Thiền sư Huệ Sinh

Tiểu sử


Thiền sư Huệ Sinh (惠生, ? -1063) tên tục là Lâm Khu(林摳), Lâm Khu Vũ hay Xu Vũ là một thiền sư Việt Nam thời nhà Lý, và thuộc thế hệ thứ 13 trong thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi.

Lâm Khu lớn lên khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú. Lên ba tuổi đã thuộc nhiều lời ru, các câu ca dao và tục ngữ. Lúc bốn tuổi đã gieo vần được thơ lục bát và năm tuổi đã làm được thơ Đường luật.

Khi sáu tuổi đã có vốn chữ Nho kha khá, ông Lâm Khoáng rất mừng, nên đã dành thời gian dạy dỗ con nhiều hơn, nền nếp hơn. Ông gọi các cháu trong làng cùng đến học, Lâm Khu có thêm bạn bè, ông Lâm Khoáng trở thành ông thầy đồ (thầy giáo) đầu tiên của làng Phù Liệt.

Lâm Khu thông minh và có tố chất đặc biệt, học đâu nhớ đấy, học một biết mười. Cậu đã bắt đầu tự đọc sách của Khổng Tử và cả Lão Tử. Lâm Khu còn có tài hội họa, nên chữ viết cũng rất đẹp, đường nét không bay bướm mà nghiêm chỉnh giống ông Lâm Khoáng.

Trong sách Thiền Uyển Tập Anh đã viết: “Lâm Khu là con thứ. Ông tướng mạo khôi vĩ, biện luật lưu loát, có văn chương trời phú, chữ tốt vẽ đẹp”.

Câu chuyện cậu bé hiếu học


Một hôm cụ Dương Tam Kha từ trang trại Hồng Dương – Thường Tín đến chơi, thấy Lâm Khu say sưa đọc một cuốn sách, cụ liền hỏi:

– Cháu đang làm gì đấy?

Lâm Khu trả lời: – Dạ, cháu đang học ạ!

Cụ Dương lại hỏi: – Cháu học nhiều chữ chưa?

Lâm Khu trả lời: – Cháu học được một bồ chữ rồi ạ!

Thấy cậu bé bỡn cợt, cụ Dương cười, đến gần nói:

– Thế ông đặt một câu đối, cháu đối lại xem nhé, vế đối thế này:

“Người Nhót, cắn nhót, chua hơn nhót.”

Lâm Khu ngước nhìn lên cụ Dương đối ngay: “Kẻ Mía, nhai mía, ngọt như mía”.

Cụ Dương tán thưởng, Lâm Khu thích chí lắm. Thấy đứa trẻ mặt mũi rạng ngời, chữ nghĩa lưu loát, cụ gợi ý thêm một câu đối nữa. Nhớ đến chuyện có người kể đêm qua có hổ về rừng Phù Liệt, cụ Dương bèn ra vế đối:

Hùm về vồ vện nhà ông Tỵ.”

Lâm Khu nghĩ một chút rồi hét lên:

“Rắn đi chộp chuột bếp bà Dần.”

Đối xong, Lâm Khu chạy đi luôn, vì cậu còn phải đi kèm chữ cho các bạn trong xóm và giúp mấy chú thợ mộc tính toán cắt gỗ làm nhà.

Cụ Dương thấy ngứa ngứa ở mũi, câu đối trước thì nó nhắc đến kẻ Mía, câu sau nó đối rắn với hổ, vô tình hay cố ý? Dù sao, cụ vẫn thấy thêm yêu thằng bé tài trí thông minh, thật xứng danh thần đồng Phù Liệt.

Sau nghỉ trưa, cụ Dương đến xem mấy bức tranh và bản vẽ nhà dán trên tường, thấy ông Lâm Khoáng bước ra, cụ hỏi ngay: – Mấy bức tranh này anh vẽ hay ai vẽ?

Lâm Khoáng cung kính trả lời: – Cháu Lâm Khu vẽ đấy ạ!

