Thị Ngự sử Triệu Thái (? – ?)

Thị Ngự sử Triệu Thái (? – ?)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Thị Ngự sử Triệu Thái là người Hoàng Chung, huyện Lập Thạch (nay là xã Tiên Lữ, tỉnh Phú Thọ). Ông xuất thân từ một gia đình nông dân, được theo học trường Nho dưới thời thuộc Minh. Ông từng được đỗ đầu trong hai cuộc thi ở Trung Hoa (triều vua Minh Thành Tổ) và ở Đại Việt (triều vua Lê Thái Tổ) nên được dân chúng tôn là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Tuy vậy, trong cuộc thi Minh Kinh (1429) mà ông tham dự không lấy đỗ Trạng nguyên nên thực tế danh xưng Lưỡng quốc Trạng nguyên chỉ là suy tôn của dân gian.

Đến nay, chưa có tài liệu ghi chép cụ thể năm sinh của ông, chỉ biết rằng ông sinh ra và lớn lên vào cuối thời Trần – Hồ, làm quan dưới ba triều vua thời Lê Sơ là Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông và Lê Nhân Tông. Ông mất ngày 27/2 Âm lịch, không rõ năm nào.

Gia đình

Cháu nội của Thị Ngự sử Triệu Thái là Triệu Nghị Phù (Triệu Tuyên Phù) thi đỗ Trạng Nguyên trong cuộc thi năm Bính Thìn (1496) dưới triều vua Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, vì phạm lỗi nên ông bị truất xuống Đệ nhị giáp Tiến sĩ.

Trong ngày các tân khoa vào lạy tạ Hoàng đế Lê Thánh Tông, nhà vua hỏi ông về tên xã nơi ông sinh quán, Triệu Nghị Phù liền đáp ngay:

– Tôi là người ở Kẻ Lép!.

Kẻ Lép là tục danh (tên Nôm) của xã Đức Lạp, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đái, xứ Sơn Tây (nay là xã Tiên Lữ, tỉnh Phú Thọ), Lê Thánh Tông nghe vậy lấy làm phật lòng, nhà vua không muốn có vị Trạng nguyên ứng xử tục tằn trong triều đình. Ngay sau đó, Triệu Nghị Phù bị truất xuống hàng thứ 5 ở hàng đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, tức là tụt xuống 7 bậc học vị. Dù vậy, lý do thực sự khiến vị Trạng nguyên này bị hạ bậc có phải bởi câu trả lời “Kẻ Lép” hay không thì mãi mãi là một bí ẩn của lịch sử.

