Trần Đức Thảo (1917 – 1993)

Trần Đức Thảo (1917 – 1993)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Cho đến nay, giải thưởng Nobel vẫn đem đến cho người nhận niềm vinh dự to lớn. Giải thưởng này do nhà bác học chế tạo cốt mìn Alfred Nobel (1833 – 1896), người Thụy Điển sáng lập, theo di chúc là tạo thành một quỹ cố định mà số lợi tức hàng năm được đem ra tặng thưởng cho những ai trong mỗi năm qua đã có nhiều cống hiến nhất cho nhân loại. Với số tiền lúc đó của A. Nobel là 33 triệu couronne đã được chuyển vào ngân hàng do Chính phủ Thụy Điển đảm nhận quản lý. Lần đầu tiên, ngày 10/12/1901, giải thưởng Nobel chính thức được phát. Từ đó cho đến nay, hàng năm cứ đến ngày 10/12 là cả hành tinh lại chờ đón thông tin về những người được trao giải thưởng Nobel – như thế đủ biết giá trị và ảnh hưởng to lớn của giải thưởng này.

Thế nhưng, năm 1964 có một nhà tư tưởng, nhà văn người Pháp lại từ chối không nhận giải thưởng Nobel! Đó là Jean Paul Sartre (1905 – 1980) – người đã mở đường cho chủ nghĩa hiện sinh trong triết họcvà văn học ở Pháp và châu Âu, là thần tượng của nhiều thế hệ thanh niên phương Tây. Và điều rất thú vị, với một nhân vật lừng lẫy, có ảnh hưởng rộng lớn như J.P.Sartre, nhưng một nhà triết học Việt Nam đã từng tranh luận về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa hiện sinh vào cuối năm 1949, đầu năm 1950 tại Paris. Người đó là Trần Đức Thảo, sinh ngày 29/6/1917 tại xã Song Tháp, huyện Từ Sơn (Bắc Ninh).

Cuộc đời 

Năm 18 tuổi, sau một năm học trường Luật tại Hà Nội, Trần Đức Thảo sang Pháp để tiếp tục học. Năm 1939, ông thi đậu vào Trường Cao đẳng Sư phạm phố d’Ulm (Paris) – là một trường nổi tiếng của Pháp về truyền thống tư tưởng dân chủ tiến bộ, văn hóa nhân văn và khoa học hiện đại. Năm 1944, khi phát-xít Đức xâm lược Pháp, ông lánh nạn về vùng Bagnère de Bigorre và tiếp tục đèn sách. Năm 1942, ông tốt nghiệp Cao học về triết học với luận văn “Phương pháp hiện tượng học Husserl” và đăng ký làm luận văn tiến sĩ triết học ở Trường Đại học Sorbonne về “Hiện tượng học của Husserl”. Trong thời gian này, thế chiến thứ 2 đã nổ ra và loài người đang đứng trước sự hủy diệt của thảm họa chiến tranh. Với tình thế nguy ngập như vậy thì giới triết học có thể an tâm đóng kín cửa phòng để suy tưởng không? Cũng như nhiều trí thức khác, Trần Đức Thảo đã dấn thân vào con đường đấu tranh vì hòa bình của cộng đồng. Trong bản tự thuật đánh máy chữ năm 1987, ông cho biết:

