Phan Đình Phùng (1847 – 1895)

Phan Đình Phùng (1847 – 1895)

Thông tin cơ bản

Thuở thiếu thời và con đường khoa cử

Dĩa dầu đang cạn dần giữa canh khuya, dù vậy, ánh sáng vẫn chập chờn, leo lét soi xuống trang sách đang mở rộng. Phan Đình Vận thức dậy, nhưng không thấy anh mình ngồi học bài nơi án thư nữa. Chắc anh đang buồn, nhưng an ủi như thế nào đây? Triều đình đang mở khoa thi, thiên hạ nô nức lều chõng, những mong chiếm bảng vàng cho xứng mặt làm trai. Nhưng anh trai của cậu thì chưa được, bởi sau nhiều năm theo học với bác ruột là Phạm Đình Tuân, cụ bảo:

Phan Đình Phùng sức học còn kém, chưa đi thi khoa này được hãy đợi khoa sau.

Lúc nghe bác bảo thế thì anh trai của Vận không hài lòng, nói với cậu rằng:

Sinh ra giữa đất trời, làm trai phải có danh phận trong xã hội. Muốn được như thế thì phải đem sức học ra mà thi thố với người đời. Nay anh không được đi thi thì sống làm gì nữa?

Thoạt nghĩ đến đó, Vận thấy lạnh xương sống! Hay là anh mình nghĩ quẩn nên đã làm liều? Nhìn dĩa dầu sắp cạn, Vận nhanh chân bước vào phòng của anh và bất chợt kêu rú lên! Quả thật, Phan Đình Phùng đã uống rượu pha thuốc độc để tự vẫn! Thế là cả nhà nhốn nháo cả lên, lập tức lấy cam thảo hòa với nước đậu xanh đổ vào miệng để giải độc. Nhờ cấp cứu kịp thời nên Phan Đình Phùng tỉnh dần… Biết tính của cháu con trong nhà đã quyết đoán, trực tính như thế nên không ai dám cản nữa mà thu xếp mọi thứ để ông lều chõng. Trong khoa thi năm 1876, Phan Đình Phùng đậu Cử nhân và qua năm sau thi Hội đậu Đình nguyên Tiến sĩ.

Bấy giờ, dòng họ mới nở mày nở mặt trước tin vui này. Riêng bà mẹ tiếc chồng không còn sống để thấy sự thành đạt của con, lúc sinh thời chồng bà – Phó bảng Phan Đình Tuyển – thường nói trong số năm con trai của mình thì Phùng sẽ là người làm nên danh phận về sau. Thật vậy, Phan Đình Phùng sinh năm 1847 tại làng Đông Thái (nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh) đã nổi tiếng là người học giỏi, cương trực và một khi đã quyết chí làm việc gì thì cho dù trời gầm đất lở cũng không nản chí.

Sự nghiệp 

Sau khi thi đậu, Phan Đình Phùng được bổ làm tri huyện Yên Khánh (Ninh Bình), sau về Huế giữ chức Ngự sử. Trên cương vị của mình, khi thấy ai có lỗi, làm điều gì sai trái là ông “đàn hặc” thẳng thắn, chứ không thiên vị một ai. Bấy giờ, tình hình trong triều đình đang rối như mớ bòng bong. Số là thuở sinh thời, vua Tự Đức thể chất ốm yếu lại mắc bệnh đậu mùa nguy kịch trong vòng hai tháng, do bị biến chứng nên không thể có con nối dõi, đành dưỡng dục ba con nuôi là Dục Đức, Chánh Mông và Dưỡng Thiện. Do đó, năm 1883 ngài vừa nằm xuống thì sự việc trở nên rắc rối. Trong di chiếu, ngài đưa Dục Đức lên nối ngôi nhưng cũng nói rõ đó là người “có tật ở mắt, giấu việc không nói, sợ lâu ngày không sáng suốt, tính hơi có phần dâm đãng là điều rất xấu, chưa chắc đảm đương nổi việc lón; nước có vua lớn tuổi là điều may, nếu bỏ đi thì không biết làm sao…”

Trong ngày lễ lên ngôi, Trần Tiễn Thành là người đọc di chiếu trước bá quan văn võ nhưng đến đoạn nói về tật xấu của Dục Đức thì lại đọc nhỏ đi. Lúc ấy, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường không đồng ý, cử Nguyễn Trọng Hợp đọc thay. Nhưng rồi chỉ sau ba ngày ngồi trên ngai rồng, Dục Đức bị hai ông Thuyết và Tường truất phế, giáng xuống làm Thụy quốc công – sau khi đã trình báo cho lưỡng cung là bà Từ Dụ thái hậu và Lệ Thiên Anh hoàng hậu. Trước sự thay đổi đột ngột này, có người tán đồng cũng có người không đồng ý, nhưng tất cả đều câm như hến, không ai dám hé răng, duy chỉ có mỗi một Phan Đình Phùng là dám nói:

Tự quân chưa có tội gì mà phế lập như thế thì làm sao phải lẽ?

