Phan Xích Long (1893 – 1916)

Phan Xích Long (1893 – 1916)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Phan Xích Long là một nhân vật lạ lùng trong lịch sử Việt Nam: tự xưng con trai vua Hàm Nghi (1884-1885), tự lên ngôi Hoàng đế, đặt tên “vương quốc” là Đại Minh Quốc, “quốc kỳ” là lá cờ có đính bảy ngôi sao, để ba chữ nho là Đại Minh Quốc, có “ấn” Thiên tử ngọc tỉ, có thanh gươm khắc dòng chữ: “Tiên đả hôn quân, hậu đả loạn thần” như một lời tuyên ngôn về mục đích khởi nghĩa. Bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục binh tướng bằng sức mạnh của bùa phép, anh tỏ ra rất am hiểu khoa học kỹ thuật khi tổ chức làm tạc đạn, hỏa lôi, rèn gươm! Bên cạnh việc thờ “Phật sống” tại Chợ Lớn để rao giảng kinh đạo, anh lại lập căn cứ trên núi làm kho chứa lương thực, vũ khí! Khi xông trận binh tướng mặc quần đen, áo trắng, cổ đeo bùa, miệng đọc thần chú, nhưng tay lại cầm mác dũng cảm đối đầu với hòn tên mũi đạn. Bản thân Phan Xích Long thì lúc nào cũng ăn mặc như một Hoàng đế, cổ đeo khánh Đông cung thái tử, tay đeo kiểng có khắc dòng chữ “Đại Minh Quốc, Phan Xích Long Hoàng đế thống trị Trung Huế, phía trong khắc chữ “Dân cống” (Dân dâng cho), lưng đeo đai hình rồng sặc sỡ, đầu đội vương miện, hông mang gươm lủng lẳng!

Đáng chú ý là hành động nghĩa hiệp và dũng cảm của Phan Xích Long diễn tại Sài Gòn năm 1913 lúc anh mới ngoài hai mươi xuân. Cuộc khởi nghĩa này đã gây chấn động ở Nam Kỳ. Do đó, sau khi đàn áp xong, thực dân Pháp phải gấp rút cho ấn hành quyển sách có tựa “Truyện Phan Xích Long” do Imprimerie de L’Union-157 Rue Catina in năm 1913 – nhằm trấn an dư luận “Dám khuyên dân chúng ai ai, xin phải đành an phận mạng”. Sách dày 58 trang, khổ 13cm × 16,5cm, nhưng trong đó bản cáo trạng đã chiếm đến 32 trang, bản luận tội dài 15 trang và bản kết án dài 2 trang – do Tòa đại hình Sài Gòn xét xử từ 7 giờ 30 sáng ngày 5/11/1913 đến ngày 12/11/1913. Tòa án thực dân kết luận vụ khởi nghĩa này là “Ra oai sấm vang trời rền, nổi hiệu lên xúm lại giết Tây” (trang 46) và “phải hiểu nghĩa là chúng nó lo đuổi người Đại Pháp ra khỏi Đông Dương” (trang 48), nghĩa là việc làm của Phan Xích Long có mục đích hẳn hòi, chứ không phải là “cao hứng” bồng bột của chàng thanh niên 23 xuân!

Xuất thân

Phan Xích Long sinh năm 1893, tên thật là Phan Phát Sanh, còn có tên là Lạc- con trai của ông Phan Núi làm nhân viên cảnh sát ở Chợ Lớn. Mười bảy tuổi, Lạc bỏ Nam Kỳ đi sang Xiêm, Cao Miên học gồng, bùa phép và võ nghệ. Vì vậy trên ngực Lạc có xâm hình vằn vện, trông rất khiếp đảm! Vào tháng 11/1911, có hai thanh niên ở làng Đa Phước (Chợ Lớn) là Nguyễn Hữu Trí (Hai Trí) và Nguyễn Văn Hiệp đi Tân Châu (Châu Đốc) mua bắp. Họ đã gặp Lạc. Qua trò chuyện, cả ba tỏ ra tâm đầu ý hợp và bàn kế hoạch lập ra “hội kín” – một hình thức hoạt động của tổ chức Thiên Địa Hội – để chống Pháp.