Tháng 12/1944: Là báo cáo viên chính trị tại đại hội Những người Đông Dương ở Avignon, tôi đã trình bày một cương lĩnh thiết lập nền dân chủ các nước Đông Dương. Tôi đã lựa chọn làm một báo cáo chính trị vì mọi người đều biết rằng: tôi chưa hề bao giờ có một báo cáo nào với người Đảng Quốc xã. Vì sự nghiệp giải phóng cho ngày mai là điều kiện đầu tiên để có quyền được nói về chính trị. Cuộc đại hội được tổ chức tại phòng lễ hội của toà Thị chính Avignon, là ông Thị trưởng là đảng viên cộng sản. Tôi được bầu là uỷ viên Tổng liên đoàn người Đông Dương ở nước Pháp và phụ trách nghiên cứu những vấn đề chính trị. Với danh nghĩa này đầu năm 1945 tôi được tiếp kiến ông Maurice Thorez tại trụ sở Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản. Do sự thống nhất đường lối chung: đấu tranh cho các dân tộc bị áp bức, chống đế quốc. Cuộc đấu tranh này nhằm giải phóng dân tộc, bằng lẽ phải đã quy tụ được ý thức khách quan của thế giới đương thời đối với chủ nghĩa cộng sản. Ông Maurice Thorez hứa có sự giúp đỡ cụ thể của Đảng cộng sản Pháp qua các tổ chức địa phương dành cho Tổng liên đoàn người Đông Dương ở nước Pháp. Lời hứa đó được tôn trọng hoàn toàn. Tháng 9/1945 nhiều truyền đơn, hội nghị báo chí hô hào ủng hộ Việt Minh và chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một bài báo đăng trên tờ Le monde (Thế giới) thuật lại cuộc họp báo chí của tôi: Một phóng viên đã nêu câu hỏi với tôi rằng: “Người Đông Dương sẽ làm gì khi đội quân viễn chinh đổ bộ?” – Tôi trả lời: “Phải nổ súng”. Lời đối đáp đó trả giá cho tôi là bị cầm tù từ đầu tháng lO đến cuối tháng 12/1945 vì “mưu hại an ninh nước Pháp, trong lãnh thổ có chủ quyền”. Trong khi tôi bị giam giữ, báo L’humanité (Báo Nhân đạo của Đảng C.S Pháp) đăng bài đòi trả tự do cho tôi. Maurice Merleau Ponty, tổng biên tập tạp chí Tenp modernes (Thời hiện đại) cũng đã truyền đi một bản kiến nghị như vậy với chữ ký của vài nghìn người trí thức. Ở phố Ulm có tình trạng chia rẽ, những đảng viên cộng sản và người cảm tình cộng sản. Trong đó có những người thuộc phái hiệnsinh đòi trả tự do cho tôi. Điều đáng lưu ý là nhóm Sartre, trong thời gian Đức chiếm đóng, đã tham gia cuộc kháng chiến chống phát-xít, có liên kết với Đảng cộng sản. Sau nhóm này chuyển hướng từ triết học Husseerl, đã chịu ảnh hưởng triết học của Heidegger nên họ xa rời Đảng cộng sản. Những cựu học sinh Trường Cao đẳng Sư phạm cũng phản kháng việc giam giữ tôi, giản đơn là vì tinh thần dân chủ. Còn một số naò đó thì do dự vì sự gắn bó với tổ chức L’Union Francaise (Liên hiệp Pháp). Sự chia rẽ đó gây cản trở cho việc thực hiện bản kháng nghị tập thể do một chi bộ cộng sản phát ra.

Nếu cụ Phan Châu Trinh trong thời gian bị giam biệt lập trong xà lim Prison de la Santé đã hoàn thành tập thơ Santé thi tập, thì cũng tại nhà tù này, Trần Đức Thảo đã có thời gian nghiền ngẫm về hiện tượng học; và ông cũng nhận thấy trong hoàn cảnh khách quan của mình nổi lên mối mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa tư bản đế quốc. Từ đó, ông đã chuyển từ hiện tượng luận sang chủ nghĩa duy vật biện chứng. Năm 1946, được trả tự do, ông tiếp tục viết nhiều bài báo nẩy lửa đăng trên các tạp chí Le temps modernes, La Pensée… phản đối thực dân Pháp gây hấn xâm lược Việt Nam.

Lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, Người có gặp gỡ và vận động một số trí thức yêu nước trở về nước tham gia vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Gặp Người, Trần Đức Thảo có bày tỏ nguyện vọng và hứa sẽ về nước sau khi viết xong luận văn tiến sĩ. Khi thực dân Pháp rắp tâm quay lại Việt Nam thì ông đã kiên quyết rút khỏi Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) với lập trường: “Phải dứt khoát phânbiệt một bên là chính phủ thực dân Pháp xâm lược, một bên là nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, tự do, dân chủ”. Để có tiền ăn học, chuẩn bị hoàn thành luận văn, ông đi dạy tư, viết sách, viết báo…

