Bản sao của Danh tướng Phạm Tu

Tổ Nguyên Uẩn

Địa điểm liên quan:

Thân thế


Tổ Nguyên Uẩn sinh năm Giáp Tý (1864) ở thôn Trí Chỉ, xã Tri Trung, hiện nay cùng huyện Phú Xuyên, gia đình công nghệ (Thợ mộc), họ Nguyễn. Thuở nhỏ tên là Nguyễn Chí Nhu, xuất gia năm Bính Tý (1876), thầy nghiệp sư là tổ An Lạc – vị tổ thứ ba tổ đình Đa Bảo (thôn Vĩnh Ninh, xã Tri Thủy, hiện nay thuộc huyện Phú Xuyên). Thầy giới sư đàn đầu là tổ sư Thích Tâm Viên (Chùa Vĩnh Nghiêm – Bắc Giang), thụ giới tỷ khiêu năm Quý Mùi (1883), thụ giới Bồ Tát năm Ất Dậu (1885), nhận chúa Viên Minh năm Canh Tý (1900), chuyển và xây lại chùa năm Nhâm Dần (1902). Khoảng năm Bính Ngọ (1906), cùng các pháp lữ Nguyễn Loan (ở chùa Cảnh Phúc), Nguyên Mỹ (ở chùa Linh Quang) thành lập Pháp hội Viên Minh Tổ viên tịch năm Giáp Dần (1914).

“Vào năm 2015, khi viết bài nghiên cứu đăng trên tạp chí tôn giáo, tôi được cụ cho tiếp cận một văn bản chữ Hán, bản chép tay nói về tăng chỉ pháp hội Viên Minh như sau: Viên sự minh lý, viên lý minh tâm, Viên tâm đạo đạt, minh đạo thành công; Viên công lập đức, minh đúc thành nhân, Viên nhân thành Phật, thành Phật độ sinh; Viện Minh như thị, mục đích đạo tràng.” Tạm dịch: Tròn việc rõ lý, tròn lý rõ tâm; tròn tâm tới đạo, rõ đạo thành công. Tròn công lập đức, sáng đức thành người; Đạo người viên mãn, thành Phật độ sinh; Viên Minh như thế, nên lập đạo tràng”.

Sự nghiệp làm chùa, khắc ván và viết kinh


Trong cuộc đời hành đạo của mình, thiền sư Nguyễn Uẩn có tài viết chữ Hán đẹp, vẽ tranh đẹp nên đã thực hiện viết bộ kinh Hoa Nghiêm 81 quyển, Pháp Hoa 28 phẩm, Thu Giới Nghi Phạm, Chư Kinh Nhật Tụng… cho tổ đình Bồ Đề in khắc, tự tay vẽ các bức tranh minh họa quang cảnh đạo tràng Đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp, viết bộ Quy Nguyên Trực Chỉ cho tổ đình Tế Xuyên khác văn in.

Thiền sư Nguyễn Uẩn đã viết phần chú thích cho bộ Phật tổ Tam Kinh luân quán thuyết. Trong khoa cúng tổ của thiền sư cho biết, thiền sư đã “Tà kinh Tháp bỏ (viết mười cuốn kinh). Thiền sư Nguyễn Uẩn đã xây dựng trùng tu 5 chúa (Ngũ tư kinh doanh) Chùa Trị Chì chùa Đa Bảo, chùa Khai Thái (Phú Xuyên), chúa Mỹ Lầm (Thường Tín), lập 7 chùa mới (thất am sáng thủy), trong đó có chùa Thạch Cầu (Nam Định), chùa Viên Minh Chùa Viên Minh trước ở bờ đê sông Hằng, năm 1903 đã dời chúa về vị trí trong đề như hiện nay Hóa thượng kể. Thấy tôi (tổ Quảng Tổn) thường nói lại Tổ Bồ Đề (Nguyễn Biểu) khi in kinh thường qua thỉnh tổ Nguyễn Văn viết chữ Tổ ngồi vắt chân chữ ngũ, giấy dó kế trên đủi, tay trái giữ giấy, tay phải cầm bút viết. Vậy mà những hàng chữ tháng đều tăm tắp được hoàn thành. 