Hành trạng

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông nhưng từ thuở nhỏ, cậu bé Triệu Thái đã nuôi ý chí tiến thân bằng con đường khoa cử. Dù vậy, ông lớn lên vào thời thuộc Minh, nước ta thuở ấy chỉ là một quận thuộc sự thống trị của triều đình Vĩnh Lạc (1403-1424). Vì vậy, theo thể chế, quận không thể tổ chức hai kì thi đại khoa tuyển chọn tiến sĩ là thi Hội và thi Đình mà chỉ có quyền tổ chức kì thi Hương, tuyển chọn cử nhân và sinh đồ. Bởi vậy, ông Triệu Thái lặn lội sang tận kinh đô Trung Quốc, lúc đó là Yên Kinh để ứng thi. Ông đã thi đỗ tiến sĩ dưới triều vua Vĩnh Lạc, rồi nhận chức quan học sĩ Viện Hàn lâm trong triều đình Trung Quốc. Có thông tin cho rằng năm 1428, khi nước nhà đã giành độc lập, ông xin phép nhà vua về quê với lí do về thăm cha mẹ, rồi ở lại quê nhà mà không quay lại nữa. Tuy vậy, theo ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí được biết rằng: “Triệu Thái người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch đời Vĩnh Lạc nhà Minh đỗ tiến sỹ làm hàn lâm viện học sỹ. Biết tin ở nước nhà Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa cáo quan về nước.”[1] Dù có chút nhầm lẫn về quê quán (không phải xã Sơn Đông mà là xã Hoàng Chung), nhưng thông tin này lại vô cùng quý giá, cho biết ông đã về nước ngay từ khi nghe tin vua Lê Lợi khởi nghĩa chứ không phải khi đất nước đã độc lập và rất có thể đã có những đóng góp cho cuộc khởi nghĩa này. Mặc dù, trong tình thế chiến sự đang nước sôi lửa bỏng việc trở về quê hương tham gia khởi nghĩa không hề đơn giản nhưng cũng không thể khẳng định rằng không có khả năng đó. Tuy vậy, hiện tại chúng tôi chưa tìm được ghi chép nào về sự tham gia của ông trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Ngày 25 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ tổ chức khoa thi Minh Kinh, để tuyển dụng người tài giỏi “Hiền, Lương, Phương, Chính” (tài giỏi, lương thiện, đức hạnh, ngay thẳng) bổ sung vào hàng ngũ quan lại trong triều đình sau cuộc chiến giành độc lập. Chép về cuộc thi này, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục cho biết: “Trước kia, sắc sai các quan văn võ trong kinh đô và ngoài các lộ từ tứ phẩm trở xuống, văn thì thông kinh sử, võ thì thông Vũ kinh: đến tháng 5, năm sau, tất cả đều họp tập đông đủ ở Đông Kinh để dự kỳ khảo thí theo môn học của mình. Đến đây, nhà vua mở khoa Minh Kinh, lại sắc sai quân nhân các lộ và những người ẩn dật ở rừng núi hễ có ai thông kinh sử và giỏi văn nghệ thì đều đến đô sảnh đường, chờ đợi quan trên cùng sát hạch một thể.”[2] Triệu Thái dự thi với tư cách là người ẩn sĩ và đỗ đầu. Tuy nhiên, cuộc thi này chưa lấy Trạng Nguyên. Dù vậy, ông vẫn được dân gian suy tôn là Lưỡng quốc Trạng Nguyên (của Trung Hoa và Đại Việt).

Sau khi đỗ, ông nhận chức quan Thị Ngự sử (đến thời vua Lê Thánh Tông đổi sang gọi là Đô Ngự sử) và đảm nhiệm chức vụ này trong suốt 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông. Ông tham gia việc định ra một số quy định về pháp luật của thời Lê, làm tiền đề cho bộ Luật Hồng Đức sau này. Có thể nói rằng, những đạo luật ban hành năm Canh Tuất (1430) và chương về tiền sản gồm 14 điều bổ sung năm Kỷ Tỵ thời Thái Hoà (1449) đều có đóng góp của ông.

Vào năm thứ 3 niên hiệu Đại Bảo (1442), ông phụng mệnh vua đi sứ nhà Minh. Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ, quyển XI chép rằng: “Mùa Đông, tháng 10, sai sứ sang nhà Minh: Hải Tây đạo đồng tri Nguyễn Thúc Huệ và Thẩm hình viện thiêm tri Đỗ Thì Việp sang tạ ơn cho áo mũ. Thị Ngự sử Triệu Thái tâu việc địa phương Khâm Châu. Bọn Tham tri Nguyễn Đình Lịch, Phạm Du sang báo tang. Tham tri Lê Truyền, Đô sự Nguyễn Văn Kiệt, Ngự tiền học sinh cục trưởng Nguyễn Hữu Phu sang cầu phong.”[3] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính Biên, quyển XVII cũng ghi về sự kiện này rằng: “Bây giờ, Triệu Nhân Chính, Tri châu Long Châu, ủy thác cho bọn đầu mục là Lữ Thông quản lĩnh hơn nghìn quân, vượt qua biên giới, xâm lấn châu Hạ Tư Lang, cướp bóc lung tung người và súc vật. Bầy tôi trấn thủ Thái Nguyên tâu việc này lên triều đình. Các đại thần xin sai Thị ngự sử Triệu Thái sang nhà Minh tâu bày về việc này.”[4] Tác giả sách còn chú thêm rằng Triệu Thái là người Hoàng Chung thuộc Lập Thạch.

