Trùng Quang Đế (? – 1414)

Trùng Quang Đế (? – 1414)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Trùng Quang Đế ( ? – 3 tháng 5 năm 1414), tên húy là Trần Quý Khoáng (陳季擴, cũng chép là Trần Quý Khoách), là vị hoàng đế thứ hai đồng thời cũng là vị vua cuối cùng của nhà Hậu Trần. Ông là con của Trang Định vương Trần Ngạc (anh ruột vua Trần Thuận Tông) và là cháu nội vua Trần Nghệ Tông.

Thân phụ ông là Trần Ngạc từng giữ chức Thái úy nhưng bị Hồ Quý Ly sát hại vào năm 1391 khi chống đối quyền lực ngày càng lớn của họ Hồ. Như vậy, Trần Quý Khoáng sinh ra trong bối cảnh hoàng tộc Trần bị suy yếu nghiêm trọng, nhiều tôn thất lần lượt bị Hồ Quý Ly loại bỏ, và bản thân ông sớm chịu cảnh mồ côi cha vì biến cố chính trị.

Bối cảnh lịch sử

Cuối thế kỷ XIV, triều Trần rơi vào khủng hoảng trầm trọng, vua quan ăn chơi, chính sự rối ren, kinh tế suy sụp, ngoại bang uy hiếp. Hồ Quý Ly dần thao túng triều chính, ép Trần Thuận Tông thoái vị, lập con nhỏ là Trần An lên ngôi, rồi năm 1400 tự xưng hoàng đế, lập ra nhà Hồ.

Tuy có cải cách mạnh mẽ, nhà Hồ vấp phải nhiều phản đối trong nước và bị coi là thoán nghịch. Đây cũng là cái cớ để nhà Minh can thiệp. Tháng 9 năm 1406, lấy danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh huy động 80 vạn quân do Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ huy tiến vào Đại Việt. Chỉ trong chưa đầy một năm, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị bắt giải về Kim Lăng (1407), Đại Việt rơi vào ách đô hộ trực tiếp của nhà Minh.

Để kháng Minh, tháng 10 năm 1407, con vua Trần Nghệ Tông là Trần Ngỗi lên ngôi tại Mô Độ (Ninh Bình), lấy niên hiệu Giản Định, khôi phục cơ nghiệp nhà Trần và mở đầu nhà Hậu Trần. Tuy nhiên, triều đình non trẻ này nhanh chóng lâm vào rối ren nội bộ. Sau chiến thắng lớn tại Bô Cô (1408), Giản Định vì nghe lời gièm nịnh mà giết hại hai công thần Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Hành động này khiến lòng người ly tán, đặc biệt là Đặng Dung (con Đặng Tất) và Nguyễn Cảnh Dị (con Cảnh Chân) bất mãn, rời bỏ Giản Định.

Năm 1409, họ cùng lực lượng khởi nghĩa tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi, lấy niên hiệu Trùng Quang, tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Minh. Giản Định Đế bị giáng làm Thái thượng hoàng, song vẫn tham gia kháng chiến cho đến khi bị bắt và giết vào năm 1409.

Như vậy, Trùng Quang Đế bước lên ngôi trong hàn cảnh lịch sử đặc biệt, đất nước mất độc lập, nhà Hồ đã sụp đổ, nhà Trần khôi phục nhưng phân liệt, nhân dân cả nước oán hận ách thống trị tàn bạo của quân Minh. 

Sự nghiệp trị quốc

Lên ngôi và củng cố chính quyền

Ngày 17 tháng 3 âm lịch năm Kỷ Sửu (20/4/1409), Trần Quý Khoáng chính thức được tôn lập làm Hoàng đế tại Chi La (nay thuộc huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh). Ông lấy niên hiệu Trùng Quang (重光), đồng thời tiến hành bố trí triều chính: phong Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung giữ chức Đồng bình chương sự, và Nguyễn Chương làm Tư mã. Đây là bước đi quan trọng, đặt nền móng cho việc khôi phục cơ nghiệp họ Trần.

Khi ấy, Giản Định Đế Trần Ngỗi vẫn còn đang đóng quân ở thành Ngự Thiên. Trùng Quang sai Nguyễn Súy đem quân bất ngờ đánh úp, bắt được Giản Định. Ngày 7 tháng 4 âm lịch cùng năm, mẹ của Giản Định là Hưng Khánh Thái hậu đã liên kết với Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh khởi binh ở Hát Giang nhằm mưu toan đánh úp Trùng Quang. Tuy nhiên, việc bị phát giác nhờ Nguyễn Trạo ở Nghệ An đã cứu vãn tình thế. Trùng Quang chỉ xử tử Lê Triệt và Lê Nguyên Đỉnh, tha cho toàn bộ binh lính dưới quyền, thể hiện rõ tính khoan dung và cách hành xử khác biệt so với Giản Định.