Vốn là người nóng tính, mới nghe như thế Tôn Thất Tuyết đã đùng đùng nổi giận, sai lính bắt quan Ngự sử tống giam vào ngục. Độ mười ngày sau, Phan Đình Phùng được thả ra nhưng bị cách hết chức tước, đuổi về quê!

Hưởng ứng Chiếu Cần Vương và xâu dựng lực lượng kháng chiến 

Đối với một người nhỏ mọn, hèn kém thì sẽ ghim mối hận này suốt đời để tìm cách trả thù. Nhưng ở trường hợp Phan Đình Phùng thì lại khác hẳn. Sau khi vua Hàm Nghi bỏ kinh thành chạy ra Tân Sở lập chiến khu, Tôn Tôn Thất cho vòi ông đến để giao chức Hiệp thống quân vụ, lãnh đạo nghĩa quân ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình thì ông vui vẻ nhận lòi. Cùng lúc, ông cũng tổ chức lực lượng kháng chiến ở vùng núi non hiểm trở thuộc Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh). Ngay tại nhà mình, Phan Đình Phùng dựng “Nghĩa sĩ đường” để tập hợp nghĩa quân. Đứng dưới ngọn cờ “Hương Sơn Nghĩa hội”, tất cả cả mọi người đều phải làm lễ tuyên thệ và ông đã tổ chức lực lượng theo đạo quân chính quy, kỷ luật nghiêm minh. Ban đầu, trong nhiều trận giáp chiến với giặc, nghĩa quân Phan Đình Phùng thất thế, không sao kháng cự được lực lượng hùng hậu và vũ khí tối tân của chúng. Ông thường an ủi tướng sĩ “Được thua là chuyện thường tình của con nhà binh, không vì thế mà nản lòng thối chí”. Đầu năm 1886, ông rút quân về đóng ở làng Phụng Công, huyện Hương Sơn. Thời gian này, ông rất chú ý đến công tác ngụy vận, thường bảo với nghĩa quân: “Hễ khi giao chiến bất đắc dĩ lắm mới bắn giết lính tập, bỏi họ là anh em đồng bào với mình”. Ông có làm bài thơ Thấy xác lính ngụy, cảm tác để kêu gọi những người lầm đường lạc lối trở về với chính nghĩa (dịch):

Mày vì danh lợi chết phanh thây,
Đến nỗi bên khe phơi xác gầy.
Vết xe trước đổ nên tỉnh ngộ,
Kẻo chết ăn năn muộn lắm thay!

Trong gia đình họ Phan ở làng Đông Thái dựng cờ kháng chiến, không chỉ mỗi một Phan Đình Phùng mà còn có các anh chị em của ông nữa. Chị ruột của ông là Phan Thị Đại làm liên lạc cho nghĩa quân, anh ruột của ông là Phan Đình Thông đóng quân ở Nghệ An.

Đặt việc nước lên trên tình nhà 

Chẳng may, ông Thông sa vào tay giặc vì tên nội phản là Nguyễn Sử. Nửa đêm, y dẫn giặc đến vây bắt ông, đóng cùm giải về tỉnh đường Nghệ An dưới quyền của Tổng đốc Nguyễn Chính. Trước đây, khi Phan Đình Phùng giữ chức Ngự sử đã dâng sớ “đàn hặc” Thiếu bảo Nguyễn Chính về tội “ứng binh bất viện” (cầm quân ngồi yên không đi tiếp viện) lúc giặc Pháp tấn công thành Nam Định. Do đó, khi bắt được ông Thông, Chính tra tấn tàn nhẫn để trả thù. Y rất muốn giết ông, nhưng suy đi tính y muốn dùng ông để chiêu dụ được Phan Đình Phùng. Nếu bắt được Phan Đình Phùng thì sẽ giết cả hai anh em cũng chưa muộn.

Suy tính như thế nên y sai Tiễu phủ sứ Lê Kính Hạp – vốn là bạn tâm giao của Phan Đình Phùng – viết thư chiêu dụ. Trong thư có đoạn viết:

… Bác Phan! Gần đây tôi đi qua làng Đông Thái, nhìn thấy đền thờ gia tộc cùng phần mộ đức tiên quân của bác nghiêng ngả điêu tàn, không ai lo nhang khói khiến tôi bùi ngùi không sao cầm được nước mắt. Này bác Phan ơi!… Thôi thì tấm lòng của bác đối với sơn hà xã tắc thì thiên hạ đều rõ, không chê trách vào đâu được. Còn chuyện giữ hiếu với gia tộc, tổ tiên thì không ai có thể xao nhãng, huống gì là bậc khoa bảng như bác!… Tính mệnh anh bác ra sao thì cũng tùy thuộc vào sự lựa chọn của bác! Nếu bác giải binh, không chỉ làm tròn chữ hiếu mà núi Hồng sông Lam còn biết bao nơi u tịch để bác ở ẩn mà tu dưỡng khí tiết thanh tao…

Nhận được thư, Phan Đình Phùng chỉ cười gằn:

Gớm cho mấy anh nhà nho trói gà không chặt, suốt đời chỉ biết vùi đầu vào đống sách nát, hễ động chuyện là cứ đem của nhà mồ mả ra dọa người ta!

