Khái quát
Tình cảm thầy trò thuở trước thật lạ! Nếu không có những chứng cứ rõ ràng thì thế hệ hậu sinh chúng ta có thể nghĩ đó là chuyện… cổ tích. Chuyện như thế này: ở thế kỷ XVIII, có người học trò tên Chu Doản Trí tự nghĩ mình không có tài, không học giỏi bằng các bạn cùng lớp, về sau không làm nên danh phận gì đáng kể trong xã hội để đền đáp công lao dạy dỗ của thầy. Do đó, sau khi thầy mất để bày tỏ lòng nhớ ơn, anh ta nghĩ đến cách… Cách gì vậy? Chúng ta sẽ hiểu rõ nếu đọc lời tự sự rất khiêm tốn: “Trước sau môn sinh đến học thầy cũng đến hàng nghìn người, trong số đó, Trí này được ở hầu thầy lâu hơn, tự xét mình không đáng nhưng cũng kính cẩn thuật lại hành trạng và văn thơ của thầy để lưu lại trong từ đường thờ thầy vậy”. Chính nhờ tấm lòng tôn sự trọng đạo như thế, bây giờ chúng ta mới có tài liệu để hiểu rõ hơn một bậc thầy đáng kính ở đất Thăng Long xưa.
Thầy tự là Dữ Đạo, hiệu Lập Trai, biệt hiệu Thảo Đường cư sĩ, tên thật Phạm Quý Thích, sinh vào giờ Tuất ngày 25/12/1760 quê ở xã Hoa Đường, phủ Thượng Hồng (nay thuộc huyện Bình Giang – tỉnh Hải Dương) nhưng ngụ ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, phủ Thuận Thiên (nay thuộc Hà Nội).
Thân thế
Thuở nhỏ, thầy Lập Trai thọ giáo với thầy đồ họ Nguyễn trong làng, năm 11 tuổi học với thầy Nguyễn Sĩ Trai và sau đó tiếp tục học với ông tiến sĩ họ Vũ ở trấn Sơn Nam và ông thám hoa Thạc Đình ở Nghệ An. Thời đi học, vốn là người nhiều bệnh nên thầy chuyên cần lập thời khóa biểu rành mạch để tự ràng buộc mình vào khuôn phép. Dù bất kể thời tiết ra sao, trong người bệnh hoạn như thế nào thì thầy cũng cứ theo chương trình đã lập ra mà thực hiện không một phút trễ nải. Nhờ vậy, năm 1775, lúc thầy mới 15 tuổi, trong huyện có tổ chức thi khảo, thầy đậu đầu. Nghe tiếng tăm như thế nên con trai chúa Trịnh cho gọi vào phủ làm gia thần – tức bày tôi trong nhà – nhưng thầy từ chối. Nhờ biết từ chối ân huệ này để tiếp tục dùi mài kinh sử nên lúc mới 20 xuân thầy đã thi đậu Tam giáp đồng tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1779).
Làm quan
Ra làm quan dưới thời Lê – Trịnh, thầy được bổ chức Đông các Hiệu thư. Đây là cơ quan phụng mệnh nhà vua sửa chữa các bài chế, cáo, thơ, văn thư và đảm đương việc tuyển chọn nhân sự ở triều đình mà đứng đầu là Đông các Đại học sĩ. Trong mối quan hệ với các quan trong triều, thầy giữ một quan hệ thân tình đúng mực. Bấy giờ, tiến sĩ Phạm Hiếu Đức vừa cậy mình là người có tài, lại vừa được lòng chúa Trịnh nên xem thường mọi người. Nhân lúc thầy bị bệnh không đến phủ đúng hẹn nên ông ta đã nói những điều khinh miệt về thầy. Dù biết vậy, nhưng thầy vẫn viết thư xin lỗi. Do đó, ông ta cảm phục mà nói với mọi người:
Thầy Tử Lộ ngày xưa có nói rằng, ai chỉ ra cái lỗi của thầy thì thầy lấy làm vui mừng. Nay ông Lập Trai cũng ứng xử được như thế thì rõ ràng tôi còn kém xa ông Lập Trai. Cảm phục đức tính của thầy nên từ đó, ông Hiếu Đức tỏ ra thân thiện với thầy và hai người trở nên đôi bạn thân thiết. Khi thầy mới thi đậu, một người bạn đến mừng và bảo:
Trong đám khoa bảng ta, có Bùi Hy Chương là người quân tử, anh cũng nên tìm đến tạo mối quan hệ thân thiện.