Cụ Dương ngạc nhiên hỏi: – Lâm Khu vẽ? Đẹp quá nhỉ? Tôi vẫn phục tài vẽ của anh nhưng thằng bé lớn lên có thể hơn anh đấy. Cụ cười khá đắc ý.

Lâm Khoáng chen vào: – Thưa đại nhân, cháu nó có tài đo các tỷ lệ, nên vẽ chuẩn chỉ lắm. Mây bác thợ mộc trong làng đóng tủ, làm nhà thường hay mang sang nhờ cháu tính toán và vẽ hộ. Họ có, biếu thứ này thứ khác nhưng cháu không dám nhận ạ.

Cụ Dương phấn chấn đi sang phòng Lâm Khu đang học, cụ tươi cười hỏi:

– Trong các sách kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ hay kinh Dịch, kinh Nhạc thì cháu thích đọc sách nào?

Lâm Khu trả lời: – Dạ cháu thích học cả tam giáo ạ! 

Cụ Dương tròn mắt hỏi lại: – Vì sao cháu thích học cả tam giáo?

Lâm Khu điềm nhiên trả lời: – Vì biết cả tam giáo thì mới có thể giỏi một giáo ạ!

Cụ Dương mặt mày rạng rỡ như tìm được vật báu, cụ quay lại nói với Lâm Khoáng trước khi ra về:

-Về, tôi sẽ cho mấy thợ ngự điền chuyển toàn bộ kho sách ở Hồng Dương – Thường Tín lên cho cả anh và cháu.

Lâm Khoáng cảm động chắp tay tạ lễ và tiễn khách ra về.

Một hôm ông Lâm Khoáng uống trà nói chuyện với cậu Ba và ông Đồ (4), Lâm Khu đến hỏi bố:

– Cha ơi, hồn thơ là gì ạ?

Ông Lâm Khoáng mỉm cười, nhìn cậu Ba:

– Cậu nói cho cháu biết đi.

Cậu Ba hắng giọng vui vẻ trả lời:

– Giống như bát cơm có mùi thơm của gạo. Câu thơ cũng có vị ngọt, bùi, cay, đắng. Bài thơ cũng có màu xanh, đỏ, trắng, vàng. Nghĩa là bài thơ phải có hồn để người ta có thể tưởng tượng ra được, vốc lên được, cầm hái được. Hồn thơ luôn có ở quanh ta. Nói thế cũng hơi khó, cháu có hiểu không?

Lâm Khu nhảy cẫng lên.

– Thế thì cháu hiểu rồi ạ!

Cậu Ba phấn chấn khuyến khích:

– Cháu thử ứng ra một đoạn thơ có hồn xem nào?

Lập tức Lâm Khu đọc luôn:

“Hồn thơ là lũy tre xanh
Là hàng dâm bụt đâm cành nở hoa
Chum tương, lọ muối, vại cà
Ngô khoai thay bữa nuôi ta thành người’’

Thật là bất ngờ, khả năng trí tuệ và tài làm thơ của Lâm Khu xuất thần như thế. Cả ba người vỗ tay khen ngợi cậu bé. Về sau, cả làng đều thuộc lòng đoạn thơ này.

Hành trạng


Năm 19 tuổi, ông cùng với Pháp Thông đến gặp thiền sư Định Huệ ở chùa Quang Hưng (thuộc phủ Thiên Đức) xin xuất gia, và được đặt pháp danh là Huệ Sinh. Sau khi đi đến nhiều tùng lâm để học hỏi, nhà sư đến tu trên đỉnh Bồ Đề thuộc núi Trà (Trà Sơn nay thuộc Tiên Du, Bắc Ninh). Mỗi lần vào thiền định ít ra cũng 5 ngày, nên thiền sư còn được người đời còn gọi là Nhục thân Đại sĩ.