Khi đủ số lượng, Tổ Bồ Đề lại cho người xuống lấy hoặc Tổ Nguyên Uẩn cho người mang lên để in thành những bộ kinh như Nhật Tung, Hoa Nghiêm Khi ở Răng, lần đầu tiên tôi được nhìn vài tờ giấy nháp hoặc tờ viết lỗi còn nguyên những nét chữ của tổ Nguyên Vân. Nhìn những nét chữ đẹp không khác gì chữ được in ra, quả là bút công của Tô thật thâm hầu.

Ngoài hoa tay viết chữ Tổ Nguyên Uẩn còn có khả năng sáng tạo về tranh, cụ kể. Những bức của võng trên Tam Bảo chùa Viện Minh là do tổ Nguyên Lần căn cứ vào kinh Hoa Nghiêm về thành những bức long bầu, có rèm châu ngọc rù xuống Những bức vẽ đã được đục vào gỗ, sơn thếp treo trên chùa. Đấy là dấu ấn tổ khai sáng Viên Minh, cụ kể. Tổ Nguyên vẫn còn cho về những bức họa đồ trong kinh Hoa Nghiêm, đặc biệt những bức tranh về tháp Tháp Pháp Giới nhìn rất rõ nét.

Sau này, cụ đã cho xây tháp Thập Pháp Giới đúng với bản vẽ trong kinh Trên Tam bảo chùa Viện Minh trước kia còn có những bức hoa La Hán trên tường nhìn rất sinh động. Cụ bảo Những bức vẽ này là do tổ đệ nhất trước đây uống trà tàu, trên những phong trà tàu có in hình những bức hoa La Hán Tổ liền cho vẽ lên vách Tam Bảo Khi xây chùa lên tầng 2, những bức họa này được chụp và in lại thành ảnh treo về vị trí cũ Trên Tam bảo chùa có một gian nho nhỏ thờ tượng Mẫu Các Tổ xưa cho đến đời Cụ vẫn khiêm tốn thờ Mẫu như vậy. Bên cạnh gian nhà Mẫu là gian để các bức vận in kinh với cụ, đây là niềm tự hào và là tài sản trân quý của chùa nên được Cụ trật trong, giữ gìn đầu chiến tranh loạn lạc.

Cụ rất trân trọng những dấu ấn đặc biệt của Tổ khai sáng còn lưu lại trên những nét chữ Hán, vẫn câu đối thờ trong chùa Thể Chữ Đỉnh: “trên cột đồng trụ cũ đã bị rêu phủ mờ hết chữ khi xây dựng chùa hai tầng, bộ chữ này vẫn còn nguyên ở hai cột đồng trụ. Những bộ chữ xua nhân trực tiếp vào tường gạch, khi xây lại chùa, cụ đều cho đáp lại rồi đục vào gỗ thờ đúng vào vị trí cũ. Những văn câu đối này Cụ đều thuộc làng “Kể đăng trụ trì chùa Viên Minh Cụ kế Đệ tử Tổ Nguyên Uẩn gồm ba vị Đệ tử tưởng là Quảng Truyền, kẻ đăng trụ trì môn Quảng Ta Trị Chi – nơi sinh quán của Tổ, Sa mòn Quảng Thành trụ trì chùa Bim Sa ồn kể đáng chúa Viên Minh Tổ Nguyên Uẩn về trụ trì chùa quê Trị Chỉ cũng tác tượng tôn thờ trên Tam Bảo khá giống tương pháp để thờ ở chùa Viện Minh chứng bởi chiến tranh, loan lạc, Sư phụ mất kém . Sư phụ của Cu là Tổ Quảng Tổn kể đăng từ năm 1914 đến năm 1961.

Thời gian này các hoạt động Phật sự của chúa chỉ cầm, cụ kể. Vào những năm kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) các xã xung quanh đều có bắt Pháp đóng quân, họ đồng hóa dẫn theo đạo và thỉnh thoảng đi cản quét khu vực lân cận Gò lần, chúng vào chùa cần quét, hai thầy trò phải chạy chốn ra góc bị phát hiện, bị biết. Chúng đi qua mỗi thở pháo nhẹ nhàm vườn. Mỗi thầy trò ấn nấp một góc mương Cụ phải ăn minh trong tui tâm khi chúng đi sát qua phải nằm im nếu nhúc nhích là bị phát hiện, bị bắt. Chúng đi qua mới thở phào nhẹ nhõm. 

Nguồn: Theo ghi chép của Sa môn Thích Di Sơn và lời kể của Hòa thượng Thích Phổ Tuệ 

Hình ảnh

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *