Thân thế và cơ duyên tu tập
Hòa thượng Thích Thanh Hanh (1840 – 1936) thế danh Nguyễn Thanh Đàm, là một danh sĩ xuất thân từ làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Năm lên bảy tuổi, ngài được gia đình theo cho học chữ Nho. Nhờ thiên tư thông minh cùng nền tảng giáo dục gia đình, việc học của ngài tiến bộ nhanh chóng. Dẫu vậy, cuộc sống trần tục không thể níu giữ một cái tâm hướng Phật, Ngài muốn xuất gia.
Dù song thân ngăn cản, ngài vẫn một lòng xin tìm về cuộc sống thoát tục nơi thiền gia. Cuối cùng người có lòng tâm cũng toại, song thân đã để người đi. Năm 1850, ngài làm lễ xuất gia ở chùa Hòe Nhai. Năm 1858, ngài về chùa Vĩnh Nghiêm tiếp tục học dưới sự chỉ dẫn của hòa thượng Tâm Viên. Năm 1860, ngài thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn chùa Vĩnh Nghiêm và tiếp tục ở lại chùa tu hành nghiên cứu giáo lý. Người tu học rất tinh tấn và trở thành một nhân vật rường cột của Tổ đình này.[1]
Đạo nghiệp
Năm 1870, ngài được sư phụ cử vào tỉnh Ninh Bình giảng dạy Phật pháp cho Tăng Ni tại các chùa Phượng Ban, Hoàng Kim, Phúc Tỉnh,…Ngài cùng nhiều tăng sư khác mở hai ban Tăng Ni để rộng đường giảng dạy Phật pháp. Đệ tử của ngài sau này, nhiều người thành bậc đạo hạnh thuần nhã, tín căn kiên cố.
Năm 1900, sư huynh ngài là Hòa thượng Thanh Tuyền viên tịch, ngài trở về Vĩnh Nghiêm, được sự ủng hộ và suy tôn của môn phái, ngài kế đăng ngôi vị trụ trì Vĩnh Nghiêm. Thời kỳ này, Vĩnh Nghiêm là Tổ Đình lớn nhất Bắc Giang, số lượng tăng sĩ đổ về Vĩnh Nghiêm mỗi năm mùa an cư kiết hạ lên tới hơn 200 người. Dù cho công vụ bộn bề, ngài vẫn hoằng dương Phật pháp, đào tạo bồi đắp những thế hệ kế thừa.[2]
Lá cờ đầu khởi xướng trong phong trào sao chép, san khắc kinh sách khắp các Sơn môn Phật giáo Bắc Kỳ
Tổ Vĩnh Nghiêm nghe trường Viễn Đông Bác Cổ, có kinh sách do người Pháp sưu tầm bên Nhật nên đã liên hệ và xin phép Ban Giám đốc nhà trường cho học trò của mình vào sao chép các kinh sách Phật giáo đem về chùa khắc mộc bản. Trong số đó có bộ kinh vang danh: kinh Hoa Nghiêm, Thiền tông bản hạnh,…
Dưới đây là một số kinh sách được đích thân Ngài viết lời tựa, bạt cho các bản in này:
- Nam hải kí quy Nội pháp truyện (2 bộ) in năm Bảo Đại thứ 5 (1930), người in Sa Môn Thanh Hanh chùa Vĩnh Nghiêm. Phần bạt ghi: “Ngày lành tháng 2 năm Canh Ngọ niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930) Sa Môn Thanh Hanh chùa Vĩnh Nghiêm kính bạt
- Tứ phần luật lược kí niên đại Thành Thái 13 (1901), người in: các tỳ khưu Thanh Hanh, Thanh Khiết ở chùa Vĩnh Nghiêm (bản lưu ở chùa Bổ Đà)
- Trùng san Viên Giác kinh khắc in năm Duy Tân thứ 8 (1915), người in khắc và viết tựa là Tổ Thanh Hanh (bản lưu tại chùa Bổ Đà)
- Phật thuyết quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao hội bản bản in lại Bảo Đại nguyên niên (1925). Sa môn Thanh Hanh viết lời giới thiệu (tàng bản lưu tại chùa Vĩnh Nghiêm)
- Lăng Nghiêm kinh bạch văn (1 bộ hai tập từ 1-10) năm Duy Tân thứ 8 (1913) do Thanh Hanh chùa Vĩnh Nghiêm san khắc (bản lưu tại chùa Bổ Đà)
- Đại Bảo tích kinh năm in Bảo Đại thứ 4 (1929), bài dẫn bởi Sa Môn chùa Vĩnh Nghiêm Thanh Hanh (bản lưu ở chùa Bổ Đà)
- An Tử Sơn Trần Triều thiền tông chỉ nam truyền tâm quốc ngữ hạnh in năm Bảo Đại thứ 7 (1931) Vĩnh Nghiêm hậu học Tỳ khưu Thanh Hanh trực bút viết lời dẫn (bản lưu ở Kho sách Viên nghiên cứu Hán Nôm)
- Tam tổ thực lục in năm Thành Thái 15 (1893) được Tỳ khưu Thanh Hanh kiểm duyệt, hiệu điểm và viết bài hậu dẫn[3]
- Đại thừa bản sinh tâm địa quan kinh in năm Bảo Đại thứ 10 (1935)
- Đại thừa khởi tín luận in năm Khải Định nguyên niên (1916), Vĩnh Nghiêm môn nhân Sa môn Thanh Hanh kính dẫn
- Hàn sơn vĩnh gia tập in năm Khải Định nguyên niên (1916), Sa môn Thanh Hanh chùa Vĩnh Nghiêm viết lời tựa (tàng bản lưu ở chùa Phúc Long, Phù Lãng, Quế Võ, Bắc Ninh)
- Pháp hoa đề cương năm Bảo Đại thứ 9 (1933), Hậu học ở chùa Vĩnh Nghiêm là tỉ khiêu tự Thanh Hanh san khắc (ván lưu ở chùa Bích Động)
- Phật bản hạnh tập kinh in năm Bảo Đại thứ 4 (1929), Thanh Hanh viết tựa
- Phật thừa tông yếu luận Pháp chủ Thanh Hanh cho khắc in
- Tục khắc Trừng trị Tỉ ni sự nghĩa tập yếu in năm Khải Định thứ 9 (1914), Sa môn Thanh Hanh kế đăng chùa Vĩnh Nghiêm viết bạt (tàng bản lưu tại chùa Vĩnh Nghiêm)
- Thiền tông bản hạnh do Thiền sư Chân Nguyên biên soạn, khắc ván lần đầu năm 1745. Tổ Thanh Hanh cho khắc ván lại năm Bảo Đại thứ 7 (1932).
