lại không ban hỏi, thần tử ở bốn phương phủ huyện cũng lâu không được thừa chỉ thanh vấn…”. Việc làm dũng cảm này bị nhà vua nổi giận và “thuyên chuyển công tác”! Sau ba tháng lao động cực nhọc “chí lớn treo chuồng ngựa” ở trạm Thừa Nông – phía nam kinh thành Huế, nhờ bà Từ Dũ can thiệp, ông mới được về Kinh giữ chức Tu thư hiệu lực (biên chép sách vở để chuộc tội) rồi năm 1851, ông “Xuất ngoại hiệu lực”, với danh nghĩa đưa tiễn quan nhà Thanh bấy giờ bị bão dạt vào Cửa Thuận về Quảng Châu. Chuyến đi này đã mởrộng tầm nhìn, như chính ông thừa nhận: “Quang cảnh thế giới đã thức tỉnh giấc mộng trần tục của tôi”.

Một dịp may khác có ý nghĩa tác động đến tư tưởng canh tân của ông là năm 1856, lúc đang làm Án sát Thanh Hóa, ông được nhà vua giao nhiệm vụ hướng dẫn việc chế tạo một chiếc tầu thủy vận tải “kiểu mới” và một chiếc tầu bọc đồng. Một quan văn lại giỏi việc thao tác khoa học kỹ thuật đến mức được “khen thưởng bốn lần” cũng là điều lạ. Cũng chính trong thời điểm này, ông đã dâng lên vua Tự Đức tờ tấu “Niết ty Thanh Hóa mạnh xuân thỉnh an, giáp trần thời chính”. Chẳng hạn, trong phần “Mở rộng việc vận tải buôn bán để giảm bớt khoản vận tải đường biển của Nhà nước”, Phạm Phú Thứ trình bày:

  1. Trên đặt ra Cục Vận tải đường biển là để tích lũy lương thực ở Kinh đô và cung cấp cho sự tiêu dùng của Nhà nước; hơn nữa, còn lấy đường biển để luyện tập thủy chiến. Chủ trương ấy rất đúng.
  2. Nhưng trên thực tế, ta thấy có mấy điều bất lợi trong thực hiện:

a) Thái bình lâu ngày, chỉ huy và binh lính trở nên chây lười, trễ nải, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc vận tải và tuần phòng ven bờ biển, gây ra nhiều thiệt hại cho Nhà nước. Tinh thần ấy khác xa ý thức lo việc riêng, tiếc của riêng của thuyền buôn.

b) Binh lính thuyền vận tải của Nhà nước, đa số không quen sóng gió bằng thủy thủ các thuyền buôn.

c) Thuyền vận tải của nhà nước, kích thước to lớn, khó xoay xở ngoài khơi khi gặp tai nạn, thua hẳn thuyền buôn kích thước gọn nhẹ.

Bằng chứng là, riêng ở tỉnh Thanh Hóa năm ngoái (1856) có 4 chiếc thuyền vận tải của nhà nước bị tai nạn ngoài biển.

d) Hậu quả của chính sách này có bốn điểm: Nhà nước mất thuyền, kho thóc gạo dự trữ thiếu hụt, thủy thủ chết đuối, số còn sống sót phải chịu bồi thường.

Nay, xin đề nghị:

a) Trộm nghe ở kinh đô, kho dự trữ lương thực đã thừa đủ ba năm, vậy, về số chi dùng hằng năm ở Kinh, xin cho các tỉnh đóng nộp (tính trên cơ sở thuế nông nghiệp của tỉnh, đã trừ số dự trữ ba năm và số chi dùng thường xuyên mỗi năm của tỉnh).

b) Mỗi tỉnh cho các thuyền buôn trong hạt có trọng tải từ năm trăm phương trở lên, chở số thóc gạo ấy về Kinh; đồng thời, cho các tư nhân có số gạo thóc thừa, chở về Kinh bán; và cho thuyền buôn các nơi đến tỉnh mình mua thóc gạo, lấy giấy biên nhận của quan tỉnh, chở về Thừa Thiên để kho Nhà nước đứng bán.

c) Các tỉnh báo cáo về bộ số thuyền buôn của tỉnh mình và giá cả thóc gạo trên thị trường để bộ định giá mua thương lượng cho thuyền chở (tính cứ mỗi hộc thóc hoặc mỗi phương gạo, trả thêm năm mạch (Mạch: một phần mười quan, dân gian gọi là tiền); còn cước chở, tính trên một hai phân trên cơ sở giá cước đã được quy định theo lệ trước). Số tiền trả theo giá mua thương lượng này, do tỉnh có gạo chở, trả trực tiếp cho thuyền chở.