Thầy gật gù đồng ý. Ít lâu sau, ông Bùi từ Nghệ An được triệu về kinh, và cũng tỏ ý muốn gặp thầy. Nhưng thầy chưa kịp đến thăm thì ông ta đã được triều đình thăng chức Bồi tụng – đây là chức quan dưới chức Tham tụng, còn gọi là Á tướng (dưới Tể tướng một bậc) có thể xem như Phó Thủ tướng hiện nay. Mọi người đến rủ thầy đi thăm ông Bùi nhưng thầy lại lắc đầu từ chối:
Trước đây cảm phục tài năng và đức độ của tôn huynh nên tôi muốn yết kiến, nhưng nay tôn huynh đã là đại thần của triều đình, không có việc công, tôi không biết đến để làm gì; còn vì tình riêng mà đến thì e miệng tiếng ở đời là đến cầu cạnh, nhờ cậy nên tôi càng không dám đến.
Biết được điều này, ông Bùi càng thêm quý trọng thầy.
Mở trường dạy học
Nhưng bước đường làm quan của thầy không dài, ngay sau khi quân Tây Sơn kéo quân ra Bắc với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh, thầy bỏ về quê cũ. Năm 1788, anh hùng Nguyễn Huệ lên ngôi với niên hiệu Quang Trung và mời các bày tôi nhà Lê ra cộng tác, nhưng thầy Lập Trai vẫn từ chối. Thời gian này, người học trò của thầy có cho biết: “Tháng 5/1789 thầy lại về Diên Lộc (Thanh Hóa) gặp tang phu nhân nên ở luôn lại đây, năm sau lại về làng Trần Xá, An Phong (nay thuộc Hà Nam). Ở đây trước có người bị kiện được thầy gỡ oan, khi hay tin thầy đến liền mời về nhà. Thầy bắt đầu dạy học. Cả làng đều xưng tụng thầy là Thục sư, bất cứ công việc nào dù tầm thường hay cao xa cũng đều đến nhờ thầy chỉ giáo. Thầy cũng hết lòng giúp đỡ mọi người bất kể kẻ sang hay người hèn. Do đó, kẻ đến học dần dần ngày một đông. Người thức giả trong làng, trong huyện đến xin tiếp kiến hoặc xin đi theo, thầy đều không từ chối một ai”.
Những bài giảng của thầy, nay đọc lại ta thấy đâu hẳn đã lỗi thời. Với đạo làm dân thì thầy dạy phải tiết kiệm:
Cái tập quán trong thiên hạ, không gì hủ lậu bằng sự bắt chước nhau, bỏ việc thực tế mà chuộng cái phù hoa, thi nhau trang sức, tự biết sức mình không đủ, thế mà còn bày vẽ những cái che mắt bề ngoài, cho nên ta bảo rằng muốn tiết kiệm cần phải bỏ cái trang sức hào nhoáng bên ngoài đi. Ôi! Trang sức không phải một hạng, có người dồn hết lực vào trang sức rồi chỉ còn lại nhà không; có người không có lực mà cũng trang sức thành ra hết nghiệp. Có cái đồ dùng hằng ngày là được rồi, nhưng lại muốn trang sức đem chạm trổ vào, chạm trổ rồi lại muốn sơn thếp, sơn thếp vào rồi cũng chưa đủ, lại muốn trang sức bằng vàng, bằng ngọc nữa. Phàm đồ ăn mặc là trang sức cho thân, đồ trần thiết là trang sức cho cái nhà, vợ lẽ hầu non là trang sức bề trong, kẻ tôi người tớ là trang sức bề ngoài, lên xe xuống ngựa là trang sức lấy mẽ ở ngoài đường nhưng cái thể thức lễ nghi không hẳn là như thế, đó chỉ làm đẹp mắt bên ngoài mà thôi.