Trong những năm 1947 – 1948, ông là giáo sư giảng dạy ở Trường Cao đẳng Sư phạm phố d’Ulm, Trường Sư phạm Sèvres, thuyết trình về hiện tượng học Husserl, về những nhà triết học Kant, Helgel và viết những bài nghiên cứu về chủ nghĩa Mác. Một điểm đáng chú ý nhất cho việc chuyển hướng của ông đã diễn ra như sau: “Tháng 9/1948, giáo sư viết bài trên tạp chí Le temps modernes, số 36, về “Hiện tượng học về tinh thần và nội dung thực chất của nó” nhân giáo trình của giáo sư Alexandre Kijève về “Hiện tượng học về tinh thần của Helgel” vừa xuất bản. Giáo trình này đã được giảng dạy trước chiến tranh thế giới, trong số người nghe giảng có nhiều nhà triết học tiếng tăm như J.P. Sartre, J.Hyppolile, M.Merleau-Ponty, A. Ragon v.v… Do đó giáo trình đã ảnh hưởng rất lớn đến nền triết học Pháp, được coi như một nguồn gốc của tư tưởng Pháp ngày ấy. Cho nên M.MerleauPonty đã yêu cầu giáo sư Trần Đức Thảo viết bài bình luận cho Le temps modernes. Nhân dịp này, giáo sư nghiên cứu trực tiếp sâu sắc tác phẩm của Hégel, cuốn “Hiện tượng học và tinh thần” và đã đi đến kết luận là duy nhất chỉ có phép biện chứng duy vật lịch sử mới cho phép hiểu được đúng nội dung thực chất và nhờ đó, hiểu được đúng ý nghĩa chính thống của tư tưởng Hegel. Bài của giáo sư Trần Đức Thảo phản bác nội dung diễn giải Hegel theo quan điểm hiện sinh chủ nghĩa của A. Kijève. Đồng thời luận điểm của giáo sư Trần Đức Thảo cho thấy giáo sư đã được giải phóng khỏi quan điểm duy tâm của Husserl: ông dứt khoát chuyển sang chủ nghĩa duy vật biện chứng” (Vấn đề con người và chủ nghĩa “Lý luận không có con người” – Giáo sư Trần Đức Thảo – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 1989, tr. 10). Đây cũng là thời điểm mà ông nhận lời đề nghị của nhà triết học J.P.Sartre: đôi bên cùng tranh luận về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa hiện sinh.

Các buổi luận đàm này đều có ghi lại bằng bút ký, diễn ra từ cuối năm 1949 đến đầu năm 1950. Trần Đức Thảo cho biết cụ thể:

J.P. Sartre mời tôi trao đổi ý kiến vì ông muốn chứng minh rằng chủ nghĩa hiện sinh rất có thể cùng tồn tại hòa bình với học thuyết Marx. Bản ghi tốc ký được chuẩn bị công bố chung dưới hình thức đối thoại. J.P. Sartre không hiểu giá trị chủ nghĩa Marx về mặt chính trị và lịch sử xã hội, ngay cả ý nghĩa triết học Marx ông cũng không hiểu một cách nghiêm túc. Ông đề xuất một sự phân chia khu vực ảnh hưởng. Chủ nghĩa Marx có thẩm quyền trong chừng mực nào đó về các vấn đề xã hội, còn chỉ có chủ nghĩa hiện sinh mới khả dĩ có giá trị về mặt triết học. Tôi đã chỉ ra rằng cần hiểu nghiêm túc đầy đủ ý nghĩa triết học của chủ nghĩa Marx. Trong bài nói chuyện thứ 5 về những vấn đề cơ bản của triết học, mối quan hệ giữa ý thức và vật chất, đã khai thông sự suy xét một vấn đề chủ yếu. J.P. Sartre không biết rõ những điều mới lạ của Husserl. Do đó mà cuộc nói chuyện phải chấm dứt. Với tôi, những cuộc đối thoại này đã hoàn thành sự đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiện sinh, mà sự tan vỡ khởi đầu từ tháng 9/1948 bằng bài báo của tôi chống lại lời bình luận của A. Kijève về vấn đề hiện tượng học của Hegel. Tháng 8/1951, tôi công bố sách Hiện tượng học và phép duy vật biện chứng.Quyển sách này ghi nhận sự chuyển biến của tôi về môn hiện tượng học đối với phép duy vật biện chứng. Trên thực tế tôi mới chỉ đạt tới ngưỡng cửa chủ nghĩa Marx, đi tới sự nhận biết sức mạnh chân lý của học thuyết duy vật biện chứng, chưa có nhận thức đầy đủ những nguyên bản kinh điển của chủ nghĩa Marx – Lénin, và chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng… Tuy vậy trên bình diện triết học, những lập trường về nguyên tắc được khẳng định rõ ràng, đủ đưa tôi đến quyết định trở về Việt Nam, mong đặt cuộc sống gắn liền với triết học và thực hiện một hành động thực tế để giải đáp những vấn đề lý luận trong quyển sách của tôi.