Sau khi số lương thực ở Kinh đã đủ số chi dùng trong một năm, chính quyền địa phương cho phép các thuyền buôn đi nơi khác mua bán.

d) Còn thuyền vận tải cùng thuyền tuần tiểu kiểu mới của Nhà nước, hằng năm cho đi chở các vật hạng nặng (như gỗ, mây song, dâu rái), ngoài ra, cho đi tuần tra và luyện tập.

đ) Nhà nước còn dựa vào thuyền buôn để kiểm tra hoạt động tuần tra của thuyền Nhà nước: mỗi khi thuyền buôn về tỉnh hoặc về Kinh, quan lấy khẩu cung của thuyền buôn về những điều trông thấy về thuyền Nhà nước (căn cứ vào hiệu thuyền và màu cờ) trong quá trình đi qua một hải phận, rồi tư về bộ để cấp trên xét khi cần thiết.

  1. Chủ trương này tránh cho nhà nước khỏi tình trạng thất thoát thóc gạo kho, lại lợi cho nhà buôn và nhà nông; đương nhiên, nhà nước phải chịu tốn khoản tiền mua theo giá thương lượng”.

Trước những đề nghị này, vua Tự Đức phê: “Sao đề nghị chưa thỏa đáng và thuận lợi, ý kiến còn thiên lệch vậy? Giao cho hai bộ Hộ và Công duyệt để tâu lên”.

Năm 1858, ông được chuyển về Nội các, thăng Thị lang (1861) rồi Tả Tham tri bộ Lại (1863), rồi được cử đi công tác trong phái đoàn của Phan Thanh Giản như ta đã biết. Từ những năm tháng này trở về sau, Phạm Phú Thứ lại tiếp tục dâng lên nhà vua nhiều cải cách quan trọng khác. Chẳng hạn, trong tờ tấu “Về việc đẩy mạnh hoặc sửa đổi trong chính sự ngày nay”, ông đề nghị: “Thứ nhất, bỏ qua lỗi nhỏ để dùng được người, bớt văn án phiền hà để trừ mối tệ. Bởi việc phiền hà thì kẻ lại sinh gian, dùng người không đúng việc thì người không hết lòng với công việc… Thứ hai, cấp lộc nhiều để khuyến khích kẻ sĩ, dùng đúng tướng để quân đội mạnh lên. Bởi lộc không đủ là hại dân, tướng không quyền thì quân đội rời rạc. Có người hiền tài thì nhà vua chia chức với họ, cùng họ lo công việc để mà trị nước. Chứ như sớm tối cặm cụi với công việc mà lộc không bằng đi cày thì khó mà trách họ không giữ được nền nếp kẻ sĩ quân tử…”. Cũng trong tờ tấu này, ông viết: “Ngoài ra, mọi người còn chung ý kiến: vệ binh trong ngoài kinh thành quá nhiều. Người xưa nói: ba nghĩa quân có thể phá vây, hạ thành chứ chưa nghe dùng mấy vạn để dọa người. Nay ở kinh đô có tới hơn vạn, quân ở các tỉnh lớn tới bốn năm nghìn, còn thì hàng nghìn, hàng mấy trăm. Song hàng nghìn hàng trăm quân ấy chắc gì đã thắng vì ngày thường binh không được huấn luyện, khí giới không được sắc bén vậy. Nay xin một phen chấn chỉnh việc tổ chức quân đội, lựa chọn kỹ càng các cấp chỉ huy, cấp cho vũ khí mới và lợi hại, giao trách nhiệm và quyền hành huấn luyện, ắt là họ coi thường cái chết, hóa ra tinh nhuệ, có thể tin cậy được, thật hơn xa việc phô trương số lượng binh nhiều. Vả lại, nuôi quân, luyện tập là việc cấp bách hiện thời…”