Không những khuyên dân nên tiết kiệm, mà ngay cả với bậc vua chúa, thầy cũng bảo:
Nếu ông vua biết tiết kiệm để dành tiền của đem cấp phát cho thiên hạ, thế là người độ lượng quảng đại. Kìa vua Đường Nghiêu dùng các liễn bằng sành mà được xưng là thánh; vua Hạ Vũ mặc áo xấu mà đứng đầu Tam vương; Hiếu Văn mặc áo bào thô kệch mà làm vua Thái Tôn nhà Hán… Làm ông vua mà không hiểu thuyết tiết kiệm tất có hại đến quốc gia. Bởi vậy, một ông vua biết tiết kiệm là có giáo hóa tốt; cả thiên hạ biết tiết kiệm là có phong tục tốt… Do biết dè sẻn mà của cải sinh sôi được nhiều, tích trữ được lắm; có tích trữ mới nuôi được binh lính, mới phá được đất rừng hoang vu mà sự tiêu dùng trong thiên hạ mới thường đủ. Nào có phải việc nhỏ nhen keo kiệt gì đâu!
Trong thời gian này, ở đầu nhà trọ của thầy, có một mảnh vườn nhỏ, thầy trồng trúc. Lúc gió mát trăng thanh, thầy thường ngồi ngắm cảnh nâng chén ngâm thơ tiêu khiển; có khi thầy mang giày rơm chống gậy trúc, dắt theo vài đứa học trò nhỏ đi xem các đình, chùa, miếu cổ hết ngày mới về.
Làm quan dưới triều Nguyễn và trở lại nghề dạy học
Rồi thời thế cũng thay đổi chóng vánh. Năm 1802, Nguyễn Ánh lật được nhà Tây Sơn và lên ngôi với niên hiệu Gia Long. Thầy lại bị vời ra để giữ chức Thị Trung học sĩ, tước Thích An hầu – dù cố từ chối nhưng vẫn không được. Năm 1811, thầy bị triệu vào kinh (Huế) để trông coi việc chép sử, hai năm sau triều đình nhà Nguyễn lại bổ thầy làm Giám thị trường thi Sơn Nam. Lúc coi thi, thầy tự mình đọc lại từng câu văn, cân nhắc từng chữ, thấy bài làm tốt thì dù có phạm húy cũng lấy đậu; đối với kẻ chạy chọt đút lót thì thầy rất nghiêm khắc nên qua các khoa thi trên đã tìm ra được nhiều nhân tài và dư luận sĩ phu rất tin phục sự công minh của thầy. Nhưng vốn là người hoài Lê nên thầy không hứng thú gì khi cộng tác với “tân triều”, chỉ sau một thời gian ngắn thầy cáo bệnh xin từ quan.
Từ năm 1813, thầy về hưu, sống ở thôn Báo Thiên và trở lại với nghiệp dạy học. Hằng ngày thầy giảng sách ở Xiển Do đường, phía trái Quốc Tử Giám và tại “giảng đàn” riêng do thầy lập nên. Học trò của thầy đông đến cả ngàn người, có người về sau nổi tiếng trong xã hội là Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Lý, Chu Doãn Trí… Cũng như nhiều bậc thầy khác, thầy Lập Trai thường dạy từ các sách Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung…
Môn sinh của thầy có kể lại:
Mấy năm trước lúc còn khỏe, còn ngồi được, mỗi ngày thầy thường giảng sách, một chương một tiết, thường giảng đi giảng lại tường tận. Sau thầy già sức yếu, thường nằm trong một cái màn, học trò ít khi trông thấy mặt, lúc duyệt văn bài của học trò, thầy thường cho đọc lớn lên để mọi người cùng nghe. Có lần, thầy bảo:
– Các bài làm thường rơi vào chỗ nghĩa lý vụn vặt, không đạt đến sự cao siêu, thoáng đạt của thánh nhân là do các con đặt cái cử nghiệp làm mục đích của đời mình! Học chỉ cốt sao cho đỗ để ra làm quan thì quả là sai lầm. Nếu chỉ học như thế thì ta không muốn đem kinh sách ra dạy cho các con đâu.