Vào những năm 1932 đến 1936 Tổ đã tổ chức san khắc sách Yên Tử nhật trình gồm các tác phẩm: Thiền tông bản hạnh, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, Thiền tịch phú, Cư trần lạc đạo phú, Thiếu thất phú, giáo tử phú

(ảnh: Thiền tông bản hạnh 1932, bằng chữ Nôm do đích thân Tổ đứng ra in, khắc)
Nhờ sự khởi xướng này của Tổ Thanh Hanh và các đệ tử, việc in ấn kinh sách đã tạo ra một phong trào lớn ở Bắc Kỳ. Đóng góp vào kho tàng kinh sách Phật giáo nhiều thêm những bộ sách quý.
Thiền gia Pháp chủ hội Phật giáo Bắc Kỳ – “Cây đại thụ” gắn kết các sơn môn Bắc Kỳ
Thống sứ Bắc Kỳ ban hành nghị quyết ngày 6/11/1934 thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Tuy nhiên, việc thành lập hội gặp rất nhiều khó khăn do có sự chống đối mạnh mẽ của Phật giáo cổ sơn môn Bắc Kỳ, “ở Bắc Kỳ có chừng bốn trăm sơn môn; mỗi sơn môn có quy củ riêng, việc sơn môn nào thì sơn môn ấy biết, các sơn môn khác không can thiệp gì đến, dù ở sơn môn này có làm điều gì trái ngược, trừ ông sư tổ sơn môn mình, không nói gì thì không ai ngăn đoán được…”[4].
Ngày 23/12/1934 các thành viên của Hội tiến hành lễ đón Sư Tổ từ chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) về chùa Quán Sứ (Hà Nội) tham dự hội nghị bầu Ban Chứng minh Đạo sư với nhiều cao tăng trên toàn quốc. Tại đây, sự góp mặt của Hòa thượng Thanh Hanh là bậc cao tăng, thạc đức mà lòng người hội tụ, giáo hội quây quần thành một. Hội thống nhất được ấy là nhờ uy danh, đức sáng của ngài. Trong bức thư trả lời Chánh hội Trưởng, Tổ bày tỏ ngài tuổi đã cao, tâm luôn muốn sơn môn Bắc Kỳ “…bỏ hết mọi sự hiềm khích của tông nọ phái kia, một lòng sùng bái đức Phật chí tôn, ra công bảo trợ Hội Phật giáo làm được hoàn toàn mọi việc, để Phật lý ngày một xương minh, cho quần sinh được vui vẻ nương nhờ dưới bóng Bồ Đề mà thoát khỏi vòng trầm luân khổ ải…”[5]
Ngày 24/12/1934, trong Bản Quy Tắc của Ban Đạo sư, chúng tăng đã suy tôn Tổ Vĩnh Nghiêm làm Thiền gia Pháp chủ. Tổ đã có một bài đáp từ rằng khi hay tin mình được mời giữ chức vụ lớn lao ấy, Ngài lấy làm cảm động. Tổ bày tỏ nếu không nhận thì cô phụ tấm lòng của mọi người nên sẽ tạm thời đảm nhận chức vị đó cho đến khi hội tìm được người phù hợp.[6]
Năm 1935, hai chùa Linh Quang (Bà Đá) và Hồng Phúc (Hòe Nhai) không chịu hợp tác khi phát hành tạp chí Tiếng Chuông Sớm[7] (nghị định cho phép xuất bản Tiếng Chuông Sớm được ký ngày 31/1/1935). Giữa năm 1935, các Tổ đình Bà Đá, Hồng Phúc và Hòa Giai phối hợp với các chùa chi nhánh tại Hà Nội và các tỉnh để tổ chức Bắc Kỳ Phật Giáo Cổ Sơn Môn. Tiếng Chuông Sớm ra điều kiện: nếu hội Bắc Kỳ Phật Giáo sửa chữa lại Điều Lệ, bầu lên một Ban Trị Sự gồm toàn các thành phần tăng sĩ, với thiền sư Thanh Hanh làm hội trưởng, đem trụ sở về chùa Hòa Giai hay là chùa Bà Đá, thì Tiếng Chuông Sớm sẽ xin tự hiến mình làm cơ quan ngôn luận của hội.[8]
Trước tình hình như vậy, Tổ Vĩnh Nghiêm dù tuổi đã cao nhưng vẫn thường xuyên thăm viếng giữa hai chùa để hàn gắn và thuyết phục, dần dần sự bất đồng mâu thuẫn đã được buông bỏ để hướng đến mục tiêu chung chấn hưng Phật giáo
Đầu 12/1935 Tạp chí Đuốc Tuệ[9] ra mắt, Tiếng Chuông Sớm số 14, ngày 26.12.1935 mở lời chào mừng Đuốc Tuệ và đăng những bài có tinh thần hòa giải và cởi mở. Ngày 11 và 12 tháng 1 năm 1936, lễ suy tôn sư Tổ Vĩnh Nghiêm lên ngôi vị Thiền gia Pháp chủ được tổ chức tại chùa Quán Sứ. Tạp chí Tiếng Chuông Sớm cũng gửi lời chúc mừng, gửi gắm hy vọng rằng sư tổ Vĩnh Nghiêm cũng “để tâm chiếu cố đến” việc của cổ sơn môn để giữ lấy lục hòa cùng nhau hoằng pháp[10]
Hội Phật giáo Bắc Kỳ là cánh cửa mở ra phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ còn Tổ Vĩnh Nghiêm chính là chiếc chìa khóa của cánh cửa ấy. Người là biểu tượng của sự gắn kết đối với Phật giáo Bắc kỳ nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. Đóng góp, cống hiến của Người với đạo pháp Phật giáo chính là những di sản vô giá.