Hoạt động cách mạng

Theo phân công, Lạc đóng vai là thái tử của vua Hàm Nghi. Còn Hiệp và Hai Trí trở về Chợ Lớn rước ông già mù Nguyễn Văn Kế – nhà gần bưu điện Chợ Lớn – về nhà Hai Trí để tôn làm “Phật sống”. Ông Kế đồng ý đảm nhận vai trò này và hai con trai của ông là Ba Mùa làm nghề đánh xe ngựa trong Tòa bố tỉnh Gia Định và Tư Màng làm công nhân Ba Son cũng đồng ý gia nhập vào “ hội kín”. Đây là sách lược đầu tiên nhằm thu hút dân chúng. Nhưng chỉ thời gian ngắn, hương lý trong làng bắt Hai Trí nộp cho quan Tham biện. Về sau, không tìm ra chứng cứ gì rõ ràng nên chúng phải thả. Thấy bị động, Trí bèn đưa” Phật sống” về nhà của Tư Phát ở số 10 đường Thuận Kiều. Trong khi đó, Lạc đi chu du khắp nơi, mặc áo thầy chùa, tuyên truyền yêu nước nên bị theo dõi rất ngặt, phải trốn qua Battambang (Campuchia). Đến xứ người, Lạc làm nghề cu li và làm thuốc chữa bệnh để kiếm sống đắp đổi qua ngày. Còn “Phật sống” lúc đưa về địa điểm mới, dân chúng vẫn nườm nượp ngày đêm đến dâng cúng bạc, vàng và chiêm bái! Trong nhà nghi ngút khói hương, tiếng chuông, tiếng mõ vang rền, người sùng bái đến đông đúc như đi trẩy hội. Chẳng may, bốn tháng sau, “Phật sống” vĩnh biệt dương thế để đi về cõi âm. Chỉ chờ có vậy, Hai Trí nhanh chóng phao tin là trước khi chết, “Phật sống” có trối trăn lại là phải tôn Lạc lên ngôi Hoàng đế. Dân chúng rất náo nức chờ đợi ngày Hoàng đế lên ngôi. Hai Trívà Hiệp liền qua Battambang để rước Lạc về ngự.

Tháng 9/1912, Lạc về ở đường Thuận Kiều. Ngày 14/10/1912, Lạc quyết định chọn ngày đăng quang tại tửu quán Nam Hiệp Hòa đường Bourdais (nay là đường Calmette). Đây là quán mà cha ông hương chủ Phước lập ra để chờ ngày trọng đại này. Hôm đó, cùng các đồng chí của mình, Lạc đã tổ chức yến tiệc rầm rộ- mà sau này trong bản cáo trạng có ghi: “nhậm lễ vật dân cống chừng 600 đồng bạc lớn” và “công việc tế nhạc làm ra mà tế lễ cho Phan Xích Long Hoàng đế thật là oai nghiêm”. Phía trong tửu quán có đặt một bàn thờ lớn, hai bên thắp đèn bạch lạp sáng rực, Lạc ngự ở đó. Dân chúng bái lạy hết sức tôn kính và họ tin rằng đó là “thiên tử” do nhà trời sai xuống để đánh đuổi giặc Tây.

Chuẩn bị khởi nghĩa

Sắp xếp xong mọi việc, Phan Xích Long lên Cần Vọt sát biên giới Việt Miên để lập chùa trên núi, đặt tên là Nam Long trường sanh. Cũng theo bản cáo trạng thì thực chất đó là nơi “để cho dân An Nam tới trốn khi Nhà nước tẩm bắt, lại cũng là nơi để cho nghĩa sĩ náu nương đợi thời biến và cũng là chỗ làm lễ nhạc cho chư vị lập lời thề nguyền trọn ngãi kim lan”. Với vùng đất rộng mênh mông còn hoang vu, Phan Xích Long cùng Hai Trí, Hiệp và “hội kín” của mình lập thành căn cứ kháng chiến lâu dài.