Nhân đấy, thầy lại nói:
– Phép đọc sách, phải theo văn theo chữ, bình tâm mà giảng, không nên bàn quá cao rộng mà để mất ý nghĩa gốc. Còn các lòi chú giải của các bậc tiên nho cũng nên chuyên chú và suy nghĩ rộng thêm để đạt đến cái lý thâm sâu của nó.
Có người đến xin học làm thơ, thầy bảo:
– Các thi gia đều có sở trường, mà Đỗ Phủ thì hơn cả, vì thơ của ông phần nhiều không cao kỳ, không phù phiếm mà phép tắc lại nghiêm chỉnh.
Quan điểm về người học
Theo quan điểm giáo dục của thầy, người học trò mai sau nên danh phận trong xã hội được thiên hạ tôn là kẻ sĩ, thì dứt khoát phải có lễ, nghĩa, liêm, sỉ.
Ôi! Lúc nhúc sinh ra trong xã hội, ai ai cũng đều là người cả, thế mà một hạng người trong đó được mệnh danh là kẻ sĩ, lại nghiễm nhiên đứng đầu cả tứ dân (sĩ, nông, công, thương) như thế kẻ sĩ đã có cái danh vẻ vang bề ngoài, tất phải có cái thực ở bề trong mới được. Cái thực có xứng đáng, thì kẻ sĩ đeo cái danh mới không thẹn vậy… Nay đem lời của Chu tử ra bàn: Người ta sinh ra, do khí của trời đất mà hình thành, tức có cái lý của trời đất mà thành ra tính. Cái tính ấy có năm đức (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín). Năm đức ấy sinh ra tính trắc ẩn như thấy việc xấu thì ghét, nghe tiếng xấu thì thẹn; biết khước từ, biết nhường nhịn; biết phải trái. Khi đối với mình hoặc giao thiệp với người thì lấy lễ, nghĩa, liêm, sỉ làm đầu. Ông Quản Tử cũng vậy, ông thừa hiểu cái đạo làm người sở dĩ được biểu dương khắp thiên hạ, chỉ là do có các đức tính ấy. Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Một bát cơm, một chén canh, gọi một cách khinh bỉ mà cho, thì người đi đường dẫu có đói cũng không nhận; nếu lấy chân vò đạp đem cho, thì người ăn mày cũng không thèm nhận” như thế mới biết lễ, nghĩa, liêm, sỉ của hạng dân nhỏ mọn cũng còn dùng, huống chi mình là kẻ sĩ mà bỏ mất thì còn mong bắt chước ông hiển, ông thánh sao được?
Có lễ thì trật tự mới rõ rệt; có nghĩa thì lòng mới quyết đoán được việc đáng làm hay không đáng làm; có liêm thì mới giữ được lòng mình khi trông thấy cái lợi trước mắt; có sỉ thì trong gian nguy mới giữ được tiết tháo làm người.
Kìa bậc vua chúa đứng đầu muôn người, cũng giữ lấy lễ, nghĩa làm mực thước. Điều này khiến cho quan đại thần phải giữ phép, quan tiểu thần phải giữ liêm chính, còn người dân biết nết xấu thì đổi. Vậy kẻ sĩ, đã gọi là dân tuấn tú sao lại không theo những điều dạy bảo của thánh nhân? Không làm được như thế thì sao còn xứng đáng đứng vào hàng kẻ sĩ được sao? Với bốn đức tính lễ, nghĩa, liêm, sỉ thì kẻ sĩ luôn giữ trong mình không lúc nào lìa, nâng niu trong lòng không lúc nào mất. Kẻ sĩ khi chưa hiển đạt, có thể lấy đó làm khuôn phép cho dân làng trông theo; khi hiển đạt làm quan, có thể lấy đó đem ra thi hành trong việc giáo hóa, gìn giữ nhân luân, trừ bỏ cái thói xấu xa của xã hội… Những cái nết cẩu thả, đê hèn không để một chút nào dính dáng đến mình, có làm được như thế thì kẻ sĩ hưởng được cái danh vẻ vang mà không hổ thẹn với đòi vậy.