Đối chiếu sự việc này, sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư đã nhận xét Trùng Quang hơn hẳn Giản Định về phẩm chất lãnh đạo. Nếu như trước đó Giản Định từng giết tới hơn 500 người theo Trần Nhật Chiêu và Trần Thúc Giao ở Diễn Châu (1407), thì Trùng Quang lại biết cách khoan hồng, chỉ xử phạt kẻ cầm đầu, còn binh sĩ thì vỗ về và tha thứ. Điều này không chỉ tránh làm mất lòng dân mà còn giữ được nhân tâm trong buổi đầu dựng nghiệp.

Ngày 20 tháng 4 âm lịch năm 1409, Giản Định bị áp giải về Nghệ An. Đích thân Trùng Quang Đế trong thường phục xuống thuyền đón, cung kính tôn Giản Định làm Thái thượng hoàng. Đây là hành động thể hiện sự khiêm nhường và khéo léo trong việc ổn định nội bộ. Về quốc hiệu, sử Việt không chép rõ tên nước dưới thời ông. Song, trong Hoàng Minh thực lục, triều Minh gọi ông là “ngụy hoàng đế Đại Việt”, cho thấy Trùng Quang vẫn dùng lại quốc hiệu Đại Việt, thay cho Đại Ngu vốn do nhà Hồ đặt ra.

Đến tháng 7 âm lịch năm 1409, Trùng Quang cùng Thượng hoàng Trần Ngỗi chia quân chống Minh: Thượng hoàng đóng ở Hạ Hồng (Hải Dương), còn Trùng Quang đóng tại Bình Than. Hai bên được nhiều hào kiệt hưởng ứng, nhưng tri phủ Tam Giang là Đỗ Duy Trung vẫn theo Minh. Khi Tổng binh Trương Phụ được điều sang cứu viện, quân Minh mạnh lên, Thượng hoàng rút chạy về Thiên Quan. Trùng Quang nghi ngờ ông có ý đồ khác, sai Nguyễn Súy đuổi theo nhưng không kịp. Cuối cùng, Trương Phụ bắt được Thượng hoàng, giải về Kim Lăng và xử tử.

Đến tháng 8 âm lịch, Trùng Quang trực tiếp đối đầu với Trương Phụ tại Bình Than. Ông sai Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử. Do thiếu lương, Đặng Dung buộc phải cho quân ra gặt lúa sớm để nuôi binh. Trương Phụ nhân lúc này đem thủy quân đánh úp, quân Hậu Trần đại bại. Nhận thấy thế không chống nổi, Trùng Quang buộc phải lui quân về Nghệ An để giữ căn cứ.

Kháng chiến chống quân Minh

Sau khi dẹp yên một số cuộc khởi nghĩa đầu tiên, nhà Minh quyết tâm thiết lập sự thống trị lâu dài tại Đại Việt. Năm 1410, Tổng binh Trương Phụ cho mở đồn điền tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Tam Giang nhằm tự túc lương thực, đồng thời ban ruộng đất cho thổ quan đã đầu hàng để họ thu tô, lại chia đất cho binh lính cày cấy. Chính sách vừa “dụ hàng” vừa “khủng bố” được thực hiện hết sức tàn bạo. Sử cũ chép rằng:

“Phụ đi đến đâu, giết chóc rất nhiều, có nơi thây chất thành núi, có chỗ moi ruột quấn vào cây, hoặc rán thịt lấy mỡ, hoặc nướng đốt làm trò, thậm chí có đứa mổ bụng lấy thai, cắt lấy hai cái tai để nộp theo lệnh…”

Cùng với đó, triều Minh còn ban thưởng công trạng cho những thổ quan và hàng tướng người Việt, khiến một bộ phận phản bội quay lại đàn áp chính dân tộc mình. Trong bối cảnh gian nan ấy, Trùng Quang Đế cùng tướng sĩ vẫn kiên cường tiếp tục chiến đấu.