Với những lý do nêu trên nên cuộc luận đàm đến lần thứ 5 đã ngừng. Lúc chia tay nhau, cả hai bên cùng bắt tay thỏa thuận là sẽ không công bố lại bất cứ nội dung gì của cuộc tranh luận này. Tuy nhiên, sau đó các môn đệ của J.P. Sartre lại đổ lỗi là do từ phía Trần Đức Thảo mà cuộc luận đàm không thành. Vì không có phe nhóm bảo vệ nên ông buộc lòng đòi công bố các biên bản tốc ký, nhờ vậy uy tín của ông mới không còn bị xuyên tạc. Cuốn sách đầu tay của Trần Đức Thảo là Triết lý đã đi đến đâu? do NXB Minh Tân (7, Rue Guénégaud – Paris VI” in năm 1950). Tập sách này chỉ có 60 trang in, chia làm 4 chương, viết bằng tiếng Việt: Căn bản thiết thực của triết lý- Âu và Á; từ Platon đến Gia-tô; giai đoạn trưởng giả cách mệnh: từ đời trung cổ đến Hegel; thời đại trưởng giả phát triển và Mác – xít phát triển. Sau đó, năm 1951, ông tiếp tục công bố Hiện tượng học và phép duy vật biện chứng, dày 368 trang, viết bằng tiếng Pháp. Từ đây, ông bắt đầu lựa chọn một thái độ, một bản lĩnh sống của một trí thức chân chính: cuối năm 1951, từ bỏ sau lưng cuộc sống bình yên, tương lai học thuật tươi sáng, ông theo con đường Luân Đôn – Praha – Matxcơva – Bắc Kinh trở về Việt Nam và có mặt tại chiến khu Việt Bắc để tham gia vào công cuộc kháng chiến.

Tham gia kháng chiến

Trong thời gian kháng chiến và sau ngày hòa bình lập lại, Trần Đức Thảo đã được phân công làm những gì để phát huy khả năng của ông? Giáo sư lỗi lạc, nhà cách mạng lão thành Trần Văn Giàu có thời gian chung sống với ông đã kể lại nhiều chi tiết mới mẻ: “Tôi gặp anh Trần Đức Thảo hồi kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc, lúc đó anh mới từ Pháp về. Anh về, không đòi hỏi gì, giao việc gì thì làm việc nấy, có điều là trong kháng chiến đối với một nhà triết học như anh Thảo cũng khó giao việc. Ở đó lúc bấy giờ không có thư viện, không có trường đại học, không có chỗ tập hợp người trí thức, nên khó bố trí anh Thảo làm việc, chớ không phải người ta không bố trí. Bố trí anh Thảo ở Ban Văn Sử Địa của anh Trần Huy Liệu tốt hơn các chỗ khác, nhưng tôi thấy cũng không đúng chỗ của anh lắm. Mà công việc nghiên cứu Truyện Kiều chẳng hạn, không phải việc của anh Thảo. Việc của anh Thảo lớn hơn, rộng hơn. Được cái là anh Thảo sống gần dân, gần với anh em kháng chiến, chịu đựng gian khổ và cố gắng nghiên cứu. Phải chi hồi đó có trường đại học hay Trung tâm nghiên cứu nào thì anh Thảo phát huy được nhiều hơn.