Viên tịch
Đến cuối cùng, thời gian chẳng thể níu giữ được bậc Tổ sư trọng vọng này ở lại “cõi tạm”, ngày 8 tháng 12 năm 1936 ngài đã an nhiên thị tịch về chốn Niết bàn. Xá lợi của người được an nhập vào khu tháp tổ chùa Vĩnh Nghiêm. Nhiều ngôi chùa khắp sơn môn và học trò của ngài cũng đã xây những tháp mộ để bái tế, tưởng nhớ ngài. Cuộc đời của ngài là một tấm gương sáng về trí đức lan tỏa khắp chốn tăng ni trên cả nước noi theo.
Chú thích
[1] TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[2] Theo TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[3] Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam
[4] Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
[5] Theo Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
[6] Theo “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24.3.1936
[7] Tạp chí Tiếng Chuông Sớm đơn vị ngôn luận của Bắc Kỳ hội Cổ Sơn Môn
[8] Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
[9] Tạp chí Đuốc Tuệ là cơ quan ngôn luận của hội Bắc Kỳ Phật Giáo
[10] Theo “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
Tài liệu tham khảo
- Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
- Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
- Nguyễn Đại Đồng, Phong trào chấn hưng Phật giáo, nxb Tôn giáo
- Ninh Thị Sinh, Lễ suy tôn Tổ sư Vĩnh Nghiêm lên ngôi vị Thiền gia Pháp chủ hội Phật giáo Bắc Kỳ, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 1, 2016
- Ninh Thị Sinh, Phong trào chấn hưng Phật giáo giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: những di sản để lại, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 11 2021
- “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
- “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24/3/1936
- Tập Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
- Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam
__________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Background and Vocation for Monastic Life
Most Venerable Thich Thanh Hanh (1840–1936), secular name Nguyen Thanh Dam, was a distinguished scholar from Thanh Liet village, Thanh Tri district, Ha Dong province (today part of Hanoi). At the age of seven, his family sent him to study the Confucian classics. Thanks to native intelligence and a strong family education, his studies advanced rapidly. Even so, worldly life could not hold a heart inclined toward the Buddha—he wished to leave home and become a monk.
Although his parents opposed it, he remained firm in seeking a liberated monastic life. In the end, the sincere heart prevailed and his parents consented. In 1850, he received novice ordination at Hoe Nhai Pagoda. In 1858, he went to Vinh Nghiem Pagoda to continue studies under Most Venerable Tam Vien. In 1860, he received full bhiksu ordination at the Great Ordination Platform of Vinh Nghiem Pagoda and continued to reside there, cultivating and studying the Dharma. He practiced with great diligence and became a pillar of this ancestral seat.[1]
Religious Career
In 1870, his master sent him to Ninh Binh province to teach the Dharma to monks and nuns at Phuong Ban, Hoang Kim, Phuc Tinh and other pagodas. Together with several other masters, he opened two classes (for monks and for nuns) to broaden Dharma instruction. Many of his disciples later became persons of pure conduct and firm faith.
In 1900, when his elder Dharma-brother, Most Venerable Thanh Tuyen, passed away, he returned to Vinh Nghiem. With the support and acclamation of the lineage, he succeeded to the abbacy of Vinh Nghiem. At that time Vinh Nghiem was the largest ancestral monastery in Bac Giang; each rains-retreat season more than 200 monastics gathered there. Despite heavy administrative responsibilities, he continued to disseminate the Dharma and train succeeding generations.[2]
A Standard-Bearer for the Movement to Copy and Recarve Buddhist Texts Across the Northern Lineages
Hearing that the Ecole francaise d’Extreme-Orient (EFEO) held Buddhist texts collected by the French in Japan, the Patriarch of Vinh Nghiem contacted the school and obtained permission for his students to copy those texts and bring them back to the pagoda to carve woodblocks. Among them were famed works such as the Avatamsaka Sutra and Zen Patriarchs’ Deeds (Thien tong ban hanh).
Below are some texts for which he himself wrote prefaces or postscripts:
Nam hai ky quy Noi phap truyen (2 sets), printed in Bao Dai year 5 (1930); printer: Sramana Thanh Hanh of Vinh Nghiem Pagoda. Postscript states: “On an auspicious day in the 2nd lunar month of the year Canh Ngo, Bao Dai 5 (1930), Sramana Thanh Hanh of Vinh Nghiem Pagoda respectfully appends this postscript.”