Tháng 5 năm 1410, nhà vua cùng Nguyễn Cảnh Dị tiến quân tới La Châu, Hạ Hồng, đánh bại cánh quân Minh của Giang Hạo rồi truy kích đến Bình Than, đốt phá trại thuyền. Các hào kiệt nhiều nơi hưởng ứng, nổi bật có Đồng Mặc ở Thanh Hóa, lập công bắt sống tướng Minh Tả Địch. Tuy nhiên, vì quân Hậu Trần chưa được tổ chức chặt chẽ, các thắng lợi bước đầu không thể giữ vững, buộc vua phải rút về Nghệ An.

Năm 1411, Trùng Quang Đế cùng Nguyễn Súy tiếp tục chia quân đánh các cửa biển, bắt và xử chém thổ quan Nguyễn Chính theo Minh ở Bài Lâm để răn đe. Để củng cố lực lượng, vua gả chị gái là Quốc tỷ Trưởng công chúa cho Hồ Bối, phong làm Tư đồ, sai đem quân phối hợp chống giặc ở Thanh Hóa.

Song song với quân sự, triều đình Hậu Trần từng thử con đường ngoại giao. Nhiều sứ bộ được cử sang triều Minh cầu phong, nhưng phần lớn bị giết hoặc bị lợi dụng dò la tình hình. Đặc biệt, Hồ Ngạn Thần vì tiết lộ cơ mật quốc gia mà bị Trùng Quang xử tử, thể hiện quyết tâm bảo vệ đại nghĩa.

Năm 1412, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem đại quân đánh vào Nghệ An, giao tranh ác liệt tại Mô Độ (Ninh Bình – Nam Định). Quân Hậu Trần do thiếu lương thảo, nội bộ chia rẽ nên lần lượt tan rã. Sang đầu năm 1413, Trùng Quang Đế cùng các tướng mở cuộc tập kích ra vùng biển Vân Đồn, Hải Đông, nhưng tổn thất nặng nề, quân chỉ còn một phần ba.

Cùng thời gian ấy, nhiều phong trào khởi nghĩa địa phương nổi lên như của Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn (quân “áo đỏ”) hay Nguyễn Liễu ở Lý Nhân. Tuy nhiên, do thiếu sự liên kết với triều đình, các lực lượng ấy lần lượt bị dập tắt.

Tháng 4 năm 1413, Trương Phụ lại đánh vào Nghệ An. Nguyễn Biểu được cử đi cầu phong nhưng bị Phụ giết hại sau khi dũng cảm mắng thẳng vào mặt kẻ thù. Cũng trong năm, gián điệp do thổ quan đầu hàng cung cấp khiến Trương Phụ nắm rõ tình hình Hóa Châu, căn cứ cuối cùng của Hậu Trần.

Tháng 9, Nguyễn Súy và Đặng Dung dàn trận tại kênh Thái Đà. Trong đêm, Đặng Dung dùng voi đánh úp, suýt bắt sống Trương Phụ, khiến quân Minh đại bại, thuyền chiến bị đốt phá quá nửa. Nhưng vì không được hợp sức, quân Hậu Trần yếu thế, cuối cùng phải rút lui. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị sau đó bị bắt; Cảnh Dị hiên ngang mắng thẳng Trương Phụ rồi bị giết hại dã man.

Dẫu cuối cùng thất bại, cuộc khởi nghĩa Hậu Trần vẫn để lại tấm gương sáng về lòng trung nghĩa. Đặng Dung, Nguyễn Súy cùng bao tướng sĩ đã năm năm trời tận lực kháng chiến, ý chí không hề lay chuyển, khí tiết còn sáng mãi về sau.

Gia quyến

Cha mẹ: Trang Định vương Trần Ngạc. Mẹ không rõ tên tuổi.

Nguyên phối: Đại Việt sử ký toàn thư chép Trùng Quang Đế có một bà phi mất vào tháng 6 năm 1409.

Anh chị em: Có chị gái là Quốc tỷ Trưởng công chúa, được gả cho Hồ Bối, một hào kiệt ở Hóa Châu để kết minh chống quân Minh.

Cuối đời – thờ phụng

Đầu năm 1414, Trùng Quang Đế phải lui về Hóa Châu, rồi chạy sang Lào. Tháng 4 cùng năm, ông cùng các tướng bị bắt. Trên đường giải về phương Bắc, nhà vua đã gieo mình xuống biển tuẫn tiết, nêu gương bất khuất. Hai trung thần Đặng Dung, Nguyễn Súy cũng lần lượt tuẫn tiết.

