Đời truyền vào thời Lý Nhân Tông (1072 – 1128) (tức đời vua Khâm Tông nhà Tống), có ông họ Vũ, húy là Phục tự là Phúc Thiện, vốn người Phong Châu (nay là xã Thụ Ích huyện Bạch Hạc-NC). Ban đầu gia đình ông ở nhờ xã Minh Táo huyện Từ Liêm, sau nhân lấy con gái họ là Đỗ Quý ở ngõ Trang Tháp, hương ta, nên chuyển về ở đây, làm nghề bán dầu.
Bấy giờ vua Lý bị đau mắt, thuốc thang chữa trị đến mấy cũng không khỏi. Nghe nói ở chùa Vân Mộng (thuộc xứ Sơn Nam-NC) huyện Kim Bảng có Quỷ Cốc tiên sinh, tỉnh thông dịch số bèn cho người đến xem một quẻ. Thầy bói nói:
Quẻ này có ẩn khí tượng thiên tử. Bệ hạ khi dựng phủ, định đô, bị thủy xạ phương Càn Tuất yểm làm cho thương tổn. Người đức sáng có thể trấn trị được, không phải lo nghĩ.
Bấy giờ có hai nhánh sông là Thiên Phù và Tô Lịch hợp làm một chảy phạm vào góc thành Thăng Long. Đã nhiều lần tính toán lấp sông, nhưng cứ lấp lại bị dòng nước phá. Vua than rằng:
Sức người đã hết, không biết làm thế nào.
Bèn lập đàn trai giới cầu đảo trăm thần, cầu khấn xin lấp con sông ấy. Lại sai viên Trung sứ đến ngã ba sông xem mộng báo, thắp hương cầu đảo, cầu khấn rằng:
Hỡi các tiên quan thổ địa, hà bá nơi đây. Nay vầng nhật sáng soi, bỗng gặp mây mù che lấp. Ngàn dặm thành vàng hội tụ thành gò đống, nay xem quẻ để đặt đỉnh vạc, xây Long thành nhưng gặp dòng nước chảy theo hướng Càn Tuất. Trước đã [cho lấp], nhưng sức người thật khó khăn, xin được các thần trợ giúp, gấp nổi đường cát để át dòng chảy, khiến cho thánh thể được yên, mãi giữ thành vững. Thần sông có thiêng, xin hiển linh hiện báo.
Chẳng ngờ lòng thành cảm phục, thấu hiểu nỗi niềm, đêm hôm đó quả nhiên nằm mơ thấy thần nhân, dáng vẻ khác thường, áo xe khác lạ từ trên trời bay xuống, đến thẳng trước mặt. Sứ giả cúi đầu hỏi nguyên nhân vì sao không lấp được sông.
Thần nhân nói:
Nói với chúa ngươi, muốn lấp sông này, thì vào ngày này, lúc sáng sớm, nếu có ai đi đến bên sông thì ban cho họ những thứ họ thích rồi ném xuống dòng sông, rồi phong làm thần, lập miếu thờ phụng. Nếu làm như thế sông này mới có thể lấp được.
Nói xong, không nhìn thấy đâu nữa. Sứ giật mình tỉnh dậy, lòng còn ghi nhớ đinh ninh những điều thần dặn. Đợi đến sáng, sứ gấp hồi kinh tâu lên vua, thưa rõ về giấc mộng. Vua lấy làm lạ, song muốn xem có nghiệm hay không. Đến ngày hẹn vua lại sai sứ đi đến nghỉ chờ ở đó.
Bấy giờ sương sớm chưa tan, mây mù giăng khắp, quả nhiên thấy vợ chồng ông họ Vũ (tên húy là Phục) từ làng Tảo khập khễnh đi tới (âm “bàn san”, chỉ dáng đi không thẳng, khập khiễng-NC), bèn ngăn trở giữ lại không cho đi. Ông họ Vũ ngạc nhiên nói:
Vợ chồng lão phu sớm đi tối về, chỉ biết bán dầu để sống. Nay quan nhân vô cớ ngăn đường giữ lại, không biết là phúc hay họa đây.
Sứ giả vội nói:
Không dám.
Lập tức cho dịch trạm về kinh tâu lên vua. Tâu rằng:
Thần phụng mệnh đến đó. Lúc sáng sớm chỉ thấy có hai vợ chồng ông bà già gánh dầu đến bến sông trước tiên. Thần đã giữ họ lại ở đó. Xin bệ hạ cho biết nên đối xử với họ thế nào.
Vua trầm ngâm hồi lâu nói rằng:
– Nên theo lời thần mộng báo mà kể lại tình thực cho ông bà hiểu.
Sứ giả quay trở lại an ủi ông bà rằng:
– Con người từ xưa có ai không phải chết. Nhưng nếu chết mà để danh tiếng cho đời sau thế cũng chẳng đủ sao. Xưa Vũ Vương có bệnh, Chu Công lập đàn xin được chết thay. Cái chết đó, lòng trung đó lẫm liệt hơn cả sương giá mùa thu, sáng chói hơn cả vầng mặt trời.