Tu phan luat luoc ki (outline of the Dharmaguptaka Vinaya), dated Thanh Thai 13 (1901); printers: bhiksus Thanh Hanh and Thanh Khiet of Vinh Nghiem Pagoda (copy preserved at Bo Da Pagoda).
Trung san Vien Giac kinh (reprinted and woodcut) in Duy Tan year 8 (1915); carved and with preface by Patriarch Thanh Hanh (copy preserved at Bo Da Pagoda).
Phat thuyet Quan Vo Luong Tho Phat Kinh So—Dieu Tong Sao (collated edition), reprinted Bao Dai year 1 (1925); Sramana Thanh Hanh wrote the introduction (copy held at Vinh Nghiem Pagoda).
Lang Nghiem Kinh bach van (Surangama Sutra in vernacular prose; 1 set in two volumes covering fascs. 1–10), Duy Tan year 8 (1913), carved by Thanh Hanh of Vinh Nghiem (copy at Bo Da Pagoda).
Dai Bao tich kinh, printed Bao Dai year 4 (1929); foreword by Sramana Thanh Hanh of Vinh Nghiem (copy at Bo Da Pagoda).
An Tu Son Tran Trieu thien tong chi nam—Truyen tam quoc ngu hanh, printed Bao Dai year 7 (1931); “later student” at Vinh Nghiem, Bhiksu Thanh Hanh, penned the lead essay (copy held at the Library of the Institute for Han–Nom Studies).
Tam to thuc luc, printed Thanh Thai 15 (1893); Bhiksu Thanh Hanh reviewed, corrected, and wrote the postface.[3]
Dai thua ban sinh tam dia quan kinh, printed Bao Dai year 10 (1935).
Dai thua khoi tin luan (Awakening of Faith in the Mahayana), printed Khai Dinh year 1 (1916); “disciple of Vinh Nghiem, Sramana Thanh Hanh, respectfully writes the preface.”
Han Son—Vinh Gia ji (collection), printed Khai Dinh year 1 (1916); Sramana Thanh Hanh of Vinh Nghiem wrote the preface (copy preserved at Phuc Long Pagoda, Phu Lang, Que Vo, Bac Ninh).
Phap Hoa de cuong (outline of the Lotus Sutra), Bao Dai year 9 (1933); “later student” at Vinh Nghiem, bhiksu Thanh Hanh, recarved the blocks (blocks preserved at Bich Dong Pagoda).
Phat ban hanh tap kinh, printed Bao Dai year 4 (1929); preface by Thanh Hanh.
Phat thua tong yeu luan—carved and printed at the direction of Dharma Master Thanh Hanh.
Tuc khac Trung tri Ti ni su nghia tap yeu, printed Khai Dinh year 9 (1914); Sramana Thanh Hanh, successor at Vinh Nghiem, wrote the postscript (copy at Vinh Nghiem).
Thien tong ban hanh, compiled by Zen Master Chan Nguyen, first carved in 1745; Patriarch Thanh Hanh had it recarved in Bao Dai year 7 (1932).
From 1932 to 1936, the Patriarch organized the recarving of the Yen Tu Journal series, including: Thien tong ban hanh, Dac thu lam tuyen thanh dao ca, Thien tich phu, Cu tran lac dao phu, Thieu that phu, Giao tu phu.
Thanks to this initiative by Patriarch Thanh Hanh and his disciples, the printing of scriptures became a major movement in Tonkin (Bac Ky), adding many precious works to the Buddhist treasury.
Zen Patriarch and Supreme Dharma Master of the Tonkin Buddhist Association — the “Great Tree” Uniting the Northern Lineages
By decree of November 6, 1934, the Resident-Superior of Tonkin established the Tonkin Buddhist Association. Yet its formation faced many difficulties due to strong opposition from the Old Monastic Lineages of Tonkin: “In Tonkin there are about four hundred lineages; each has its own rules; matters of one lineage are known to that lineage alone—others do not interfere; even if a lineage does something contrary, unless its own Patriarch speaks, no one can restrain it…”[4]
On December 23, 1934, members of the Association ceremonially welcomed the Patriarch from Vinh Nghiem (Bac Giang) to Quan Su Pagoda (Hanoi) to attend the conference electing the Council of Patriarchal Witnesses, with many eminent monks nationwide. There, the presence of Most Venerable Thanh Hanh—a highly revered elder whose virtue gathered hearts—unified the sangha. That unity was due to his prestige and radiant virtue. In a reply letter to the Association’s President, the Patriarch expressed that, though advanced in years, his constant wish for the Tonkin lineages was to “…cast aside all sectarian grudges, devote themselves single-heartedly to venerating the Supreme Buddha, and lend energetic support to the Buddhist Association so that all its undertakings may be accomplished—thus the Dharma flourishes day by day, and the multitude may joyfully take refuge beneath the Bodhi shade and escape the cycle of suffering…”[5]
On December 24, 1934, in the Rule Charter of the Council of Dharma Masters, the assembly venerated the Vinh Nghiem Patriarch as Zen Patriarch and Supreme Dharma Master (Thien gia Phap chu). In his acceptance remarks, he said he was moved on learning he had been invited to such a great office. He added that, lest he disappoint everyone’s goodwill, he would temporarily assume the position until the Association found a more suitable person.[6]
In 1935, two Hanoi pagodas—Linh Quang (Ba Da) and Hong Phuc (Hoe Nhai)—refused to cooperate over the launch of the magazine Tieng Chuong Som (“The Early Bell”)[7] (the publication authorization was dated January 31, 1935). Mid-1935, the ancestral monasteries Ba Da, Hong Phuc, and Hoa Giai coordinated with branch temples in Hanoi and the provinces to organize the Tonkin Old Monastic Association. Tieng Chuong Som set conditions: if the Tonkin Buddhist Association amended its Charter and elected an all-monastic Administrative Council, with Zen Master Thanh Hanh as president, and moved headquarters to Hoa Giai or Ba Da, then Tieng Chuong Som would volunteer to serve as the Association’s press organ.[8]
Faced with this situation, although elderly, the Vinh Nghiem Patriarch regularly visited between the two camps to mediate and persuade; gradually the disagreements were laid down in favor of the common goal of revitalizing Buddhism.
