Đền Triệu Thái (Tiên Lữ, Phú Thọ)

Đền Triệu Thái (Tiên Lữ, Phú Thọ)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Triệu Thái vốn thuộc địa phận xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Cứ theo Nghị quyết số 1676/NQ – UBTVQH15, ban hành ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Đồng Ích cùng 3 xã Xuân Lôi, Văn Quán và Tiên Lữ của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc được sáp nhập thành xã Tiên Lữ. Từ ngày 1/7/2025, theo chủ trương sáp nhập tỉnh/xã và bỏ quản lý cấp huyện, Vĩnh Phúc sáp nhập về Phú Thọ nên xã Tiên Lữ thuộc địa phận tỉnh Phú Thọ.

Lịch sử và nhân vật

Theo gia phả Triệu tộc, đền là nơi thờ Lưỡng quốc Trạng nguyên Triệu Thái được xây dựng từ lúc ông còn tại thế. Ông từng làm tới chức quan Thị Ngự sử dưới thời Lê sơ.

Thị ngự sử Triệu Thái là người xã Hoàng Chung, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Ông xuất thân từ một gia đình nông dân, được theo học trường Nho dưới thời thuộc Minh. Nhưng nước ta thuở ấy chỉ là quận Giao Chỉ thuộc sự thống trị của triều đình Vĩnh Lạc (1403-1424), nên về thể chế không thể tổ chức được hai kỳ thi đại khoa tuyển chọn tiến sĩ là thi Hội và thi Đình mà chỉ có quyền tổ chức kỳ thi Hương, tuyển chọn cử nhân và sinh đồ. Bởi vậy, ông lặn lội sang tận kinh đô Trung Quốc, lúc đó là Yên Kinh để ứng thi. Ông đã thi đỗ tiến sĩ dưới triều vua Vĩnh Lạc, rồi nhận chức quan học sĩ Viện Hàn lâm trong triều đình Trung Quốc. Có thông tin cho rằng năm 1428, khi nước nhà đã giành độc lập, ông xin phép nhà vua về quê với lý do về thăm cha mẹ, rồi ở lại quê nhà. Tuy vậy, theo ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí được biết rằng: “Triệu Thái người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch đời Vĩnh Lạc nhà Minh đỗ tiến sỹ làm hàn lâm viện học sỹ. Biết tin ở nước nhà Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa cáo quan về nước.”[1] Dù có chút nhầm lẫn về quê quán (không phải xã Sơn Đông mà là xã Hoàng Chung), nhưng thông tin này lại vô cùng quý giá, cho biết ông đã về nước ngay từ khi nghe tin vua Lê Lợi (Lê Thái Tổ) khởi nghĩa chứ không phải khi đất nước đã độc lập và rất có thể đã có những đóng góp cho cuộc khởi nghĩa này. Mặc dù, trong tình thế chiến sự đang nước sôi lửa bỏng việc trở về quê hương tham gia khởi nghĩa không hề đơn giản nhưng cũng không thể khẳng định rằng không có khả năng đó. Tuy vậy, hiện tại chúng tôi chưa tìm được ghi chép nào về sự tham gia của ông trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Ngày 25 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ tổ chức khoa thi Minh Kinh, để tuyển dụng người tài giỏi “Hiền, Lương, Phương, Chính” (tài giỏi, lương thiện, đức hạnh, ngay thẳng) bổ sung vào hàng ngũ quan lại trong triều đình sau chiến tranh giành độc lập. Chép về cuộc thi này, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục cho biết: “Trước kia, sắc sai các quan văn võ trong kinh đô và ngoài các lộ từ tứ phẩm trở xuống, văn thì thông kinh sử, võ thì thông Vũ kinh: đến tháng 5, năm sau, tất cả đều họp tập đông đủ ở Đông Kinh để dự kỳ khảo thí theo môn học của mình. Đến đây, nhà vua mở khoa minh kinh, lại sắc sai quân nhân các lộ và những người ẩn dật ở rừng núi hễ có ai thông kinh sử và giỏi văn nghệ thì đều đến đô sảnh đường, chờ đợi quan trên cùng sát hạch một thể.”[2] Triệu Thái dự thi với tư cách là người ẩn sĩ và đỗ đầu. Tuy nhiên, cuộc thi này chưa lấy Trạng Nguyên. Dù vậy, ông vẫn được dân gian suy tôn là Lưỡng quốc Trạng Nguyên (của Trung Hoa và Đại Việt).

Sau khi đỗ, ông nhận chức quan Thị Ngự sử (đến thời Lê Thánh Tông đổi sang gọi Đô Ngự sử) và đảm nhiệm chức vụ này trong suốt 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông. Ông được tham gia việc định ra một số quy định về pháp luật của thời Lê, làm tiền đề cho bộ Luật Hồng Đức sau này. Có thể nói rằng, những đạo luật ban hành năm Canh Tuất (1430) và chương về tiền sản gồm 14 điều bổ sung năm Kỷ Tỵ thời Thái Hoà (1449) đều có đóng góp của ông.