Rồi ông nói tiếp cùng ba quân:

Nay tôi chỉ có một ngôi mộ lớn cần phải gìn giữ, đó là giang sơn Việt Nam; tôi chỉ có một ông anh rất to, đó là mấy mươi triệu đồng bào đang đắm chìm trong nô lệ. Nếu tôi về sửa sang phần mộ của riêng gia tộc tôi thì phần mộ lớn của cả nước ai giữ? Nếu tôi về để cứu anh ruột tôi thì mấy mươi triệu anh em trong nước ai cứu? Vậy ai có giết anh tôi, xin nhớ gửi cho tôi bát nước xáo!

Nghe những lời tâm huyết của chủ tướng Phan Đình Phùng, các nghĩa quân đều ứa nước mắt và đồng thanh xin chiến đấu đến cùng. Đây cũng là thời gian mà đối với chủ tướng của mình, các nghĩa quân đã gọi vừa thân mật, vừa kính trọng bằng tên “cụ Phan” hoặc “cụ Đình nguyên”- mặc dù lúc ấy Phan Đình Phùng chỉ mới ngoài 40 xuân.

Những cộng sự kiệt xuất

Có thể nói bằng đức tính và tài năng của một bậc trượng phu, cụ Phan đã cảm hóa được các tướng lĩnh giỏi như Cao Thắng, Nguyễn Thanh, Nguyễn Trạch, Phan Đình Cam, Cầm Bá Thước, Nguyễn Mục v.v… Họ hết lòng trung thành với cụ trong sự nghiệp chống Pháp… Trong số những tướng giỏi này, đáng chú ý nhất là ông Cao Thắng – sinh năm 1864 ở thôn Yên Đức, xã Tuần Lễ (nay xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh), tướng ngũ đoản, là bậc kỳ tài trong việc chế súng không thua gì súng của Pháp. Là một nhà quân sự có tầm nhìn chiến lược, Phan Đình Phùng ý thức rằng, muốn đánh thắng giặc Pháp không chỉ có nghĩa quân hoạt động ở Hương Sơn mà phải phát động phong trào kháng chiến đồng loạt nổ ra trong cả nước. Vì thế cuối năm 1886, cụ lên đường ra Bắc liên lạc với các lực lượng hào kiệt và giao việc cầm quân cho Cao Thắng.

Thời gian này, Cao Thắng canh cánh trong lòng là phải chế tạo được súng trường tương tự như súng của Pháp. Ông sai nghĩa quân xuống hai làng Trung Lương và Vân Trung (thuộc huyện Can Lộc – Hà Tĩnh) nổi tiếng với nghề thợ rèn, kêu gọi thợ thầy đi theo “Hương Sơn Nghĩa hội”. Hàng trăm thợ rèn đã vác dụng cụ lên chiến khu. Cao Thắng đưa họ vào Lệ Động – một khu rừng sâu để bí mật đúc súng. Trong vòng mấy tháng trời mày mò, vừa làm vừa rút kinh nghiệm sửa chữa, những người thợ rèn dưới quyền chỉ huy của Cao Thắng đã đúc được hơn 200 khẩu súng có tính năng như súng trường 1874 của Pháp! Có được vũ khí hiện đại, Cao Thắng sai người ra Bắc đón chủ tướng về lãnh đạo cuộc trường kỳ kháng chiến.

Tổ chức quân thứ và xây dựng lực lượng chính quy

Trở về, cụ Phan sắp xếp lại đội ngũ và tổ chức huấn luyện quân binh, rồi chia nghĩa quân ra thành 15 quân thứ (tương tự như sau này ta gọi là quân khu), quân phục giống nhau, đóng ở đâu thì lấy tên nơi đó. Chẳng hạn, quân thứ của Cầm Bá Thước đóng ở Thanh Hóa thì gọi là Thanh thứ, quân thứ của Nguyễn Thu đóng ở Quảng Bình thì gọi là Bình thứ v.v… Mỗi quân thứ có chừng từ 100 đến 500 nghĩa quân, tùy theo tình hình mộ quân của mỗi nơi. Tất cả quân thứ đều phải thống nhất liên lạc với Bộ Tổng chỉ huy để nhận mệnh lệnh và kế hoạch chiến đấu. Bảo vệ cho chủ tướng Phan Đình Phùng là một đội thân binh gồm 20 tay súng thiện xạ do Nguyễn Mục phụ trách. Như thế, từ Quảng Bình ra đến Thanh Hóa là cả một hệ thống quân sự chính quy, sẵn sàng tác chiến, chứ không còn là những đội quân chiến đấu đơn độc như trước nữa.

Vua Hàm Nghi bị bắt

Nhưng đây cũng là thời điểm xẩy ra một biến cố quan trọng của lịch sử: vua Hàm Nghi bị bắt! Kẻ “bán đứng” ngài cho giặc là Trương Quang Ngọc. Y được cha con Tôn Thất Thuyết tin cậy giao nhiệm vụ bảo vệ ngài, nhưng sau vì tham tiền và nghiện thuốc phiện mà trở thành kẻ phản bội. Trước tổn thất lớn lao này, cụ Phan đã sai nghĩa quân đi giết Ngọc. Lúc y đang nằm bên bàn đèn, thả hồn theo khói phù dung thì một lưỡi đao sắc lẹm bổ thẳng xuống!