In early December 1935, the journal Duoc Tue (“Torch of Wisdom”)[9] appeared. Tieng Chuong Som, issue 14 (Dec. 26, 1935), welcomed Duoc Tue and published pieces in a conciliatory, open spirit. On January 11–12, 1936, the ceremony to venerate the Vinh Nghiem Patriarch as Zen Patriarch and Supreme Dharma Master was held at Quan Su Pagoda. Tieng Chuong Som sent congratulations, expressing the hope that the Patriarch would also “look kindly upon” matters of the Old Lineages to preserve the Six Harmonies and propagate the Dharma together.[10]
The Tonkin Buddhist Association was the door that opened the revitalization movement in the North; Patriarch Vinh Nghiem (Thanh Hanh) was the key to that door. He became a symbol of cohesion for Buddhism in the North in particular and Vietnamese Buddhism in general. His contributions to the Dharma are priceless legacies.
Passing
In the end, time could not keep this revered Patriarch in the “temporary realm”: on December 8, 1936, he peacefully entered Nirvana. His relics were enshrined in the Patriarchs’ Stupa at Vinh Nghiem Pagoda. Many temples across the lineages, as well as his students, erected memorial stupas to honor and remember him. His life stands as a shining example of wisdom and virtue for monastics nationwide to emulate.
Notes
[1] TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[2] Theo TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[3] Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam
[4] Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
[5] Theo Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
[6] Theo “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24.3.1936
[7] Tạp chí Tiếng Chuông Sớm đơn vị ngôn luận của Bắc Kỳ hội Cổ Sơn Môn
[8] Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
[9] Tạp chí Đuốc Tuệ là cơ quan ngôn luận của hội Bắc Kỳ Phật Giáo
[10] Theo “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
References
- Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
- Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
- Nguyễn Đại Đồng, Phong trào chấn hưng Phật giáo, nxb Tôn giáo
- Ninh Thị Sinh, Lễ suy tôn Tổ sư Vĩnh Nghiêm lên ngôi vị Thiền gia Pháp chủ hội Phật giáo Bắc Kỳ, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 1, 2016
- Ninh Thị Sinh, Phong trào chấn hưng Phật giáo giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: những di sản để lại, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 11 2021
- “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
- “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24/3/1936
- Tập Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
- Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam
_______________
Tiếng Pháp (français’)
Origines et vocation monastique
Le Vénérable Thích Thanh Hanh (1840-1936), nom séculier Nguyen Thanh Dam, fut un lettré éminent originaire du village de Thanh Liet, district de Thanh Tri, province de Ha Dong (aujourd’hui rattachée à Hanoï). À l’âge de sept ans, sa famille l’envoya étudier les classiques confucéens. Grâce à son intelligence et à l’éducation familiale, ses progrès furent rapides. Cependant, la vie mondaine ne pouvait retenir un cœur tourné vers le Bouddha : il souhaitait devenir moine.
Bien que ses parents s’y opposassent, il persista dans son désir de quitter la vie laïque. Finalement, son aspiration fut exaucée : ses parents lui donnèrent leur accord. En 1850, il reçut la tonsure à la pagode Hoe Nhai. En 1858, il rejoignit la pagode Vinh Nghiem pour étudier sous la direction du Vénérable Tam Vien. En 1860, il reçut la pleine ordination (bhiksu) au grand autel d’ordination de Vinh Nghiem et y demeura pour cultiver et étudier le Dharma. D’une grande assiduité, il devint l’un des piliers de ce monastère ancestral.[1]
Carrière religieuse
En 1870, son maître l’envoya dans la province de Ninh Binh pour enseigner le Dharma aux moines et nonnes dans les pagodes Phuong Ban, Hoang Kim, Phuc Tinh, etc. Avec d’autres maîtres, il ouvrit deux classes distinctes (moines et moniales) afin d’élargir l’enseignement bouddhique. Plusieurs de ses disciples devinrent par la suite des religieux de conduite exemplaire et de foi solide.
En 1900, après le décès de son frère spirituel, le Vénérable Thanh Tuyen, il retourna à Vinh Nghiem. Soutenu et acclamé par l’école, il fut élu abbé. À cette époque, Vinh Nghiem était le plus grand monastère ancestral du Bac Giang ; chaque retraite d’été rassemblait plus de 200 moines. Malgré de lourdes charges administratives, il continua de diffuser le Dharma et de former les générations futures.[2]
Pionnier du mouvement de copie et de gravure des textes bouddhiques au Tonkin
Ayant appris que l’École française d’Extrême-Orient (EFEO) possédait des textes bouddhiques rapportés du Japon, le Patriarche de Vinh Nghiem entra en relation avec cette institution et obtint la permission d’envoyer ses disciples copier ces textes pour ensuite en graver des planches de bois à la pagode. Parmi eux figuraient de célèbres ouvrages tels que le Sutra Avatamsaka (Hoa Nghiêm) et les Annales du Zen (Thiền tông bản hạnh).