Vào năm thứ 3 niên hiệu Đại Bảo (1442), ông phụng mệnh vua đi sứ nhà Minh. Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ, quyển XI chép rằng: “Mùa Đông, tháng 10, sai sứ sang nhà Minh: Hải Tây đạo đồng tri Nguyễn Thúc Huệ và Thẩm hình viện thiêm tri Đỗ Thì Việp sang tạ ơn cho áo mũ. Thị ngự sử Triệu Thái tâu việc địa phương Khâm Châu. Bọn Tham tri Nguyễn Đình Lịch, Phạm Du sang báo tang. Tham tri Lê Truyền, Đô sự Nguyễn Văn Kiệt, Ngự tiền học sinh cục trưởng Nguyễn Hữu Phu sang cầu phong.”[3] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính Biên, quyển XVII cũng ghi về sự kiện này rằng: “Bây giờ, Triệu Nhân Chính, tri châu Long Châu, ủy thác cho bọn đầu mục là Lữ Thông quản lĩnh hơn nghìn quân, vượt qua biên giới, xâm lấn châu Hạ Tư Lang, cướp bóc lung tung người và súc vật. Bầy tôi trấn thủ Thái Nguyên tâu việc này lên triều đình. Các đại thần xin sai Thị ngự sử Triệu Thái sang nhà Minh tâu bày về việc này.”[4] Tác giả sách còn chú thêm rằng Triệu Thái là người Hoàng Chung thuộc Lập Thạch.

Cũng trong năm 1442, ông còn được cử làm giám thí khoa thi Hội. Đây là khoa thi lấy đỗ Trạng nguyên đầu tiên của triều Lê sơ. Lịch triều hiến chương loại chí chép về sự kiện này rằng: “Năm Đại Bảo thứ 3 (1442), tháng 3, thi Hội, thi Đình lấy tam khôi cập đệ, loại soạn văn dựng bia đề tên các tiến sĩ. Bia tiến sĩ bắt đầu có từ đấy.”[5] Trong văn bia Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh kí 大寶三年壬戍科進士題名記 (KH: 01358) dựng năm Hồng Đức thứ 15 (1484) ngoài chép họ tên, quê quán của 33 vị đỗ Tiến sĩ Khoa này, hạng Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ lấy đỗ 3 người (Trạng nguyên Nguyễn Trực, Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ, Thám hoa Lương Như Hộc) còn cho biết đầy đủ thông tin về việc tổ chức cuộc thi năm ấy, trong đó có đề cập rằng: “…Lúc ấy Đề điệu[6] là Thượng thư tả bộc xạ Lê Văn Linh, Giám thí là Ngự sử đài Thị ngự sử Triệu Thái”

Khi về già, nhận thấy trong triều đình nhiều rối ren, nhiều công thần khai quốc như Ức Trai Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Sát,… bị hại, ông cáo lão từ quan về quê nhà Hoàng Chung. Trong thời kỳ này ông có công lao lớn với dân làng là quy hoạch làng Hoàng Chung với một con đường ở bìa làng, nối liền 2 làng cổ là Đại Lữ và Tiên Lữ giữa cánh đồng chiêm trũng, các ngõ rẽ đều vuông góc với đường trục, có khoảng cách hai nhà giáp lưng vào nhau, tạo thành ngõ xương cá, rất tiện cho sinh hoạt và trị an. Giáp đường về mặt phía Tây Nam, chia thành từng ô lấy đất đắp nền làng, trồng tre chắn gió, rào làng. Các ô đất trũng trở thành ao, dân làng chuyên cấy rau cần về mùa đông, cũng là một nguồn thu lợi về kinh tế.

Sau khi ông mất được ban tên thuỵ là Cự Tuấn, được dân xã Hoàng Chung suy tôn, phối thờ ở đình làng cùng với 3 vị thành hoàng Đông Nha Tam Vị Đại Vương và được triều đình phong “Thần”. Tên ông có trong ba đạo sắc phong, trong đó có sắc phong niên hiệu Đồng Khánh (1887) cho biết: “Sắc phong 3 vị thần tuấn lương đống nha và vị thần là tướng công họ Triệu tự là Thái, thụy là Cự Tuấn. Từ trước tới nay các vị thần đã hiển linh giúp nước, giúp dân nay đến tiết trẫm ban cấp sắc để lưu truyền sự thờ cúng…”

Bên cạnh đó, gia tộc họ Triệu còn cho dựng đền thờ Triệu Thái để thờ phụng riêng và là nơi tổ chức lễ giỗ vào ngày 27/2 âm lịch hàng năm.

Vậy, cứ vào các tư liệu ở trên, dù không biết cụ thể năm sinh, năm mất nhưng chúng ta biết rằng, ông sinh ra và lớn lên vào cuối thời Trần – Hồ và làm quan dưới thời Lê sơ.

