Thân thế
Thiền sư Thiền Nham (1093 – 1163) đời thứ 13, dòng Tì-ni-đa-lưu-chi.
Sư họ Khương, tên Thông, gia thế đời đời làm Tăng quan, tinh thần quắc thước, tiếng nói trong thanh.
Hành trạng
Ngài Thiền Nham con của một Tăng Quan. Vào triều đại nhà Lý cử tăng sĩ vào hệ thống quan chức vào triều để đảm trách việc tăng sự, kiểm duyệt kinh sách…vì thời này Phật Giáo là quốc giáo nên vai trò và công việc của một tăng quan rất quan trọng.
Triều đình mở khoa thi về các kinh điển Đại thừa: Pháp Hoa, Bát-nhã, Sư đỗ Giáp khoa (thủ khoa). Sư tìm đến chùa Thành Đạo tham vấn với Thiền sư Pháp Y, qua một câu nói Sư lãnh hội, liền được ấn chứng. Nhân đó, Sư mới xuất gia.
Ban đầu Sư trụ trì chùa Thiên Phúc trong núi Tiên Du, giới hạnh tinh nghiêm, tâm đạo rộng lớn. Đói thì ăn lá cây, khát thì uống nước suối, suốt sáu năm trường như vậy. Sau, Sư trở về quê trùng tu ngôi chùa Trí Quả làng Cổ Châu, Long Biên và trụ trì nơi đây.
Khoảng niên hiệu Thiên Thuận (1128-1132), triều đình gởi chiếu vời Sư về kinh đô cầu mưa. Bởi có linh nghiệm nên vua Lý Thần Tông trọng Sư vào hàng danh Tăng và ban cho Sư thượng phục.
Sư vốn con nhà quan, nhưng sau khi ngộ đạo, Sư nói gương theo khổ hạnh của Đức Thế Tôn, Sư vào rừng sống bằng lá cây rừng, uống nước suối trong sáu năm ròng. Sư phụ đã diễn ngâm bài thơ rất hay về 6 năm tu hành của Đức Phật:
Sáu năm tìm đạo chốn rừng già
Khổ hạnh ai bằng Đức Thích Ca
Chim hót trên vai sương phủ áo
Nai kề dưới gối tuyết đơm hoa
Thử hỏi ai tìm chân lý ấy
Bên bờ sông Giác Đức Thích ca.
Viên tịch
Năm Chính Long Bảo Ứng thứ nhất (1163), khoảng giữa mùa Xuân, lúc ban ngày, Sư đốt hương từ biệt mọi người, ngồi an nhiên mà tịch, thọ 71 tuổi.
Công lao
Thầy Chúc Hiền sáng tác cúng dường Thiền sư Thiền Nam như sau:
Tinh thần quắc thước giọng thanh trong
Đổ thủ khoa thi nguyện ước tròn
Thành Đạo thiền môn tham vấn học
Pháp Y thạch trụ mở khai thông
Tinh nghiêm giới luật hoa từ nở
Thanh tịnh thân tâm đức tuệ trồng
Thiên Phúc chân tăng gương hạnh sáng
Sanh thời nhân thế ngợi khen dương..!
Ngài là vị thiền sư rất đặc cách xuất gia sau khi được ấn chứng, nhờ có tiềm ẩn làu thông kinh Pháp Hoa và kinh Bát Nhã. Khi ra đi, Sư để lại toàn thân xá lợi, và được thời nhân xem như “Phật sống”.
Tham khảo
- Sách “Thiền uyển tập anh”, Lê Mạnh Phát, Viện nghiên cứu Phật học, Nhà xuất bản Văn học, năm 1990
- Sách “Thiền sư Việt Nam”, Thích Thanh Từ, DL 1999 – PL 2543