Voici quelques œuvres auxquelles il rédigea personnellement préfaces ou postfaces :
Nam hai ký quy Nội pháp truyện (2 volumes), imprimé en l’an Bao Dai 5 (1930) ; imprimeur : Sramana Thanh Hanh de la pagode Vinh Nghiem. Postface : “Jour faste du 2e mois lunaire, année Canh Ngo, Bao Dai 5 (1930), Sramana Thanh Hanh, pagode Vinh Nghiem, écrit avec respect.”
Tứ phần luật lược ký, daté Thanh Thai 13 (1901) ; imprimeurs : bhiksus Thanh Hanh et Thanh Khiet de Vinh Nghiem (exemplaire conservé à la pagode Bo Da).
Trùng san Viên Giác kinh, gravé et imprimé en Duy Tan 8 (1915) ; gravure et préface du Patriarche Thanh Hanh (exemplaire à Bo Da).
Phật thuyết Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao hội bản, réimprimé en Bao Dai 1 (1925) ; introduction par Sramana Thanh Hanh (copie à Vinh Nghiem).
Lăng Nghiêm kinh bạch văn (Sutra Surangama en prose vernaculaire, 2 volumes, fasc. 1-10), Duy Tan 8 (1913), gravé par Thanh Hanh (exemplaire à Bo Da).
Đại Bảo tích kinh, imprimé en Bao Dai 4 (1929) ; préface de Sramana Thanh Hanh (exemplaire à Bo Da).
An Tử Sơn Trần Triều thiền tông chỉ nam truyền tâm quốc ngữ hạnh, imprimé en Bao Dai 7 (1931) ; texte d’introduction par bhiksu Thanh Hanh de Vinh Nghiem (exemplaire à l’Institut de recherche Han-Nom).
Tam tổ thực lục, imprimé en Thanh Thai 15 (1893) ; révisé, corrigé et postfacé par bhiksu Thanh Hanh.[3]
Đại thừa bản sinh tâm địa quán kinh, imprimé en Bao Dai 10 (1935).
Đại thừa khởi tín luận, imprimé en Khai Dinh 1 (1916) ; préface de Sramana Thanh Hanh.
Hàn sơn vĩnh gia tập, imprimé en Khai Dinh 1 (1916) ; préface de Thanh Hanh (exemplaire conservé à Phuc Long Pagode, Phu Lang, Que Vo, Bac Ninh).
Pháp hoa đề cương, imprimé en Bao Dai 9 (1933) ; gravé par bhiksu Thanh Hanh (planches à Bich Dong).
Phật bản hạnh tập kinh, imprimé en Bao Dai 4 (1929) ; préface de Thanh Hanh.
Phật thừa tông yếu luận, gravé et imprimé sous sa direction.
Tục khắc Trừng trị Tỉ ni sự nghĩa tập yếu, imprimé en Khai Dinh 9 (1914) ; postface de Sramana Thanh Hanh (exemplaire à Vinh Nghiem).
Thiền tông bản hạnh, compilé par le Maître zen Chan Nguyen, première gravure en 1745, régravé par le Patriarche Thanh Hanh en Bao Dai 7 (1932).
De 1932 à 1936, il organisa aussi la gravure de la série Yên Tử nhật trình, comprenant : Thiền tông bản hạnh, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, Thiền tịch phú, Cư trần lạc đạo phú, Thiếu thất phú, Giáo tử phú.
Grâce à cette initiative, l’impression des écritures devint un grand mouvement au Tonkin, enrichissant le trésor bouddhique de nombreuses œuvres précieuses.
Patriarche zen et Chef suprême du Dharma de l’Association bouddhique du Tonkin — « le grand arbre » reliant les lignées du Nord
Par décret du 6 novembre 1934, le Résident supérieur du Tonkin fonda l’Association bouddhique du Tonkin. Mais la création de cette institution rencontra de fortes résistances des lignées anciennes : « Au Tonkin il existe environ quatre cents lignées ; chacune a ses propres règles ; chaque lignée gère ses affaires et les autres n’interviennent pas. Même si une lignée agit à l’encontre, à moins que son propre patriarche ne parle, nul ne peut la contraindre… »[4]
Le 23 décembre 1934, les membres de l’Association accueillirent solennellement le Patriarche de Vinh Nghiem (Bac Giang) à la pagode Quan Su (Hanoï), pour participer à la conférence élisant le Conseil des Maîtres spirituels avec de nombreux hauts moines du pays. La présence du Vénérable Thanh Hanh, maître vénérable dont la vertu rassemblait les cœurs, unifia l’assemblée. Cette unité fut due à son prestige et à sa lumière morale. Dans une lettre au président de l’Association, il exprima son vœu que les lignées du Tonkin « …abandonnent toutes rancunes sectaires, vénèrent d’un seul cœur le Bouddha suprême, soutiennent activement l’Association afin que ses œuvres s’accomplissent, pour que le Dharma prospère et que les êtres trouvent refuge sous l’ombre du Bodhi et échappent à la roue de la souffrance… »[5]
Le 24 décembre 1934, dans le Règlement du Conseil des Maîtres, il fut vénéré comme Patriarche zen et Chef suprême du Dharma (Thiền gia Pháp chủ). Dans son allocution, il déclara qu’il était ému par cette désignation ; qu’il accepterait provisoirement afin de ne pas décevoir la confiance de tous, jusqu’à ce qu’un successeur approprié soit trouvé.[6]
En 1935, deux pagodes de Hanoï — Linh Quang (Ba Da) et Hong Phuc (Hoe Nhai) — refusèrent de coopérer à la parution du périodique Tiếng Chuông Sớm (“La Cloche Matinale”)[7]. À la mi-1935, ces monastères ancestraux s’associèrent à d’autres pour fonder l’Association des anciens monastères bouddhiques du Tonkin. Tiếng Chuông Sớm posa comme conditions : que l’Association du Tonkin réforme ses statuts, élise un Conseil administratif entièrement monastique, présidé par le Maître zen Thanh Hanh, et transfère son siège à Hoa Giai ou Ba Da ; alors, la revue accepterait de devenir son organe officiel.[8]
Face à cette situation, bien qu’avancé en âge, le Patriarche visita régulièrement les deux camps pour médiation et persuasion. Peu à peu, les divergences furent surmontées au profit de l’objectif commun : la renaissance du bouddhisme.