Kiến trúc cảnh quan

Trước đây, đền Triệu Thái vốn khiêm tốn lại được xây cất trên nền đất trũng nên nhìn nhỏ hẹp. Nay khu đất được tôn cao, đền thờ được xây dựng tôn tạo và bảo tồn theo hướng bền chắc, an toàn để phát huy giá trị di tích. Đền được dựng với kiến trúc bằng gỗ, có diện tích khoảng 500m2. Trong 30 năm qua, Nhà nước đã đầu tư gần 1 tỷ đồng để xây dựng, trùng tu và bảo tồn công trình.

Khuôn viên đền thông thoáng xanh sạch đẹp, tường trát bao loan, bảo vệ cảnh quan chung, đáp ứng nhu cầu tâm linh của dân làng. Nội thất đèn lộng lẫy nhưng vẫn giữ được nét cổ kính trang nghiêm nơi thờ tự. Có đủ bàn ghế cho hội họp và đón tiếp khách.

Hội đồng gia tộc họ Triệu luôn giữ nếp phân công lần lượt mỗi chi cành trực trông coi đền 1 năm đảm bảo tất cả các hoạt động diễn ra suôn sẻ. Các chi cành được phân công luôn đảm bảo công tác vệ sinh, gìn giữ và kịp thời phát hiện những tác động của môi trường, mối mọt xâm hại đến di tích. Bên cạnh đó, trong hơn 30 năm qua, Hội đồng gia tộc còn tích cực tuyên truyền vận động các thế hệ hậu duệ trong dòng họ cùng bà con nhân dân đóng góp công đức trên 2 tỷ đồng cho việc tu bổ, tôn tạo nâng cấp cảnh quan khuôn viên khu di tích và khu lăng tẩm của ông. Cụ thể, gia đình ông bà trưởng họ Lâm Đây đã công đức 117m2 đất, gia đình ông bà Hoàng Văn Khánh đã công đức 9m2 đất cho đền. Các gia đình trong dòng họ và các thế hệ hậu duệ đã đóng góp, công đức tiền cho quỹ xây dựng tu sửa nâng cấp khu khuôn viên di tích, khu lăng mộ.

Di vật

Theo tộc phả họ Triệu bằng chữ Nho được trưởng tộc Triệu Lễ chép lại còn lưu lại cho biết đền Triệu Thái còn lưu giữ những bức hoành phi, câu đối giá trị và mang nhiều ý nghĩa. Trong đó, có hai hoành phi đề: “Lưỡng quốc tiến sĩ” và “Định quốc điều luật” góp phần khẳng định vị thế, đóng góp của ông trong lịch sử.

Về câu đối có 2 câu:

Hốt văn yên thượng mã lai, Việt trí báo văn khôi vị Bắc/ Hỷ kiến Lam trung long khởi chứ, thân hổ trân biểu giang Nam

Tạm dịch: Từng nghe trên yên người vì, vui đất Việt đỗ đầu đất Bắc/ Mừng thấy rồng trời Lam dậy, vào trận bút rạng rỡ sông Nam.

Lưỡng quốc Hạnh lâm trung hòa hiếu/ Cổ kim lưu phương hậu duệ tòng.

Tạm dịch: Đỗ tiến sỹ hai triều đức hạnh hội đủ trung hòa hiếu/ Danh thơm thông cổ kim con cháu muôn đời noi theo.

Bên cạnh đó, trong Hậu Cung thờ ngài, còn có bản thác bản văn bia 大寶三年壬戍科進士題名記 Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh kí (KH: 01358) dựng năm Hồng Đức thứ 15 (1484) ghi lại đóng góp của ông trong đợt thi năm 1442.

Xếp hạng

Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 259-VH/QĐ ngày 12 tháng 02 năm 1994.

Chú thích

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb Thuận Hoá, 2006,  tr. 284.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, 1998, tr. 403.

[3] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội Các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, 1993, tr. 405.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr. 440.

[5] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 14.

[6] Đề điệu: Viên quan đứng đầu chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của trường thi.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo dục.
  2. Đền Triệu Thái”, Vinhphuctv.vn – Đài Phát thanh và truyền hình Vĩnh Phúc, ngày 17/7/2016.
  3. Thanh Hương, “Kết quả sau 30 năm đón nhận bằng Di tích cấp quốc gia đền thờ danh nhân Triệu Thái”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 582, tháng 9/2024.
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,…(1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in Nội Các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội.
  5. Khánh Linh, “Vùng đất này ở Vĩnh Phúc có làng cổ, “làng tiến sỹ”, nơi sinh ra của lưỡng quốc Trạng nguyên nào?”, danviet.vn, 7/1/2023.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb Thuận Hoá.
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  8. Thác bản văn bia 大寶三年壬戍科進士題名記 Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh kí, ký hiệu 01358.
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin
Đền Triệu Thái

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)