Bắt được nhà vua, thế là từ cuối năm 1888, giặc Pháp cho xây dựng vành đai dày đặc các đồn bót kiên cố nhằm ngăn chận nghĩa quân tràn xuống đồng bằng; cùng lúc chúng ra sức tuyển mộ thêm lính Khố xanh, Khố đỏ – vốn là người bản xứ nên thông thạo địa hình địa vật -để dẫn đường cho chúng hành quân càn quét các căn cứ kháng chiến.

Những trận đánh đầu tiên của nghĩa quân Hương Khê

Những trận đánh vang dội của “Hương Sơn Nghĩa hội” dưới quyền tổng chỉ huy của chủ tướng Phan Đình Phùng đã nổ ra khắp noi.

Ngày 19/1/1889, nghĩa quân ăn mặc giống như lính Khố xanh đã tập kích vào đồn bót của giặc, giết năm tên lính dõng và thu được nhiều vũ khí. Pháp tập trung phản kích, nghĩa quân rút sâu vào trong núi để bảo toàn lực lượng. Mãi đến tháng 9/1889, thượng sĩ Niort mới phát hiện và tấn công vào hai cứ điểm trong vùng Mỹ Hòa, nhưng chúng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt, lúc vào đến nơi thì chỉ thu được hai lá cờ lệnh, một khẩu đại bác cùng nhiều gươm, đao… nhưng nghĩa quân đã rút hết từ bao giờ rồi! Cho đến cuối năm 1889, Pháp còn mở nhiều đợt tấn công khác trên toàn tuyến Hà Tĩnh, Can Lộc, Thanh Hóa, Quảng Bình… nhưng không thu được chiến lợi phẩm nào đáng kể.

Bước qua năm 1890, nghĩa quân bắt đầu hoạt động mạnh và ra sức thực hiện chính sách ngụy vận. Nhờ vậy, đêm 16 rạng ngày 17/5/1890 một cai Khố xanh là Hép ở đồn Trường Lưu đã quay súng trở về với cụ Phan và sau đó dẫn 100 nghĩa quân vây đánh đồn này. Trận đánh ác liệt đã diễn ra, thượng sĩ Devoogt phải cầu cứu quân của thượng sĩ Trouvé lên giải vây. Nhưng khi viện binh mới đến làng Hốt thì đã bị nghĩa quân mai phục đánh một trận trối chết, binh mã tan tác không còn một mống. Thừa thắng, sau đó nghĩa quân tiếp tục tập kích vào đồn Trường Lưu, không giữ nổi, giặc phải rút về Hương Sơn.

Chính sách ngụy vận 

Ngày 1/6/1890, lúc tròi sẩm tối, tên cai Lê Hai dẫn bọn lính Khố xanh sục sạo trong vùng chợ Bộng. Chúng chỉ phát hiện một ông già và vài trẻ con. Do không chịu nổi tra tấn, ông già này khai báo trong làng Hà Trai có khoảng 200 nghĩa quân của Đề Đạt đang ẩn náu. Rạng sáng ngày hôm sau, chúng hăm hở hành quân, nhưng chưa đến nơi thì đã bị nghĩa quân phục kích. Mặc đầu Đề Đạt đã gọi loa kêu gọi đầu hàng nhưng chúng vẫn ngoan cố. Trận đánh kéo dài dến 11 giờ trưa ngày 2/6/1890, nhưng lúc chúng tháo chạy, nghĩa quân không truy kích…

Đêm 3/6/1890, lúc nửa khuya, đang phấn khởi vì chiến thắng đồn Trường Lưu, nghĩa quân đã đánh thẳng vào đồn Hương Khê, đồng thời quấy rối ở đồn Linh Cảm – ngăn cản không cho giặc tiếp viện. Trận đánh dữ dội đang diễn ra trên đà thắng thế, lúc chúng sắp sửa đầu hàng thì thiếu úy Lambert – đồn trưởng đồn Linh Cảm – đã liều chết đem quân đánh giải vây cho đồng bọn…

Những trận đánh liên tục nổ ra trong vùng Hương Sơn. Điều đáng chú ý là trong thời gian này, cụ Phan đã quyết định treo giải thưởng cho bất cứ ngụy quân nào bắn vào bọn chỉ huy người Pháp hoặc quay súng về với nghĩa quân thì được trọng dụng xứng đáng. Chính sách tích cực này đã gây chia rẽ, hoang mang cực độ trong đội ngũ binh lính của giặc Pháp.

Danh hiệu Sơn Trung tể tướng

Đến giữa năm 1890, các quân thứ kháng chiến đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháo đài phòng thủ và lũy hào dầy đặc gây cho giặc Pháp những tổn thất nặng nề. Chiến thuật đánh giặc của cụ Phan không chỉ dựa vào rừng núi hiểm trở để xây dựng công sự kiên cố, mà còn phối hợp lối đánh du kích tài tình. Tài năng quân sự này còn thể hiện ở chỗ không chỉ phòng thủ công sự, mà còn phân tán lực lượng để đánh đồn, diệt viện binh, ngăn chận đường giao thông, không phá được đồn thì nhử chúng ra ngoài để tiêu diệt… Từ đó, oai linh của cụ Phan ngày càng lan rộng, nhân sĩ các vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã tặng cụ danh hiệu “Sơn trung tể tướng” là vậy.