Cũng trong năm 1442, ông còn được cử làm giám thí khoa thi Hội. Đây là khoa thi lấy đỗ Trạng nguyên đầu tiên của triều Lê sơ. Lịch triều hiến chương loại chí chép về sự kiện này rằng: “Năm Đại Bảo thứ 3 (1442), tháng 3, thi Hội, thi Đình lấy tam khôi cập đệ, loại soạn văn dựng bia đề tên các tiến sĩ. Bia tiến sĩ bắt đầu có từ đấy.”[5] Trong văn bia Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh kí 大寶三年壬戍科進士題名記 (KH: 01358) dựng năm Hồng Đức thứ 15 (1484) ngoài chép họ tên, quê quán của 33 vị đỗ Tiến sĩ Khoa này, hạng Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ lấy đỗ 3 người (Trạng nguyên Nguyễn Trực, Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ, Thám hoa Lương Như Hộc) còn cho biết đầy đủ thông tin về việc tổ chức cuộc thi năm ấy, trong đó có đề cập rằng: “…Lúc ấy Đề điệu[6] là Thượng thư tả bộc xạ Lê Văn Linh, Giám thí là Ngự sử đài Thị ngự sử Triệu Thái.”

Khi về già, nhận thấy trong triều đình nhiều rối ren, nhiều công thần khai quốc như Ức Trai Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Sát,… bị hại, ông cáo lão từ quan về quê nhà Hoàng Chung. Trong thời kỳ này ông có công lao lớn với dân làng là quy hoạch làng Hoàng Chung với một con đường ở bìa làng, nối liền 2 làng cổ là Đại Lữ và Tiên Lữ giữa cánh đồng chiêm trũng, các ngõ rẽ đều vuông góc với đường trục, có khoảng cách hai nhà giáp lưng vào nhau, tạo thành ngõ xương cá, rất tiện cho sinh hoạt và trị an. Giáp đường về mặt phía Tây Nam, chia thành từng ô lấy đất đắp nền làng, trồng tre chắn gió, rào làng. Các ô đất trũng trở thành ao, dân làng chuyên cấy rau cần về mùa đông, cũng là một nguồn thu lợi về kinh tế.

Từ trần

Sau khi Thị Ngự sử Triệu Thái mất được ban tên thuỵ là Cự Tuấn, được dân xã Hoàng Chung suy tôn, phối thờ ở đình làng cùng với 3 vị thành hoàng Đông Nha Tam Vị Đại Vương và được triều đình phong “Thần”. Tên ông có trong ba đạo sắc phong, trong đó có sắc phong niên hiệu Đồng Khánh (1887) cho biết: “Sắc phong 3 vị thần tuấn lương đống nha và vị thần là tướng công họ Triệu tự là Thái, thụy là Cự Tuấn. Từ trước tới nay các vị thần đã hiển linh giúp nước, giúp dân nay đến tiết trẫm ban cấp sắc để lưu truyền sự thờ cúng…”

Bên cạnh đó, gia tộc họ Triệu còn cho dựng đền thờ Triệu Thái để thờ phụng riêng và là nơi tổ chức lễ giỗ vào ngày 27/2 âm lịch hàng năm.

Hiện nay, tên của ông được lưu danh tại Văn miếu Vĩnh Phúc và được đặt cho một tên ngôi trường Trung học phổ thông ở xã Lập Thạch, một con đường ở phường Vĩnh Yên, tỉnh Phú Thọ.

Chú thích

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb Thuận Hoá, 2006, tr. 284.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, 1998, tr. 403.

[3] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội Các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, 1993, tr. 405.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr. 440.

[5] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 14.

[6] Đề điệu: Viên quan đứng đầu chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của trường thi.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo dục.
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,…(1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội Các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb Thuận Hoá.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  5. Thác bản văn bia 大寶三年壬戍科進士題名記 Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh kí, ký hiệu 01358.
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Thi ngự sử triệu thái

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)