Khi quay về Chợ Lớn, Phan Xích Long bắt đầu triển khai kế hoạch khởi nghĩa, ấn định vào ngày 28/3/1913. Trước tiên, những người trong “hội kín” đi rải truyền đơn khắp Sài Gòn – Chợ Lớn để tuyên truyền rằng: “Sẽ có một người là chánh vị vương, tên là Phan Xích Long đánh đuổi người Lang-Sa và thắng trận, khuyên những người buôn bán ngoại quốc, cùng dân chợ phải lo trốn giặc, đem giấy bạc mà đổi lấy bạc đồng”.

Ban đầu, thực dân Pháp cứ ngỡ đó là trò lừa gạt của Hoa kiều buôn bán trong Chợ Lớn, nhưng khi phát hiện ra còn có thêm cả “Mỗi trái phá nặng từ 14 đến 16 cân tây, trong đó có 6 cân thuốc súng và một cân đạn miểng” được chôn ở nhiều nơi thì chúng tăng cường cảnh giác. Theo bản cáo trạng thì Phan Xích Long rất thạo kỹ thuật chế tạo vũ khí, anh đã vẽ kiểu cùng với Tư Màng- công nhân hãng Ba Son – rồi mướn người về làm. Người nhận làm là Tám Giàu – chủ trại thợ ở làng Bình Hòa (Gia Định) nhận của “hội kín” số tiền là 330 đồng để chế tạo hỏa lôi. Ngoài ra, Phan Xích Long còn giao cho Hai Trí tổ chức rèn gươm v.v… Chuẩn bị xong, vào đêm 23 rạng 24/3/1913 Hai Trí sai Đặng Tấn Sao dùng thuyền bí mật chở 5 trái phá loại lớn nhất đến giấu tại cầu Ông Lãnh. Sau đó, người trong “hội kín” đến lấy đặt ở đường Kinh Lấp và các chỗ khác như đoạn gần đường xe lửa, dinh Chánh soái, dinh Thống soái Nam Kỳ, xưởng Ba Son… Và chỗ nào có dán truyền đơn thì cũng có đặt trái phá tại đó. Ngoài ra, “hội kín” còn tổ chức đặt trái phá đồng loạt ở Chợ Lớn, Tân An, Sóc Trăng, thậm chí còn đặt ở Nam Vang (Campuchia) nữa.

Khởi nghĩa năm 1913 tại Sài Gòn

Rồi bốn ngày sau, đúng ngày Phan Xích Long khởi nghĩa, binh tướng được phát lá bùa, đốt uống và nghe căn dặn rằng: sau khi đã uống bùa thì đi không ai nhìn thấy; thân thể có được phép gồng, đạn bắn không xuyên qua da, gươm đâm cũng không lủng thịt (!) Những binh tướng này tin rằng, khi mình hành quân đến Sài Gòn thì sẽ được gặp Hùm thiêng Yên Thế Đề Thám (!) và Phan Xích Long Hoàng đế.

Nhưng họ không ngờ rằng, trước đó, ngày 22/3/1913 trên đường đi tuyên truyền kêu gọi quần chúng “Ta hãy đứng dậy mà phục quốc” thì Phan Xích Long đã bị thực dân Pháp bắt tại Phan Thiết. Sáng hôm đó, ngày 28/3/1913 có hơn 600 người của “hội kín” tiến quân từ hướng Chợ Lớn đổ về Sài Gòn. Họ mặc y phục quần đen, áo trắng, bịt khăn xéo có thắt nút giữa trán làm mật hiệu riêng. Trời vừa rạng sáng, binh tướng của Phan Xích Long mới vừa xuất hiện ở Tòa bố, Kho bạc, dinh Thống đốc… chưa kịp áp sát mục tiêu thì giặc Pháp đã chủ động nổ súng trước. Những người hăng hái đi đầu đã ngã gục trước hòn tên mũi đạn, số sống sót còn lại chạy tán loạn nhưng cũng bị bắt gần hết. Riêng Hai Trí cùng một số đồng chí khác trốn thoát được. Họ nhanh chân chạy về căn cứ Cần Vọt, náu thân ở chùa Nam Long trường sanh.