Cuộc hành quân của giặc Pháp vào các căn cứ nghĩa quân

Giặc Pháp tìm mọi cách để lật ngược lại thế cờ.

Công sứ Luce quyết định chọn căn cứ của ông Đề Mậu trong vùng Cây Chanh – Đồng Cốc – Trấn Lương để tiêu diệt trước nhất, chúng bímật len lỏi qua các lối đi để tiến dẫn đến mục tiêu rồi bất ngờ tấn công. Ngày 22/8/1890, lợi dụng trời tối đen như mực, Thượng sĩ Haguet chỉ huy đồn Cây Chanh đem quân vây hãm phía sau căn cứ của nghĩa quân; cùng lúc tên cai Đinh Huấn Dương tổ chức lực lượng tấn công trực diện phía trước. Bị đánh bất ngờ, nghĩa quân phải rút lui… Sau đó, các căn cứ ở Nam Huân, Trại Cốc và các làng trong vùng Ngàn Sâu cũng bị tấn công, nghĩa quân phải lùi dần vào rừng sâu núi thẳm.

Mãi đến tháng 8/1892, giặc Pháp mới thu thập được những thông tin quan trọng về các địa điểm đóng quân như: chủ tướng Phan Đình Phùng đóng ở vùng Hội Trung với nhiều tướng tá và 150 tay súng; bá hộ Thuận đóng ở Trại Chè, ông Đốc Chánh đóng ở Thiên Thôn với 100 tay súng; ông Cao Đạt đóng ở vùng La Sơn với hơn 450 tay súng v.v… Nhưng điều khiến chúng lo ngại nhất là trong vùng Hương Sơn do chúng đang kiểm soát cũng có nghĩa quân đang bí mật hoạt động.

Trên cơ sở những thông tin đã thu thập được, giặc Pháp quyết định tổ chức cuộc hành quân trên quy mô lớn với kế hoạch: quấy rối Trại Chè để nghi binh, làm lạc hướng phòng thủ của đối phương, rồi bất thần đem đại quân đánh thẳng vào Hội Trung – nơi cụ Phan đang lập hành dinh tổng chỉ huy; sau đó tiếp tục càn quét tất cả rừng núi ở hữu ngạn Ngàn Sâu. Công sứ Luce quyết định chọn ngày 8/8/1892, lúc nửa đêm để mở đầu cuộc hành quân thần tốc – vì lý do rất đơn giản là trước đó y nhận được thư của vợ từ Pháp mới gửi sang!

Theo nhiệm vụ đã phân công thì các cánh quân của thượng sĩ Haguet và Folcher đánh Khê Thượng; Thượng sĩ Robert và Bourgeois đánh Trại Cuội; thiếu úy Lambert và thượng sĩ Crémont, Mariani đánh Hương Khê. Nhưng do không thông thuộc địa hình nên mãi đến ngày 12/8, các cánh quân này vẫn chưa đồng loạt đến được địa điểm đã dự tính trước. Riêng thượng sĩ Robert thay vì dẫn quân đến Trại Cuội thì lạc đến Hội Trung, đã thế lại còn đến sớm hơn hai cánh quân kia. Lập tức kế hoạch của chúng bị đảo lộn, dù chưa phối hợp với nhau nhưng Robert bắt buộc phải nổ súng trước! Lực lượng của y quá ít nên bị nghĩa quân chống trả mãnh liệt và rút lui an toàn. Vì khinh địch, Robert liền lùa quân truy quét, nhưng đến cuối rừng thì chúng hoang mang khi gặp dòng suối lớn cắt ngang. Chúng chưa biết tính toán ra sao thì từ bên kia suối, một lực lượng nghĩa quân được bố trí sẵn đã bắn xối xả! Robert thất kinh hồn vía vừa đánh trả, vừa hạ lệnh rút lui. Lúc ấy, thiếu úy Lambert chỉ cách một giờ đường nhưng không hay biết gì cả. Mãi đến sáng ngày 14/8 khi Lambert hay tin, kéo quân lên chi viện cho Robert thì cụ Phan đã cho quân rút hết. Như thế kế hoạch thần tốc của giặc hoàn toàn thất bại.

Trận tập kích Hà Tĩnh năm 1892

Dù rút vào rừng sâu, nhưng cụ Phan vẫn chỉ đạo ông bá hộ Thuận bí mật đem quân áp sát đồn Hà Tĩnh, đánh úp sào huyệt của chúng. Theo kế hoạch thì đội quân thứ nhất đốt phá nhà của những tên Việt gian để gây hoang mang trong nội bộ của giặc; đội quân thứ hai do bá hộ Thuận chỉ huy tấn công vào trại lính Khố xanh, tin nội gián cho biết lúc này trong trại chỉ còn chừng bốn mươi tên, phần lớn đã hành quân đàn áp lực lượng kháng chiến; còn đội quân thứ ba đánh phá nhà lao để giải thoát cho đồng đội đang bị giam giữ – trong số này có ông Thịnh, anh ruột của bá hộ Thuận.