En décembre 1935, le journal Đuốc Tuệ (“La Torche de la Sagesse”)[9] parut. Tiếng Chuông Sớm, no 14 (26 déc. 1935), salua la naissance de Đuốc Tuệ et publia des articles conciliants. Les 11-12 janvier 1936, la cérémonie de vénération du Patriarche de Vinh Nghiem comme Chef suprême du Dharma eut lieu à Quan Su. Tiếng Chuông Sớm adressa ses félicitations, espérant qu’il « prêterait aussi attention » aux affaires des anciens monastères pour maintenir les six harmonies et propager ensemble le Dharma.[10]
L’Association bouddhique du Tonkin fut la porte de la renaissance bouddhique au Nord ; le Patriarche Thanh Hanh en fut la clé. Il incarna l’unité du bouddhisme tonkinois en particulier et du bouddhisme vietnamien en général. Ses contributions demeurent un héritage inestimable.
Nirvana
Enfin, le temps ne put retenir ce vénérable Patriarche dans le « monde provisoire » : le 8 décembre 1936, il entra paisiblement en Nirvana. Ses reliques furent déposées dans le stupa des Patriarches de Vinh Nghiem. De nombreux monastères et disciples érigèrent aussi des stupas en son honneur. Sa vie reste un exemple lumineux de sagesse et de vertu pour les moines et nonnes du pays entier.
Notes
[1] TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[2] Theo TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[3] Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam
[4] Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
[5] Theo Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
[6] Theo “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24.3.1936
[7] Tạp chí Tiếng Chuông Sớm đơn vị ngôn luận của Bắc Kỳ hội Cổ Sơn Môn
[8] Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
[9] Tạp chí Đuốc Tuệ là cơ quan ngôn luận của hội Bắc Kỳ Phật Giáo
[10] Theo “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
Références
- Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
- Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
- Nguyễn Đại Đồng, Phong trào chấn hưng Phật giáo, nxb Tôn giáo
- Ninh Thị Sinh, Lễ suy tôn Tổ sư Vĩnh Nghiêm lên ngôi vị Thiền gia Pháp chủ hội Phật giáo Bắc Kỳ, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 1, 2016
- Ninh Thị Sinh, Phong trào chấn hưng Phật giáo giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: những di sản để lại, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 11 2021
- “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
- “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24/3/1936
- Tập Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
- Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam
____________
Tiếng Trung (中文)
身世与出家因缘
大和尚 释清行(1840–1936),俗名 阮清潭,是著名学者,出身于 河东省清池县清烈村(今属河内)。七岁时,家人送其学习 儒家经典。凭借聪慧天资和良好家学,他学业进步极快。然而,世俗生活无法留住一颗向佛之心,他一心想要出家。
虽父母极力反对,他仍坚决求归佛门。最终父母答应。1850年,他在 槐街寺(Hoe Nhai) 受戒出家。1858年,入 永严寺(Vinh Nghiem),随 心圆和尚(Thích Tâm Viên) 学习。1860年,于永严寺大戒坛受 具足戒,继续留寺修行研习佛法。他精进不懈,逐渐成为祖庭的栋梁。[1]
道业
1870年,师父派他赴 宁平省,在 凤班寺、黄金寺、福井寺 等地为僧尼讲法。他与诸师合办两所僧尼学班,广传佛法。其弟子中,许多人后来成为道行清净、信根坚定的高僧。
1900年,师兄 清泉和尚 圆寂,他返回永严寺,在宗派拥护推举下继任 住持。当时永严寺是 北江 最大祖庭,每年夏安居僧众多达 200余人。虽政务繁忙,他仍弘扬佛法,培养继承人。[2]
北圻佛教抄写与雕版运动的先驱
永严祖庭得知 法属远东学院(École française d’Extrême-Orient, EFEO) 收藏有自日本搜集的佛典,遂与其联系,请求允许弟子抄录并带回寺院雕刻木版。其中包括著名的 华严经、禅宗本行 等。
以下为他亲自撰写序文或跋文的部分经典:
《南海寄归内法传》二部,印于 保大五年(1930),印人:永严寺 沙门清行。跋云:“庚午年保大五年二月吉日,永严寺沙门清行谨跋。”