Theo nhà nghiên cứu Quang Uyển thì tư tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ có thể xác định ở những điểm như sau: Về giáo dục, trong các vấn đề trọng đại của một Nhà nước thì vấn đề giáo dục phải đặt lên hàng đầu; thay vì dạy theo sách vở Trung Quốc thì nay sĩ tử phải học thiết thực những vấn đề về địa lý, pháp luật, điển chế… của nước ta; nghiên cứu lại vấn đề thi cử để trọng dụng nhân tài. Ông đề nghị lập cơ quan dịch sách, tài liệu tân tiến của nước ngoài để phổ biến rộng rải; chọn người tài giỏi cho học ngoại ngữ các thứ tiếng như Pháp, Anh, Thái Lan, Miên… Đặc biệt mở riêng trường dạy tiếng Pháp để sau này làm phiên dịch. Không những chủ trương phải học lấy khoa học kỹ thuật của phương Tây với suy nghĩ “Hãy đua theo cái lạ, chọn cái hơn của người để giúp ta mạnh”, Phạm Phú Thứ còn là người có công phổ biến các tài liệu ấy. Về vấn đề tôn giáo, theo ông phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, không phân biệt lương giáo nhằm thu phục lòng người. Thực tế cho thấy những người công giáo có tinh thần yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu… đã được ông chia sẻ ý thức yêu nước của họ và họ cũng dành cho ông nhiều tình cảm quý báu. Về vấn đề kinh tế, ông quan niệm rất tiến bộ. Nhà nước chẳng những cho phép mà còn khuyến khích nhân dân tự do, buôn bán, tự do sản xuất; mở cảng thông thương với nước ngoài; mời đón tàu buôn các nước lớn đến giao thương để thu thuế v.v… Về quốc phòng, theo ông muốn bảo vệ quốc gia thì phải củng cố về quân sự “Trau giồi thân thể, quý ở chỗ làm cho mình mạnh; Trau giồi quốc gia, phải chuẩn bị vũ khí”. Ông đề xuất mua đại bác phương tây; quân sĩ thường xuyên luyện tập bắn súng, tăng lương bổng cho họ; lập trường hàng hải… Về đối ngoại, ông chủ trương ôn hòa “không dùng sức chinh phục người khác”; mở rộng quan hệ với nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Phổ để hạn chế sự thao túng của người Pháp. Đối với Pháp, sau khi tình thế nước nhà đã ký hòa ước với họ, ông cho rằng cần nghiêm chỉnh thi hành hòa ước để tự cường – vì thế ông bác chủ trương cầu việc nước ngoài; hoặc “giận cá chém thớt” đối với giáo dân. Kế tiếp, khi đủ mạnh thì ta thương lượng để họ rút quân với điều kiện ta bồi thường phí tổn; lúc này, nếu không đạt mục đích thì “ta sẽ tuyên thệ với trời đất quyết không sống chung với họ”… (xem Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân – nhiều tác giả – NXB Đà Nẵng – 1995).

Không chỉ giỏi lý luận, có nhiều kiến nghị, lập luận sắc bén mà còn là con người của thực tiễn. Chẳng hạn, năm 1867, ông đề nghị mở cảng ngoại thương ở Hải Yên (Hải Dương, Quảng Yên); tháng 4/1878 ông mở trường dạy chữ Tây cho nha Thương chính Hải Dương, mỗi tháng cấp một quan tiền và một phương gạo cho những người đi học; mở lại nhà xuất bản Hải Học đường (có từ đời Gia – Long nhưng đã đóng cửa), cho in lại một số sách dịch sang chữ Hán về khoa học và kỹ thuật v.v… Phạm Phú Thứ còn là vị đại quan luôn quan tâm đến đời sống của người dân nghèo. Trong Đại Nam liệt truyện cho biết: “Như khi ở Hải Đông, hạt Quảng Nam luôn năm đói kém, mà việc tuần phòng ở ngoài biển thì gạo cấm khá nghiêm, bèn thương lượng tạm bỏ điều cấm, hoặc quyền nghi cho thuyền chốn người Thanh, người Kinh đáp chở gạo bắc về Quảng Nam phân tán phát mại. Ông còn bỏ liêm bổng ra mua 1.000 phương gạo gửi về chia ra phát chẩn cho dân đói ở hạt huyện, nhân đó cứu sống được nhiều người, đến nay người vẫn còn nhớ”.

Điều đáng tiếc là những tư tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ (cũng như của nhiều người cùng thời) đã không được triều đình nhà Nguyễn đánh giá đúng mức. Ông cay đắng: “Thần đột nhiên nửa đêm một mình đứng dậy, nổi giận đùng đùng, có khi ngồi một mình, lặng lẽ rơi nước mắt, không biết nói gì”. Phạm Phú Thứ mất năm 1882. Trong cuộc hội thảo về tư tưởng canh tân của ông tổ chức ngày 29/5/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhà nghiên cứu Thái Nhân Hòa – Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP. HCM nêu rõ: “Tư tưởng canh tân của Trúc Đường Phạm Phú Thứ cùng với chương trình cải cách của Nguyễn Trường Tộ, kế hoạch cải cách hiện đại hóa của Nguyễn Lộ Trạch và của những nhân vật cùng thời có đầu óc tiến bộ đã góp phần quan trọng hình thành dòng tư tưởng canh tân ở nước ta vào sau nửa thế kỷ XIX, mở ra tiền đề cho phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX”.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Phạm Phú Thứ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)