Đối với thầy, mục đích lớn nhất của việc học là để làm người, chứ không phải nhằm ra làm quan hoặc để mua danh. Thầy bảo:
Kẻ trên đòi hỏi người dưới bằng cái danh, mà kẻ dưới đối với người trên cũng bằng cái danh, thậm chí cái học vấn cũng là khí cụ cầu danh! Than ôi! Lấy tiếng tăm khoe khoang với đời, trước còn khoe cái danh, sau lại cậy mình có cái danh, dần dần tranh giành cái danh trong triều. Xét ra cái danh chưa thành mà cái thực đã mất hết. Thánh hiền đời trước có nói, cái thực thắng thì đáng khen, cái danh thắng thì đáng thẹn. Người quân tử chỉ cần cái thực thắng thôi.
Nhờ được học với một bậc thầy như thế, nên các môn sinh của thầy, sau này dầu có ra làm quan nhưng cũng giữ được nhân cách của mình, không tha hóa thành kẻ sâu dân mọt nước.
Truyện Kiều
Có một điều đáng chú ý trong phương pháp sư phạm là thầy sẵn sàng tranh luận cùng học trò về một vấn đề nào đó mà thầy trò cùng quan tâm. Trước đây, chủ yếu thầy trò chỉ bàn bạc trong sách thánh hiển, chứ ít có ai đem tác phẩm đương thời vào thảo luận trong trường học – nhất là tác phẩm ấy chưa được khắc in để phổ biến rộng rãi. Nguyên thầy Lập Trai là bạn tâm giao với thi hào Nguyễn Du. Khi viết xong Truyện Kiều, nhà thơ đại tài của Thăng Long có đưa cho thầy xem qua. Xem xong, thầy chuyển cho học trò cùng thưởng thức áng văn bất hủ. Thông cảm với số phận của nàng Kiều, thầy viết bài Vịnh Kiều:
Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường,
Bán thế yên hoa trái vị thường.
Ngọc diện khỏi ung mai thúy quốc,
Băng tâm tự khả đối kim lang.
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu,
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,
Tân thanh đáo để vị thùy thương.
Bài thơ này tuyệt hay mà thầy đã dịch ra chữ Nôm cũng hay không kém, nay nhiều người còn nhớ mãi:
Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan,
Phong ba chưa trắng nợ hồng nhan.
Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng,
Gót ngọc khôn đành chốn thúy quan.
Nửa giấc đoạn trường tan giấc điệp,
Một dây bạc mệnh đứt cẩm loan.
Cho hay những kẻ tài tình lắm,
Trời bắt làm gương để thế gian.
Khi bài thơ này được phổ biến, ai ai cũng khen bút lực thâm hậu của thầy và nó nổi tiếng đến nỗi về sau bài thơ này thường được khắc in trên đầu các bản in chữ Nôm Truyện Kiều (thường gọi là Tổng vịnh Truyện Kiều). Thế nhưng, khi đưa Truyện Kiều ra tranh luận trong lớp, có một học trò không đồng ý với nhận định của thầy. Cậu ta phê phán nàng Kiều gay gắt qua bài thơ:
Hóa nhi đâu có ghét hồng nhan,
Vì bởi hồng nhan tạo mối oan.
Hoa tím vừa thông, xuân sự sớm,
Chén thể chưa cạn, khối tình tan.
Lầu xanh đâu cũng chàng Kim Trọng,
Phấn lợt còn lưu bác thổ quan!