Rạng sáng ngày 24/8/1892, sau hai phát pháo lệnh, trận đánh đã diễn ra đúng kế hoạch. Súng nổ khét đất. Nhà cháy rực trời. Nghĩa quân đã thắng lớn.

Cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn khó khăn

Tính đến năm 1893 thì cuộc kháng chiến ở Hương Khê đã được 8 năm, giặc Pháp tổn thất nặng nề nên chúng quyết định tập trung lực lượng hùng hậu để xóa sổ các căn cứ kháng chiến của cụ Phan. Trong những cuộc càn quét ráo riết của chúng, không chỉ có lính Khố xanh, Khố đỏ dẫn đường mà các nhà “khoa bảng” bán mình cho giặc như Lê Kính Hạp, Hoàng Cao Khải, Phan Huy Quân, Thái Văn Trung… cũng tham gia hành quân và hiến kế! Dần dần địa bàn hoạt động của cụ Phan bị thu hẹp dần, đáng nguy nhất là các thứ quân từ Quảng Bình ra Thanh Hóa đã bị chúng cắt đứt liên lạc nên không còn tạo được thế phối hợp tung hoành như trước.

Kế hoạch đánh thành Nghệ An

Đêm đã khuya. Sương rơi trĩu cành. Gió thổi từng con lạnh buốt xương. Trong gian nhà cỏ, cụ Phan vẫn trằn trọc, suy tính. Cụ biết nếu không lấn quân xuống đồng bằng, chỉ quanh quẩn trong rừng núi thì cũng chỉ đến ngày thất bại. Vậy phải tính nước cờ nào? Cụ băn khoăn suy nghĩ mãi, lúc bước ra sân, ngước mắt nhìn trời cao thăm thẳm thì cụ đã nghe vọng tiếng gà rừng gáy. Lúc đó, Đề đốc Cao Thắng vừa giật mình thức dậy, ông bàng hoàng khi thấy chủ tướng vẫn chưa nghỉ, nhẹ nhàng bước đến gần và thưa:

Bẩm cụ Đình Nguyên, trời đã sắp sáng, xin cụ vào trong nhà yên giấc…

Cụ Phan chậm rãi quay lại:

Tình thế đã đến nước này thì ta làm sao có thể yên giấc nồng? Quân đã tiêu hao, mòn mỏi từng ngày, ta nghĩ phải tập trung sức lực đánh lớn cho giặc hồn kinh phách lạc để lật lại thế cờ. Nhưng ta cũng biết, nếu đánh không thắng thì tinh thần ba quân sẽ suy sụp chóng vánh. Còn đánh thắng ư? Dễ gì chống chọi lại với hỏa lực tối tân, đạn đồng súng lớn của chúng? Ngươi có kế gì hay?

Cao Thắng nghiêm nghị:

Bẩm cụ, tôi nghĩ chỉ còn cách là phải đánh vào thành Nghệ An. Tại sao à? Giặc trấn giữ Nghệ An với nhiều lương thực, vũ khí là nhằm khống chế ta hoạt động ở các tuyến Hà Tĩnh, Quảng Bình… và đó cũng là nơi chúng ngăn chận đường giao thông không cho ta liên lạc ra Bắc. Do đó, nếu ta đánh thắng được thành Nghệ An thì tình thế sẽ thay đổi.

Cụ Phan phân vân:

Ta đánh Nghệ An, nhưng giặc từ ngoài đánh vào và từ trong đánh vô thì liệu ta đỡ có kịp không?

Cao Thắng nói quả quyết:

Tôi cũng nghĩ thế, nhưng cùng lúc các quân thứ đều hoạt động mạnh, cầm chân giặc thì chúng không thể nào chi viện cho nhau được.

Cụ Phan gật gù đồng ý với kế hoạch táo bạo này.

Cuộc tiến quân ở Nghệ An

Vậy là đầu tháng 8.1893, từ chiến khu Ngàn Trươi, Cao Thắng dẫn 500 quân đi trước, em ruột là Cao Nữu cũng dẫn 500 quân đi sau – tất cả đều mặc quân phục màu đỏ. Cao Thắng cho rằng: phương Nam ta thuộc về Hỏa, phương Tây thuộc về Kim mà Hỏa khắc Kim, nay ta lấy lửa nung vàng thì vàng sẽ chảy…

Trên đường tiến quân, nghĩa quân đã quét sạch nhiều đồn bót và tiêu diệt nhiều tên Việt gian. Ngày 12/9/1893, thượng sĩ Niort và Lãnh binh Phiên đem quân tấn công vào làng Lương Điền – cách thành Nghệ An dăm cây số, nơi nghĩa quân đang tập trung binh mã. Trong trận đánh quyết liệt này, Cao Thắng đã trúng đạn, chết tại trận khiến nghĩa quân phải rút lui. Bất chấp sự truy kích của giặc, họ vẫn cõng xác Cao Thắng về chiến khu Ngàn Trươi.

Nhận được tin dữ, cụ Phan đã khóc thảm thiết:

Trời hại tôi! Cao Thắng ôi! Trời ơi tròi!