Sau khi về Hà Nội, anh Thảo làm việc cùng với tôi. Lúc đó trường đại học Sư phạm Hà Nội mà anh Thảo là khoa trưởng khoa Sử. Cũng là được nhiều hơn hồi kháng chiến, nhưng cũng không phải chỗ của một nhà triết học. Giá như thời đó có một nơi nào làm lịch sử tư tưởng Việt Nam như sau này thì anh Thảo sẽ đóng góp được nhiều hơn. Còn làm khoa trưởng khoa Sử phải lên lớp, duyệt bài đó không phải nghề của anh Thảo. Nghề của anh phải nghĩ xa hơn cải thực tếlịch sử trước mắt. Cho nên anh không có điều kiện phát huy. Nhưng điều đáng chú ý hơn hết là một người bằng cấp tuy không phải lớn mà chính ra là đại trí thức. Một con người còn trẻ lắm mà có ý kiến riêng của mình, một con người đã đối đầu thắng lợi trong cuộc tranh luận với J.P.Sartre ở Pháp. Điều đó làm tôi rất thú vị. Tranh luận như thế nào tôi không rõ, nhưng nội chuyện tranh luận với J.P.Sartre đã là hay rồi. Lúc bấy giờ J.P.Sartre là nhà triết học nổi tiếng nhất ở Pháp, một người hiện sinh chủ nghĩa. Điều đó chứng tỏ tính chất đấu tranh tư tưởng của anh Thảo. Anh Thảo là một người thích đấu tranh tư tưởng. Anh không phải là một người vâng theo mà là một người biết suy gẫm trong mọi vấn đề. Điều đó đối với anh em mình có khi hơi khó chịu nhưng đối với phương Tây, đối với những người nghiên cứu triết học Đức và nghiên cứu chủ nghĩa phê phán của Kant thì thấy rất đúng và rất cần. Tôi hoan nghênh cái chủ nghĩa phê phán đó, nó mới hơn cái nếp của mình.

Nhưng đã không có việc cho anh Thảo làm. Tôi nghĩ giá mà anh Thảo làm cái việc tôi làm từ năm 60 đến nay, về lịch sử tư tưởng Việt Nam, tôi không phải là người khiêm tốn lắm đâu, trái lại là khác, nhưng tôi nghĩ anh Thảo làm, có lẽ ảnh sẽ đi sâu hơn tôi. Không sợ thiếu thực tiễn chỉ sợ thiếu tư duy và sáng kiến mà điều đó thì anh Thảo có. Giá lúc đó đặt cho anh ấy một đề tài nghiên cứu như Lịch sử tư tưởng Việt Nam thì rất là thú vị. Anh Thảo có thể có ý kiến khác, nhưng không sao, bởi vì ảnh cũng ở trong vòng của chủ nghĩa duy vật lịch sử chứ không ra ngoài.

Có người tưởng anh Thảo về nước để tìm công danh. Không phải đâu. Anh Thảo không muốn “làm quan”, ảnh muốn viết những tác phẩm sâu sắc hơn là làm một “ông quan”. Tác phong của anh Thảo là tác phong của một người nghiên cứu. Điều tôi muốn nói là trong vụ Nhân Văn, anh Thảo do cái chủ nghĩa phê phán nó dẫn anh đi quá đà, chớ việc ảnh lên tiếng về việc này việc kia không có gì cấm kî. Nhưng có người, muốn đưa anh lên lợi dụng tên tuổi anh, rồi gây thành nhóm, đó là điều không nên. Còn việc sau đó đưa anh lên Sơn Tây hay ở hội nghị này hội nghị kia làm quá sai. Anh Thảo khôngphải là đảng viên Cộng sản, mà lúc ở Pháp, khác với nhiều trí thức tên tuổi khác, anh rất có lập trường, vậy là hay lắm rồi. Sự cư xử thiếu tế nhị, thiếu thuyết phục đối với một trí thức không phải là đảng viên như anh – mà đối với trí thức đảng viên thì cũng không thể làm như vậy – một trí thức từ nước ngoài tìm về với kháng chiến, theo tôi là điều đáng phải nghiêm khắc coi lại.

Nói về phương diện tư tưởng triết học thì anh Thảo là người suy nghĩ sâu sắc, có những vấn đề anh đóng góp cho châu Âu chứ không phải chỉ đóng góp cho xứ mình mà thôi. Khuynh hướng của anh Thảo nói về con người theo tôi căn bản là đúng, chỉ có lệch chăng là nó giống với triết học cổ điển Đức mà hồi Marx, Engels viết Tuyên ngôn Cộng sản chê nó trừu tượng quá, cái đó là một cái tật của triết học Đức, nhưng dù sao nó cũng là một khuynh hướng của Hégel có đầu đuôi, hệ thống, cho nên tôi tán đồng cái cố gắng của anh Thảo đi vào con người. Nhưng nếu tôi ở gần anh Thảo thì tôi ủng hộ anh đi vào con người không phải trừu tượng, mà đi vào con người Việt Nam. Nếu đi vào con người Việt Nam thì anh làm khảo cứu hơn nhiều người, kể cả hơn tôi. Chứ còn hướng nghiên cứu về con người là đúng.