Một khúc tân thanh truyền nhạc phủ,
Đến nay đàn hát khắp Tràng An.
Sau khi anh học trò này đọc xong bài thơ, ai cũng tưởng thầy rất giận. Nhưng không, thầy hiểu đàng sau từng câu chữ ấy không nhằm bài bác thầy hoặc phê phán nàng Kiều mà ám chỉ thời thế bấy giờ: chê bai những sĩ phu chạy theo “tân triều” nhằm kiếm cái danh vọng mà triều Nguyễn đang câu nhử! Từ đó, qua thảo thuận về tác phẩm này mà tình thầy trò càng gắn chặt hơn, hiểu nhau hơn.
Cuối đời
Hỡi ôi! Số phận của đời người cũng lạ: “ghét của nào trời trao của nấy”. Có kẻ bằng mọi cách để ngoi lên tìm lấy cái danh trong xã hội, ngược lại có người chỉ muốn bỏ danh để lui về ẩn dật. Thế mà trời nào có chiều riêng sở thích ai đâu! Đối với trường hợp của thầy Lập Trai cũng vậy. Năm 1821, vua Minh Mạng viết đặc dụ vời thầy tiếp tục nhận lấy cái danh mà biết bao người đang thèm thuồng, mơ ước. Thư viết:
Thị trung học sĩ Phạm Lập Trai là bậc lão nho, vọng trọng tài cao, đức hạnh rõ rệt, Trẫm lên nối ngôi trị nước, trước hết đã thăm hỏi đến. Lại Bộ đã tâu là có bệnh, nay Trẫm nghĩ, ngày tháng đã lâu, bệnh chắc chưa khỏi, vậy xuống đặc ân ban cho bạc 30 lạng, lụa 10 tấm. Sau khi hết bệnh, Phạm Lập Trai cũng nên gắng sức lên đường, thong thả đến cửa khuyết (tức cửa nhà vua) để Trẫm được hỏi ý kiến hay về đường lối trị nước. Nếu đến kinh mà bệnh tình tái phát thì Trẫm sẽ ân ban cho điều dưỡng. Phải vâng mệnh thi hành để thỏa lòng yêu quý người hiền của Trẫm.
Lời lẽ khôn khéo, vừa thấu lý đạt tình của ông vua nhà Nguyễn càng khiến thầy khó nghĩ. Thầy đành phụng mệnh lên đường vào kinh, nhưng chưa kịp đi thì bệnh chuyển nặng. Đầu năm 1825, nhân ngày xuân phơi phới, thầy bói được quẻ Lôi phong ích và Lôi thủy giải nên bảo học trò:
Ngày tận số của ta đã đến rồi, tưởng chẳng còn tiếc gì nữa.
Quả đúng như vậy. Tháng 3 thầy lâm bệnh nặng, uống thuốc khỏi thì lại phát nên không uống nữa. Lúc cơn nóng phát lên, thầy thường đem các câu văn của học trò ra bình. Thấy vậy, nhiều người cho rằng đó là biểu hiện của bệnh nói nhảm, nhưng thầy chỉ ôn tồn giải thích:
Ngày trước Ôn công có bệnh, lảm nhảm nói mớ những việc lớn trong triều đình. Thế thì ta bảo là nhảm hay không nhảm cũng đều được cả. Còn ta, ta biết các anh có tư chất khá nhưng ta chưa giúp ích được gì nhiều cho các anh tấn tới nên lấy đó làm buồn.
Câu nói của thầy chỉ đơn giản vậy, nhưng cái tâm của người thầy đáng quý làm sao. Về sau, ở thời đại chúng ta có Giáo sư – bác sĩ Đỗ Xuân Hợp cũng thế, dù nằm trên giường bệnh nhưng lúc tỉnh táo nhất là ông lại đem bài làm của học trò ra xem, nhận xét và góp thêm nhiều ý kiến quý báu. Chao ôi! Tình thầy trò như tình cha con thời nào cũng có.