Phiên toàn và bản án

Sáng ngày 5/11/1913, Tòa đại hình đưa 104 người tham gia khởi nghĩa ra xét xử. Điều đầu tiên khiến thực dân kinh hoàng là những vũ khí mà chúng thu nhặt được. Tên quan ba Madec nhận xét:

– Quả là đồ hiểm nghèo, hễ những trái ấy nổ ra chỗ đông người thì hại to” và “thuốc súng trong hỏa lôi có trộn than nhiều, bỏ diêm ít hơn, như vậy cũng là nhậy nổ.

Trước tòa án, những người cầm đầu đã tỏ ra cứng rắn, không một chút run sợ. Theo bản cáo trạng cho biết: “Trước mặt quan bồi thẩm, tên Hiệp nó khai một cách mạnh mẽ: lòng nó ghét Lang-Sa cai trị trong xứ này, dầu nó có bị trái hỏa lôi văng nhầm mà chết thì cũng cam tâm”. Hương quản Ngọ ngạo nghễ đọc thơ:

Chẳng quản thân này còn mất,
Mai nay khởi nghĩa sẵn tâm.

Còn Phan Xích Long nét mặt bình tĩnh lạ thường, tự nhận mình là người viết truyền đơn, sau đó đưa cho Hai Trí sửa lại câu cú; tự nhận mình là người hướng dẫn cho binh tướng rèn gươm, chế tạo hỏa lôi. Và anh tỏ ra tiếc là những người thừa hành không liệng hỏa lôi cho banh xác Tây mà chỉ “đem đến nơi để nằm dưới đất”.

Tên chưởng lý G. Michel đã kết án những người anh hùng 5 tội mà chung quy là xúi giục dân chúng đánh đổ Nhà nước Đại Pháp! Phan Xích Long cùng những người cầm đầu bị kết án chung thân, còn những người khác bị 20 năm khổ sai trở xuống.

Hy sinh

Sự kiện này đã gây chấn động trong giới giang hồ mã thượng trên đất Nam Kỳ. Đâu đâu thiên hạ cũng bàn tán râm ran và tỏ lời thán phục. Ba năm sau, năm 1916, từ Cần Vọt, Hai Trí lại dẫn binh tướng của “hội kín” tiến về Sài Gòn. Họ quyết định phá ngục tù Khám Lớn để giải cứu cho Phan Xích Long Hoàng đế! Theo kế hoạch, họ phân tán lực lượng bằng cách đi trên ghe nhỏ, bí mật tập kết dưới gầm cầu Khánh Hội.

Nửa khuya ngày 16/2/1916 có khoảng 300 người mặc quần đen áo trắng đồng loạt cầm gươm, giáo, mác hùng hổ xung phong tấn công mục tiêu. Từ trong Khám Lón, giặc điên cuồng nổ súng! Đội hình lập tức rối loạn. Súng Pháp khạc đạn rực trời, bắn không thương tiếc. Có đến 19 người chết tại chỗ. Rạng sáng, chúng nhanh chóng tỏa quân đi bắt hết những ai mặc quần đen áo trắng -mà chúng tình nghi là người của “hội kín”. Tòa án lại xử vụ Phan Xích Long một lần nữa. Ngày 22/2/1916 có 38 người bị xử tử tại Đồng Tập Trận – đứng đầu danh sách là Phan Xích Long!

Cuộc khởi nghĩa thất bại của Phan Xích Long với những màu sắc tôn giáo, thậm chí còn nặng về mê tín bùa phép. “Nhưng danh thơm còn mãi trong trí óc những người yêu nước”. Chúng ta hoàn toàn đồng ý với nhận định này của học giả Vương Hồng Sển.

Hiện nay, tại TP. Hồ Chí Minh có con đường được vinh dự mang tên Phan Xích Long.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.  

Chấm điểm
Chia sẻ
Phan Xích Long

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)