Cuối cùng tôi muốn nói khi anh Thảo ở Sơn Tây về, đáng lẽ ảnh oán lắm, nhưng ảnh noble (cao thượng) xứng đáng ghê lắm. Ảnh tiếp tục nghiên cứu triết học, không oán hờn, không chấp nhất; khi qua châu Âu ảnh bênh vực đường lối của Đảng. Đó là một trong những người có thể đại biểu cho trí thức Việt Nam”.

Trong thời gian làm việc ở Ban Văn-Sử-Địa, Trần Đức Thảo đã viết nhiều bài nghiên cứu liên quan đến lịch sử văn học Việt Nam. Từ năm 1958 đến năm 1986, ông đã viết nhiều bài và tác phẩm cho báochí và các nhà xuất bản ở nước ngoài như viết cho tạp chí La Pensée: Hạt nhân hợp lý của phép biện chứng Hégel (1965), Sự vận động của tín hiệu như là hình thức nguyên thủy của xác thực cảm quan (1966), Từ tác động định hướng đến hình ảnh điển hình (in ba kỳ trong năm 1969 – 1970)…; hoặc viết cho tạp chí La nouvelle critique: Từ hiện tượng học đến phép biện chứng duy vật của tri thức (in hai kỳ số tháng 1 và tháng 9/1975)…; hoặc viết tác phẩm cho nhà xuất bản Éditions sociales: Nghiên cứu về nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức (1973)… trong khoảng thời gian này, tác phẩm Hiện tượng học và phép duy vật biện chứng của ông viết năm 1951 đã được những nhà xuất bản ở Mỹ, Hà Lan, Anh, Ý dịch và tái bản; tác phẩm Nghiên cứu về nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức được nhà xuất bản Gondolat ở Budapest dịch ra tiếng Hunggary… Năm 1980, Trần Đức Thảo rời Hà Nội vào sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản của ông đem đi đã khiến nhiều người “ái ngại” vì không có gì ngoài… sách và những tập bản thảo viết dang dở! Tám năm sau, trong không khí đổi mới và mở cửa, Trần Đức Thảo cho in tác phẩm Vấn đề con người và chủ nghĩa “Lý luận không có con người” (NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 1988) đã gây được tiếng vang lớn trong công chúng, qua năm sau sách tái bản. Trong lần tái bản năm 1989, ông đã cho in phần “phụ lục” để tiếp tục trình bày thêm những ý kiến đóng góp của độc giả. Chẳng hạn, “1. Có ý kiến cho rằng: Phần lớn tác giả chỉ nêu ra, mà không lý giải thấu đáo các sự kiện” thì ông trả lời: “Trong một cuốn sách, không bao giờ có thể lý giải thật thấu đáo tất cả sự kiện. Chỉ có thể lý giải theo mục đích, trọng tâm của tác giả. Ở đây mục đích của tôi là chứng minh sự tồn tại của con người nói chung gắn liền với con người nói riêng. Quan điểm thống nhất con người nói riêng với con người nói chung là điều kiện cơ bản để đổi mới, dân chủ hóa, công khai hóa. Điều ấy được chứng minh trong kinh nghiệm cải tổ, đổi mới ở các nước anh em. Nói dân chủ hóa, thì trước hết có nghĩa là tôn trọng quyền con người. Ví dụ như quyền được bảo đảm an ninh, tự do thân thể, bìnhđẳng xã hội, là quyền của tất cả mọi người, quyền của con người nói chung – dĩ nhiên là thực hiện trong phạm vi pháp luật, liên hệ với những đặc điểm của mỗi người. Đồng thời dân chủ hóa có nghĩa là bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền hợp pháp của công dân. Mà công dân là tất cả mọi người trong xã hội, trừ những ai bị kết án tước quyền công dân. Quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp là nội dung của đời sống chính trị, và quan hệ chính trị thì bao giờ cũng cần thiết. Nhưng nếu quy tất cả vào chính trị thì sinh ra khó khăn trong nhiều lĩnh vực như: sản xuất hàng hóa, sinh hoạt chuyên nghiệp, hoạt động khoa học kỹ thuật, quan hệ đạo lý, quan hệ pháp lý v.v… Muốn dân chủ hóa trong những lĩnh vực này, thì tất nhiên phải có quan điểm con người, theo nghĩa thống nhất con người nói riêng với con người nói chung.