Chính cụ tự tay viết hai câu đối khóc người đồng chí từng đồng cam cộng khổ với mình (Khương Hữu Dụng dịch):

Có chí không thành, anh hùng đã khuất;
Chưa thắng đã chết, ý trời ra sao?

Và cụ còn viết một bài văn tế dạt dào cảm xúc đọc trong lúc truy điệu, khiến các nghĩa quân đều rơi lệ:

Cửa tía lầu vàng đành kẻ khuất, đem thân bách chiến, để tiếng thơm cho tỏ mặt anh hùng; Súng đồng gươm bạc mặc người còn, truyền lệnh ba quân, thét hơi mạnh để xây nền bình trị. Thương ôi là thương, Kể sao cho xiết!

Cái chết của Cao Thắng đã gây xúc động, căm hờn trong nghĩa quân, họ thể cùng chủ tướng Phan Đình Phùng quyết chết chứ không chùn bước.

Thời gian này, cụ Phan vẫn náu quân ở Ngàn Trươi. Giặc Pháp không sao tiêu diệt được. Để đánh bẹp ý chí sắt đá của người anh hùng, chúng hèn hạ quật mồ mả tổ tiên của cụ; cùng lúc, chúng sai Khâm sai kinh lược Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải – người cùng làng Đông Thái với cụ Phan – viết thư chiêu dụ, nhưng những trò thất nhân tâm và đốn mạt này đều thất bại.

Nguyễn Thân đàn áp phong trào kháng chiến 

Bấy giờ, Tiễu phủ sứ Nguyễn Thân ở Quảng Ngãi nổi tiếng là khát máu, giết người không góm tay nên giặc Pháp thương thuyết với triều đình Huế đưa y ra xứ Nghệ đàn áp phong trào kháng chiến.

Đầu năm 1895, Nguyễn Thân đem 3.000 ngụy quân phối hợp với giặc ở đồn Linh Cảm để bao vây cụ Phan. Chúng dựng đồn bót dày đặc nhằm cắt đứt mọi đường tiếp tế lương thực. Chiến thuật này đã dồn nghĩa quân cụ Phan vào thế khốn cùng, phải rút sâu vào trong núi, khi ở Ngàn Trươi, lúc về Vụ Quang… Tình thế bị vây hãm trong núi khiến lực lượng kháng chiến ngày càng yếu dần, người chết vì bệnh, kẻ suy sụp tinh thần vì đói…

Gian nan tột cùng không sao kể xiết!

Tuy thế, khiếp sợ tài cầm quân của cụ Phan nên Nguyễn Thân cũng không dám động binh. Chỉ có một lần chúng liều lĩnh tiến quân lên núi thì cụ đã đoán biết trước. Tương truyền, trong một ngày Dần, bỗng cụ thấy nôn nao không yên, trong lòng như có lửa đốt, chẳng hiểu có sự ra sao mà lạ lùng như thế? Bật người dậy giữa đêm khuya khoắt, bốn bể yên ắng, cụ đã đã dùng Kinh dịch và bói được quẻ “Mão quỷ phát động”. Quả nhiên vào sáng mai, ngày Mão, giặc tấn công thật nhưng ngay trong đêm đó, cụ Phan đã cho rút quân an toàn!

Kế “Sa nang úng thủy”

Cuộc kháng chiến Hương Khê kéo dài đã mười năm trời ròng rã. Giặc Pháp quyết định bằng mọi cách phải tiêu diệt bằng được căn cứ Vụ Quang hiểm trở mà cụ Phan đang ẩn náu. Nhận được tin, ai nấy đều lo lắng. Cuối cùng để thoát khỏi tình thế ngặt nghèo này, cụ Phan quyết định cho đánh trận lừng lẫy mà sau này các nhà nghiên cứu quân sự đã gọi là kế “Sa nang úng thủy”. Đó là kế mà Hàn Tín đã dùng để đánh quân Sở. Từ trên đầu nguồn của sông Vụ Quang, cụ cho nghĩa quân chặt nhiều cây to, rồi dùng dây mây kết lại thành từng khối lớn để ngăn dòng nước. Khi bị cản lại từ đầu nguồn thì nước phía dưới sông cạn dần, mọi người có thể qua lại dễ dàng…

Sau khi bố trí xong, lúc nửa đêm nghĩa quân chủ động xuống núi khiêu khích để dụ giặc theo kế của mình. Họ đánh yếu ớt, vừa cầm chừng vừa rút chạy. Đại bác của giặc bắn như vãi thóc vào đồn trại của nghĩa binh, lửa cháy nghi ngút. Nhưng chúng cũng không dám tiến quân vì sợ trúng kế nghi binh của đối phương. Mãi sau vẫn không thấy có động tĩnh gì, chúng xung phong tấn công lên thì chỉ thấy đồn trại trống hoác, gươm cùn, giáo gẫy nằm ngổn ngang… còn nghĩa quân chúng nghĩ là do sợ hãi nên đã tháo chạy. Chưa kịp mừng thì chúng đã nghe giữa lưng chừng núi có tiếng trống mõ náo động như đang chuẩn bị phản công. Thấy thế, đang thừa thắng, chúng tức tốc kéo quân xuống nghênh chiến. Quả thật, chỉ sau vài trận, nghĩa quân chống cự không nổi nên phải vội vàng tháo lui. Ra đến sông nghĩa quân vượt sông vì nước chỉ đến đầu gối. Không bỏ lỡ cơ hội, giặc cấp tốc đuổi theo…