Lúc học trò đến thăm, thầy Lập Trai dặn:
Trước đây ta có nhận một số bạc, lụa của nhà vua cho, vì bệnh nên chưa đến cửa khuyết tạ ơn, lòng còn áy náy. Nay đem số bạc, lụa ấy cùng một số vật dụng thường ngày mà người ta đem đến biếu thì cũng đủ dùng vào việc tang lễ.
Các môn sinh nghe thầy nói thế mà nước mắt ứa ra. Chỉ một ngày trước lúc mất, thầy cho gọi học trò đến tề tựu đông đủ và trăn trối:
Ta coi các anh như con một nhà, chứ không phân biệt gì cả. Người đỗ đạt làm nên công trạng ở đời là nhờ phận, chưa hẳn nhờ ta dạy bảo mà được. Do đó, khi phân công phận sự ngày lễ tang của ta, các anh chớ có phân chia theo cấp bậc cao thấp. Còn các câu đối viếng cũng nên thôi. Ngày táng ta thì đừng quên cáo ở từ đường, rồi kiếm đất làm phần mộ, mọi việc chỉ diễn ra trong một ngày là xong. Vậy việc tang, ta sắp đặt chỉ có thế, các anh bất tất không phải hỏi đến nữa.
Qua giờ Mùi ngày 29/3 năm Ất Dậu (1825), thầy Phạm Lập Trai mệnh chung. Hôm ấy trời có mưa gió sấm sét rất lớn, mãi đến nửa đêm mới thôi. Nghe tin thầy mất, triều đình cử quan Bắc thành đến dự và cử các quan đi đưa tang. Thầy được các môn sinh cùng con thừa tự là Phạm Liên táng ở cánh đồng Đống Miếu tại nguyên quán Hoa Đường. Hai mươi ngày sau, đến kỳ lễ cuối trong tang lễ, các môn sinh xây từ đường thờ thầy trên mảnh đất cũ ở thôn Kim Cổ, huyện Thọ Xương, rồi lúc hết tang đưa bài vị về thờ nơi ấy.
Theo Thông báo Hán Nôm học năm 1997 (NXB Khoa học Xã hội -1998) thì giới nghiên cứu vừa “phát hiện trong Chư gia văn tập bản giao ước giữa môn sinh cụ Phạm Quý Thích do Án sát Nguyễn Văn Siêu đại diện ký với chức sắc Lương Đường về việc môn sinh mua bốn mẫu ruộng ở làng giao cho bốn giáp cày cấy để lấy một phần hoa lợi, xuân thu nhị kỳ tế giỗ hậu Lập Trai tiên sinh và bà chánh thất họ Phạm” (trang 302).
Riêng ở nơi thầy từng dạy học, người học trò cũ của thầy là tiến sĩ Vũ Tông Phan năm 1831 có về thăm và làm bài thơ Thăm giảng đàn cũ của thầy Lập Trai. Bài thơ như “kiểm điểm” lại năm tháng đời mình trôi qua. Nghĩ cũng lạ, dù đã đậu tiến sĩ, đã noi gương thầy mở trường dạy học nhưng tác giả tự nhận, khi về giảng đường của thầy Lập Trai thì “chỉ thêm thẹn mình tài tầm thường khó lập thân”! Nay đọc lại bài thơ này ta vẫn còn xúc động:
Chưa rũ nợ đời sao giảm bệnh?
Năm thừa đâu dám cố an nhàn.
Nỗi lòng từng nguyện theo hoài bão,
Nên hận phù danh ở thế gian.
Hồn phách đã từng sa cõi tục,
Hoa xuân hà cớ héo dung nhan.