Công khai hóa là bảo đảm quyền được thông tin của tất cả mọi người, trừ những ai bị kết án tù, nhưng đấy là ngoại lệ. Quyền của tất cả mọi người có nghĩa là quyền của con người nói chung, dĩ nhiên cũng chỉ có thể thực hiện trong sự liên hệ với những đặc điểm của mỗi người nói riêng. Đổi mới cũng có nghĩa là xây dựng hòa bình vững chắc, dựa trên quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc. Mà nếu giữa các dân tộc không có gì chung về căn bản, nếu không có quan điểm con người nói chung thống nhất với con người nói riêng, thì không thể nào xây dựng hữu nghị giữa các dân tộc. Tóm lại, quan điểm con người, thống nhất con người nói riêng với con người nói chung, chính là cơ sở lý luận, để giải quyết cụ thể các vấn đề trong đổi mới, dân chủ hóa, công khai hóa. Mục đích của cuốn sách của tôi là xây dựng quan điểm con người như thế. Trong ấy trọng tâm là dứt khoát bác bỏ chủ nghĩa “không có con người nói chung” của Althusser và của các nhà triết học chiết trung thông cảm với Althusser. Đã từ 20 năm nay, tư tưởng Althusser là cái pháo đài lý luận kiên cố nhất bảo vệ chủ nghĩa quan liêu Stalin – Mao, ngăn chận mọi cố gắng đổi mới, phục hưng truyền thống nhân bản chân chính của các nhà sáng tạo chủ nghĩa Marx – Lénin. Thậm chí chủ nghĩa Althusser lại mọc ra một quái thai, là chủ nghĩa diệt chủng của bọn Polpot – Yêng Xari, giáo dục Khmer đỏ thành một đội cuồng tín giết người. Dĩ nhiên trong cuốn “Vấn đề con người…”, tôi chỉ lý giải mọi sự kiện trong phạm vi cần thiết, để thực hiện mục đích, trọng tâm như mới nói” (tr. 166 – 168).

Cuối đời

Giữa lúc sức viết đang hào hứng trở lại, thì nhà triết học Trần Đức Thảo ngã bệnh, năm 1992, ông được sang Pháp chữa bệnh và cũng là dịp ông lấy thêm tư liệu để viết công trình bằng tiếng Pháp Lô-gích của hiện tại sống động. Nhưng sách chưa hoàn thành thì ông mất tại Paris ngày 19/4/1993. Sau đó, thi hài ông được đưa về an táng tại nghĩa trang Văn Điển trong sự thương tiếc của mọi người. Ngày 28/4/1993, tại Hà Nội đã làm lễ truy điệu ông, với sự tham dự của GS Nguyễn Đức Bình – Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhiều lãnh đạo các bộ ngành… Từ năm 1995, NXB Khoa học Xã hội đã xuất bản các bài giảng của ông dưới tiêu để Lịch sử tư tưởng trước Marx; tác phẩm Nghiên cứu về nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức của ông do nhà xuất bản Éditions sociales in năm 1973, nay ông Đoàn Văn Chúc dịch ra tiếng Việt với tựa Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức (NXB Văn hóa Thông tin – 2000). Với công trình này, nhà triết học GS Trần Đức Thảo được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2) trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn cùng đợt với các nhà khoa học khác như Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Phạm Huy Thông, Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Tài Cẩn. Theo nhà sử học Trần Văn Giàu thì: “Nên đặt ra một Giải thưởng Trần Đức Thảo trao cho những công trình nghiên cứu triết học. Mình không có truyền thống triết học, nếu có thể nói có một nhà triết học thì người đó chính là Trần Đức Thảo” (Báo Văn nghệ nguyệt san số 1 (bộ mới) của Hội Nhà văn Việt Nam ra tháng 7/1993).

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Trần Đức Thảo

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)