Lúc ấy, bỗng từ trên đầu nguồn cả ngàn khúc cây to lao thẳng xuống. Và bên kia mé sông, phục binh cũng đã nổ súng giòn giã! Đó là lúc nghĩa quân đã chặt đứt dây mây, các cây to bị tháo tung ra theo dòng nước dự trữ bấy lâu nay phăng phăng lao xuống. Bị rơi vào kế “Sa nang úng thủy”, trở tay không kịp, giặc bị tiêu diệt nặng nề.

Sau trận đánh vang dội “vô tiền khoáng hậu”, trước ba quân, dù bị thương nhưng cụ Phan cũng đã hào hứng đọc bài thơ sảng khoái lạ thường:

Non rất cao mà nước rất xanh,
Nước non linh hiển giúp cho mình.
Nếu không bên ít, bên nhiều thế,
Mới đến đầu khe đã hoảng kinh?

(Khương Hữu Dụng dịch)

Cuối đời 

Nhưng hỡi ôi! Giữa lúc nghĩa quân đang phấn chấn tinh thần thì vết thương của cụ Phan ngày càng trầm trọng. Cụ ngày càng xanh xao, tiều tụy…

Mãi đến rạng ngày 28/12/1895, cụ cảm thấy trong người mệt nhọc lắm rồi, bèn cho gọi ba quân lại và sai lấy giấy bút để chép lời trăn trối. Chao ơi! Một bậc tướng quân từng xung trận với giọng nói mạnh mẽ, dứt khoát như tiếng chuông, tiếng cồng, thế mà nay lại yếu ớt nhỏ nhẹ khiến tất cả phải im phăng phắc mới nghe được:

Nhung trường vâng mệnh đã mười đông,
Việc võ lôi thôi vẫn chẳng xong.
Dân đói kêu trời vang ổ nhạn,
Quân gian dậy đất rộn đàn ong.
Chín trùng lận đận miền quan tái,
Trăm họ phôi pha đám lửa nồng.
Trách nhiệm càng cao, càng gánh nặng,
Tướng môn riêng thẹn mặt anh hùng.

(Đào Trinh Nhất dịch)

Vừa dứt bài thơ thì cụ tắt thở. Ba quân thương tiếc vô cùng, họ khóc òa tiễn biệt người anh hùng đã làm tròn phận sự. Giữa lúc đau đớn tột cùng này cũng là lúc thượng sĩ Moutin kéo quân lên truy kích, các nghĩa quân vội vã giấu xác chủ tướng vào trong một cái hốc cây, rồi cầm súng chiến đấu. Họ hy vọng sau lúc thắng trận sẽ tiến hành làm lễ an táng đúng theo nghi lễ dành cho một lãnh tụ.

Thế nhưng sau đó, Moutin đã phát hiện ra xác cụ, y bàng hoàng khi nhận ra người anh hùng lỗi lạc đã ra người thiên cổ. Cho dù đó là nhân vật đã từng đối đầu sống mái với chúng hơn mười năm trời, nhưng y vẫn truyền lệnh chôn cất tử tế để tỏ lòng khâm phục.

Nguyên Thân quật mồ, đốt thi hài cụ Phan

Hành động này đã không được Việt gian Nguyễn Thân tán đồng. Hắn tàn nhẫn sai quật mồ, đốt thi hài cụ Phan thành tro, rồi nhồi tro vào thuốc súng thần công mà bắn xuống dòng La Giang!

Thương tiếc cụ Phan, các văn thân đất Nghệ Tĩnh đã soạn câu đối điếu thống thiết (Đào Trinh Nhất dịch):

Anh hùng thành bại kể chi, dạ sắt son, lòng vàng đá, thể cùng các bạn giữ trước sau. Mặc Châu đúc khí tinh anh, trung hiếu hẹn hò cùng sử sách. Ngao ngán nhẽ! Lầu cao sắp đổ, một cột khó nâng, phòng vắng khói tan, liếc mắt rừng xanh thêm tức tối! Và bây giờ rồng bay mây ám, xót xa nhân thế khôn lường, khá thương La Việt giang san, văn hiến trăm năm thành trận mạc; Trời đất xưa nay thế mãi, đá dựng ngược, nước chảy xuôi, đó vẫn non sông phường tuấn kiệt. Lam Hồng nổi cơn bão tuyết, bách tùng úa rụng luống xông pha. Đau đớn thay! Đê lỡ sóng vổ, giữa dòng trụ đứng, sao dời vật đổi, ngoảnh đầu vườn cũ phải bồn chồn! Đương phen này gió thổi nhạn lìa, căm giận hóa công cay nghiệt, riêng cảm Tùng Mai khí tiết, tinh thần một thác rạng trăng sao.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.

Chấm điểm
Chia sẻ
Phan Đình Phùng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)