Vua Lý Thái Tông (1028-1054) nghe danh Sư, sai sứ đến mời về kinh.
Sư bảo sứ rằng:
– Ông không thấy con vật đem tế lễ sao? Khi chưa tế thì người ta cho nó ăn cỏ thơm, mặc áo gấm, đến khi dẫn vào Thái miếu thì chỉ xin một chút sống cũng không được, huống là việc gì!
Nói xong, Sư từ chối không đi.
Sau vì nhà vua cố ép bất đắc dĩ Sư phải đến cửa khuyết. Sau khi đàm đạo với Sư, vua rất kính phục, phong chức Nội Cung Phụng Tăng và sắc Trụ trì tại chùa Vạn Tuế gần thành Thăng Long.
Bấy giờ, các vương công như: Phụng Càn Vương, Uy Vũ, Hỉ Từ, Thiện Huệ Chiêu Khánh, thái tử Hiến Minh, Thượng tướng Vương Công Tại, Thái sư Lương Văn Nhậm, Thái bảo Đào Xử Trung, Tham chánh Kiều Bồng v.v… đều tới lui thưa hỏi đạo lý với Sư.

Đời Lý Thánh Tông, phong thiền sư làm Tả nhai đồ tăng thống, ngang với tước hầu.

Năm Quý Mão (1063) đời Lý Thánh Tông, thiền sư Huệ Sinh mất.

Tác phẩm


Thiền sư Huệ Sinh đã để lại các tác phẩm sau:

– Văn bia ở các chùa Thiên Trúc, Thiên Thánh, Khai Quốc, Diệu Nghiêm, Báo Đức.

– Pháp sự trai nghi.

– Đạo tràng khánh tán văn.

– Hai bài kệ.

Kệ đáp Lý Thái Tông tâm nguyên chi vấn

Pháp bản như vô pháp,

Phi hữu diệc phi không.

Nhược nhân tri thử pháp

Chúng sinh dữ Phật đồng.

Tịch tịch Lăng già nguyệt

Không không độ hài chu

Tri không, không giác hữu

Tam muội nhậm thông chu.

Dịch nghĩa:

Kệ trả lời Lý Thánh Tông hỏi về tâm nguyện

Thế giới hiện tượng vốn như không có,

Chẳng phải là có, cũng chẳng phải là không.

Nếu người ta hiểu được cái nguyên lý ấy,

Thì chúng sinh cũng đồng nhất với Phật.

Lặng lẽ như vầng trăng tên núi Lăng Già,

Hư không như con thuyền vượt biển.

Biết cái đúng không, thì cái không hóa ra cái có,

Và sẽ mặc ý đi suốt khắp cảnh giới tam muội.

Kệ Thủy Hỏa

Thủy hỏa nhật tương tham,

Do lai vị khả đàm.

Báo quân vô xứ sở,

Tam tam hưu tam tam.

Tự cổ lai tham học

Nhân nhân chỉ vị Nam.

Nhược nhân vấn tân sự,

Tân sự nguyệt sơ tam.

Dịch nghĩa:

Kệ Nước và Lửa

Nước và lửa ngày ngày thâm nhập lẫn nhau,

Nguồn gốc của chúng không thể bàn đến được.

Báo cho anh biết chúng không có xứ sở,

(Mà chỉ là) cái “nhất như” và cái “nhất như” mà thôi.

Từ xưa đến nay (người) đến học đạo,

Ai nấy đều chỉ vì một phương hướng.

Ví bằng có người hỏi cái mới,

Thì cái mới (giống như) trăng mồng ba.

Tham khảo


  • Sách “Thiền uyển tập anh”, Lê Mạnh Phát, Viện nghiên cứu Phật học, Nhà xuất bản Văn học, năm 1990
  • Sách “Thiền sư Việt Nam”, Thích Thanh Từ, DL 1999 – PL 2543
  • Tạp chí Nghiên cứu Phật học Số tháng 1/2022, Nguyễn Thượng Hiền – Nguyễn Diệu Phương
Chấm điểm
Chia sẻ
Thền sư Huệ Sinh

Nội dung chính

Hình ảnh
Địa điểm liên quan
Nội dung đang được cập nhật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926