Người đời sau ca tụng cho đến tận ngày nay. Khanh chớ luyến tiếc cuộc sống nghèo khổ này, nên gắng làm theo, sau mất đi trở thành phúc thần, âm phù cho thánh cung, ngầm giúp cho vận nước, khiến cho lòng trung nghĩa chẳng phai, muôn đời công danh còn mãi, uy linh như khoán đồng hiển hách. Một phương thành lũy vững như kim thang, còn dằng dặc mãi với trời đất. Thế chẳng đáng sao.
Ông Vũ bỗng nhiên đổi nét mặt nói:
Chết thật đáng ghét, nhưng tên tuổi cũng thật khó mua. Huống hồ con người ta sống ở trên đời không thể lưng dắt vàng, chân đi trên ngọc. Nếu có thể để lại tên tuổi cho muôn đời, sao phải cúi đầu trước đời ô trục mà không theo gương ông Bành mất đi. Xin hãy tạm cho vợ chồng lão trở về nhà, cùng chia tay với người em trai và sắp xếp chuyện nhà cửa, sau đó sẽ đến theo mệnh vua.
Sứ nói:
Không thể được. Tôi chỉ là người làm theo lệnh chúa. Theo lời thần dạy trong mộng thì hôm nay là ngày thọ hết của ông.
Nhân đó hỏi thăm ông bà thích những gì. Ông nói:
Ngày xuân ấm áp được xem ca xướng, ăn cỗ chay cùng gà béo với cơm nếp, thì đó là những thứ chúng tôi thích nhất.
Sứ bèn mổ gà, thổi cơm, lệnh cho họ ăn no. Ăn xong ông bà ngửa lên trời nói:
Vợ chồng chúng tôi quên thân vì nước mà chết. Trời xanh có biết xin hãy chứng giám.
Nói xong ông bà nhảy xuống nước. Bấy giờ là ngày trọng đông (30 tháng 11).
Người em trai ở nhà, hay tin kinh hoàng thảm thiết, muốn nhanh đi tới chỗ đó, nhưng bước không nổi. Đi đến xứ Ao Cá, xa trông thấy chỗ anh trai chị dâu hóa, dây thừng vây tứ phía, quan quân canh giữ nghiêm mật, cấm người lại qua, trong lòng nghẹn ngào uất hận bèn lao đầu vào thân cây nhãn to mà chết. Lúc đó là ngày mồng 6 tháng Chạp. Nay sắc phong cho là Chiêu Điều Đại vương.
Từ đó lấp được con sông, bệnh của vua cũng khỏi. Nhân đó bèn lập miếu thờ ở đó, lại ban sắc phong cho làm Phúc thần, cho dùng con cháu.
Họ hàng thân thuộc [3b] bèn dỡ nhà, dời vào ở phường Tích Ma (nay là Yên Thái-NC) để trông coi lăng tẩm. Đến nay họ Vũ trong phường đều là con cháu của Phúc thần. Đền của thần ở huyện Quảng Đức (nay đổi là huyện Vĩnh Thuận), gần với góc thành Thăng Long (năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất – năm 1127, xây dựng cung miếu (thuộc năm Tĩnh Khang thứ 2 vua Tống Khâm Tông-NC). Hai phường Tảo Lệ (Yên Thái)1 và Bái Ân cùng phụng thờ.
Đến năm Gia Long thứ 17 (1818) đã trải qua 952 năm nhưng hương hỏa không bao giờ dứt. Thần tỏ rõ linh ứng, công lao mở mang, đức thêm thịnh vượng, điều hay mãi được tôn sùng, làm cho muôn vật tốt tươi, nghi lễ thêm tốt đẹp, cùng hưởng dài lâu với nước. Nay vẫn còn nền cũ ở ngõ Hương Du xã Minh Tảo.
Lại nói em gái Phúc thần họ Vũ tuổi còn trẻ, dáng vẻ xinh đẹp, không muốn lấy chồng, thích du chơi trong thiên hạ. Đến lộ Hải Dương thì mất. Đó là ngày 15 tháng 7, hiển thánh ở xã Phú Đăng huyện Đường An. Xã ấy lập làm bản thổ phúc thần. Nay tức là vị Đệ tam nương quảng [4a] hàn cung Tiên Dung ngọc nữ, sắc không khuyết quản bộ chúng, hiệu là Vũ Thị Quế Hoa, được vinh phong là Hương kỳ diệu đức công chúa (xét, có sách ghi một cửa hai đại vương, một công chúa). Ức vạn năm hương hỏa bốn mùa, từ cổ tới nay chưa khi nào có như vậy.
Chú thích:
- Nguyên văn ghi: “Tảo Lệ, Yên Thái, Bái Ân”. Yên Thái ghi ở đây có lẽ là để chú thích Tảo Lệ thuộc Yên Thái.
Nguồn: Thần tích phường Yên Thái, ký hiệu AE.a2/14, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.