《四分律略记》,成泰十三年(1901),印人:永严寺比丘清行、清洁(存于 般陀寺)。
《重刊圆觉经》,维新八年(1915),由祖师清行刻印并作序(存于般陀寺)。
《佛说观无量寿佛经疏妙宗钞会本》,**保大元年(1925)**重印,清行沙门作引言(存于永严寺)。
《楞严经白文》一部二卷(卷1–10),维新八年(1913),清行雕刻(存于般陀寺)。
《大宝积经》,保大四年(1929),沙门清行作序(存于般陀寺)。
《安子山陈朝禅宗指南传心国语行》,保大七年(1931),永严寺弟子比丘清行执笔作序(存于汉喃研究院书库)。
《三祖实录》,成泰十五年(1893),比丘清行校勘并作跋。[3]
《大乘本生心地观经》,**保大十年(1935)**刊印。
《大乘起信论》,**启定元年(1916)**刊印,永严门人沙门清行作序。
《寒山永嘉集》,**启定元年(1916)**刊印,永严寺清行沙门作序(存于北宁魁武扶朗福龙寺)。
《法华提纲》,保大九年(1933),永严寺比丘清行刻印(版存于碧洞寺)。
《佛本行集经》,**保大四年(1929)**刊印,清行作序。
《佛乘宗要论》,清行法主主持刊刻。
《续刻惩治毗尼事义辑要》,**启定九年(1914)**刊印,永严继席沙门清行作跋(存于永严寺)。
《禅宗本行》,由禅师真源编纂,1745年初刻,清行祖师于 保大七年(1932) 重刻。
1932–1936年间,他主持刊刻《安子日志》,收录《禅宗本行》《得趣林泉成道歌》《禅寂赋》《居尘乐道赋》《少室赋》《教子赋》。
因清行祖师及弟子倡导,佛典刊印遂成 北圻佛教一大运动,增添许多珍贵典籍。
北圻佛教协会法主禅家——“大树”联结诸宗门
1934年11月6日,北圻总督颁布法令,成立 北圻佛教协会。然而遭到北圻古山门的强烈反对:“北圻约有四百山门,各有规矩,互不干涉;即便有违背之事,除非本门祖师言及,他人不能干预……”[4]
1934年12月23日,协会成员迎请永严祖师赴 河内观寺,参加 道师证明委员会 大会,全国诸高僧齐集。清行和尚之威望与德行,凝聚大众,使协会团结一心。致协会长的复信中,他表示虽年迈,但愿北圻山门:“……弃宗派嫌隙,一心崇佛,努力护持协会,使佛法日益昌明,群生皆能依菩提荫而脱轮回苦海……”[5]
1934年12月24日,道师委员会推尊永严祖师为 禅家法主。祖师在答辞中感言:闻被推举大任,心中感动,若不应允则负众望,故暂任其职,待寻合适人选。[6]
1935年,河内 灵光寺(婆陀)、洪福寺(槐街) 拒绝合作刊行《早钟声》杂志[7]。同年中,婆陀、洪福、和皆三祖庭联合他寺,组成 北圻佛教古山门。其条件是:若北圻佛教协会修改章程,选举全僧管理委员会,由清行禅师任会长,并将会所迁至和皆或婆陀寺,则《早钟声》愿为机关刊物。[8]
面对局势,虽已年高,祖师仍频繁往来调解,逐渐化解矛盾,朝共同振兴佛教的目标前进。
1935年12月,《慧炬》杂志[9] 创刊。《早钟声》14期(1935年12月26日)致贺,并刊登和解文章。1936年1月11–12日,观寺举行典礼,尊永严祖师为 禅家法主。《早钟声》致贺,寄望祖师亦“关怀古山门之事”,维持 六和,共弘佛法。[10]
北圻佛教协会是开启 北圻佛教复兴运动 的门户,而永严祖师清行则是开启门户的 钥匙。他成为北圻佛教乃至越南佛教团结的象征,其对佛法的贡献是不朽的遗产。
圆寂
终究,时光无法挽留此尊敬的祖师。1936年12月8日,他安然 示寂,归于涅槃。舍利安奉于 永严寺祖塔。诸山门弟子遍建塔庙以祀,追思祖德。其一生智慧德行,成为全国僧尼效法之典范。
注释
[1] TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[2] Theo TT. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
[3] Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam
[4] Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
[5] Theo Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
[6] Theo “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24.3.1936
[7] Tạp chí Tiếng Chuông Sớm đơn vị ngôn luận của Bắc Kỳ hội Cổ Sơn Môn
[8] Theo Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
[9] Tạp chí Đuốc Tuệ là cơ quan ngôn luận của hội Bắc Kỳ Phật Giáo
[10] Theo “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
参考文献
- Lê Đình Thám, “Bức thư của Hội Phật học Trung kỳ gửi ra sau khi các đại biểu Hội ấy ra dự lễ suy tôn Bắc kỳ Thiền gia Pháp chủ về tới Huế”, Đuốc Tuệ, số 9, ngày 11/2/1936
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3, chương 29
- Thích Đồng Bổn, Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1, thành hội Phật giáo TP. HCM. 1995
- Nguyễn Đại Đồng, Phong trào chấn hưng Phật giáo, nxb Tôn giáo
- Ninh Thị Sinh, Lễ suy tôn Tổ sư Vĩnh Nghiêm lên ngôi vị Thiền gia Pháp chủ hội Phật giáo Bắc Kỳ, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 1, 2016
- Ninh Thị Sinh, Phong trào chấn hưng Phật giáo giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: những di sản để lại, Tạp chí nghiên cứu Phật học số tháng 11 2021
- “Lễ suy tôn cụ tổ Vĩnh Nghiêm lên làm Pháp chủ Hội Phật giáo”, Tiếng Chuông Sớm, số 21, 6/4/1936
- “Bài đáp từ của cụ Tổ Vĩnh Nghiêm”, Đuốc Tuệ, số 15, ngày 24/3/1936
- Tập Kỷ yếu, Hội Phật giáo Bắc Kỳ, số 1
- Theo TS. Nguyễn Văn Tuấn, Chùa Vĩnh Nghiêm, từ thiền sư Tâm Viên đến thiền sư Thanh Hanh tông phong vĩnh chấn, website Giáo hội Phật giáo Việt Nam