Qua trường biến cũ trông nguyên đó,
Luống thẹn tài hèn khó lập thân.(Bản dịch Vũ Thế Khôi)
Trước tác
Ngoài sự nghiệp “trồng người”, thầy Lập Trai còn để lại những tác phẩm có giá trị cho đời sau như Thảo Đường thi nguyên tập, Thiên Nam long thủ lục – chép tiểu truyện những người đậu Trạng nguyên từ đời Lý đến cuối triều Lê, Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa – là bản diễn Nôm Kinh dịch, Luận ngữ ngu án – là cuốn sách chú thích, giải nghĩa sách Luận ngữ… Ngoài ra còn viết Tân truyền kỳ lục, nhiều câu đối, văn tế v.v…
Ghi nhận về cuộc đời của thầy Lập Trai, ta thấy thầy đã sống và làm đúng theo ý nguyện mà thầy từng răn dạy học trò:
Việc thiên hạ dễ nhất không gì bằng cái chết, một khi được cái chết xứng đáng thì cái chết ấy có sinh khí muôn đời. Việc thiên hạ không gì khó bằng cái chết, một khi nói đến cái chết thì ai nấy đều chán nản. Nay thử hỏi mọi người, có cái chết nào mà sống lại được không, hẳn không có; lại thử hỏi mọi người, có cái không nào mà không sống không, hẳn không có. Vậy thì có cái lúc oa oa lọt lòng rơi xuống đất, tất có ngày trở lại cái chỗ mờ mịt nằm mưa dãi nắng, dù là thánh tiên, hào kiệt, ngu muội, đê hèn, gian ác, giảo hoạt… không người nào là không cùng đi đến chỗ hết…
Do ý thức được như thế nên thầy thường tâm niệm:
Nên khi sống phải biết hành động làm sao cho thiên hạ hậu thế đều biết nòi giống nhà mình, giáo dục của nhà mình. Chứ không phải sống để cầu lợi đạt phú quý một thân mình. Nếu ngày nay biết lấy thân mình làm người hy sinh để đạt mục đích ấy tất sau này được hưởng cái hy sinh ấy, thế là tạo được con người vĩnh viễn không chết vậy.
Thầy Lập Trai đã làm được như thế.
Học trò Chu Doãn Trí
Còn người học trò đã từng tranh luận với thầy về Truyện Kiều, nhờ có cái tâm tôn sư trọng đạo, nên cũng được đời sau biết đến. Đó là Chu Doãn Trí (1779 – 1850). Ông tự Viễn Phu, hiệu Tạ Hiên, tác giả tập Tạ Hiên thi văn – người huyện Đông Ngàn, Bắc Ninh. Lúc nhỏ, mồ côi cha, ông theo học với thầy Lập Trai để tu chí, tu tâm chứ không cốt để ra làm quan. Các danh sĩ đương thời như Nguyễn Văn Siêu nhận xét:
Viễn Phu trước hết được thầy dạy, sau tự học, yên lặng tìm tòi, tâm trí trong ngoài sáng trong như một. Đạt được như thế há chẳng phải là người tài giỏi ư?
Còn Nguyễn Tư Giản cho rằng:
Vốn là người xuềnh xoàng, quê mùa điểm đạm, từ nhỏ cho đến lúc bạc đầu không có khuyết điểm; khiêm tốn, hòa nhã không cạnh tranh với ai… Trong giao tế ngay thẳng cẩn thận, khiến người nóng giận phải nguôi, người kiêu căng phải bình; ẩn dật mà không xa người thân, rõ ra là bậc ẩn quân tử.
Vì thế nghe danh tiếng của Chu Doãn Trí và theo lời đề cử của các quan đại thần, vua Thiệu Trị, Tự Đức đều vời ông ra làm quan, nhưng noi chí thầy Lập Trai, ông một mực từ chối và giữ đúng ý hướng cho đến lúc chết. Ông thọ 72 xuân, Cao Bá Quát có khóc câu đối viếng:
Vua ghi tên tuổi vào thẻ trúc,
Đất nước tiếng thơm át có hoa.
Rõ ràng, người thầy như thế nào thì đào tạo học trò như thế ấy. Cho dù, Chu Doãn Trí chỉ ở ẩn, không phải là người có danh phận trong xã hội như các đồng môn nhưng vẫn được đời sau ca ngợi một phần chính là nhờ thái độ tôn sư trọng đạo của ông đối với thầy dạy mình.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.