Trùng Quang Đế được nhân dân tưởng niệm và thờ phụng tại nhiều nơi, gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân Minh đầy gian khổ của triều Hậu Trần. Nổi bật nhất là đền Hậu Trần trên đất Mô Độ xưa, nay thuộc thôn La, xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Tại đây thờ phụng hai vị vua của triều Hậu Trần là Giản Định Đế và Trùng Quang Đế, đồng thời phối thờ công thần Trần Triệu Cơ, một trong những bề tôi trung nghĩa có công phò tá. Hằng năm, từ ngày 12 đến ngày 13 tháng 3 âm lịch, nhân dân mở lễ hội đền La để tưởng nhớ các bậc anh hùng thời Hậu Trần, trong đó có Trùng Quang Đế.

Ngoài Ninh Bình, dấu tích về Trùng Quang Đế còn hiện diện ở Nghệ An, nơi ông từng đặt căn cứ kháng chiến. Lăng mộ Trùng Quang Đế hiện nay tọa lạc tại xóm Đức Thịnh, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh. Đây là nơi nhân dân tưởng niệm vị vua anh hùng, người đã chọn cái chết oanh liệt khi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thất bại. Sử sách và dân gian đều ghi nhận rằng, dù nước mất, nhưng sự hy sinh của ông đã để lại thông điệp mạnh mẽ về người Minh có thể chiếm được đất nước, song không bao giờ khuất phục được tinh thần quật cường của dân tộc Việt.

Nhận định – đánh giá 

Về Trùng Quang Đế, có thể thấy trong sử sách và lời bàn của các sử thần đời sau đều rất coi trọng tinh thần kháng chiến, lòng trung nghĩa cũng như nhân cách của ông.

Sử thần Ngô Sĩ Liên dưới triều Lê Thánh Tông đã dành những lời lẽ chân thành ca ngợi Trùng Quang Đế. Ông cho rằng vua tuy gặp cảnh thời loạn, thế lực suy yếu, cơ đồ họ Trần đã đến lúc không còn được thiên mệnh phù trợ, nhưng vẫn một lòng vì xã tắc mà dốc chí khôi phục. Ngô Sĩ Liên so sánh nỗ lực ấy như một người lấy cây gỗ nhỏ chống giữ ngôi nhà lớn đã sụp đổ, biết trước là vô vọng nhưng vẫn phải gắng làm cho trọn đạo vua. Điểm sáng lớn nhất trong nhân cách Trùng Quang Đế, theo Ngô Sĩ Liên, chính là khi thất bại, bị giặc Minh bắt đem về phương Bắc, ông giữ nghĩa khí, không chịu khuất phục, quyết liệt nhảy xuống biển tuẫn tiết. Hành động này được ông xem như khuôn mẫu của một bậc quân vương: “quốc quân chết vì xã tắc”, xứng đáng để muôn đời ca ngợi. Đồng thời, Ngô Sĩ Liên còn tôn vinh khí tiết của các bề tôi như Phan Đình Cảnh Dị, Nguyễn Biểu, xem đó là những tấm gương trung nghĩa đi cùng với cái chết của vua, đối lập hoàn toàn với những kẻ phản bội như Hồ Ngạn Thần, Phan Liêu.

Đến thời Lê Trung hưng, sử thần Ngô Thì Sĩ cũng có nhận định Trùng Quang Đế tuy có chí lớn, quật khởi để mưu khôi phục, nhưng lực lượng quá yếu, địa bàn kiểm soát hạn hẹp, chỉ còn trông cậy vào một dải đất Nghệ – Diễn hiểm trở. Những trận thắng lẻ tẻ ở La Tân, Bình Than không thể bù đắp cho những thất bại nặng nề ở Linh Trường, Nguyệt Thường. Các tướng như Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị tuy quyết tâm không lùi, song cục diện vẫn bất lợi, cuối cùng nhà Hậu Trần không tránh khỏi diệt vong. Ngô Thì Sĩ coi cái chết bị bắt ở đất Lão Qua (Lào) của Trùng Quang Đế là bi thương, song đồng thời cũng bày tỏ sự cảm thông cho số phận bất hạnh của một vị vua khởi nghĩa trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn.

Ngoài phương diện chính trị – quân sự, Trùng Quang Đế còn để lại dấu ấn trong lĩnh vực văn học. Ông là vị vua yêu thích văn chương, đặc biệt là thơ chữ Nôm. Những tác phẩm của ông có ngôn từ sáng sủa, tinh thần phóng khoáng, đề cao khí phách dân tộc và đạo lý thượng võ. Bài thơ tiễn Nguyễn Biểu đi sứ hay bài văn tế sau khi Nguyễn Biểu hi sinh cho thấy lòng cảm phục của vua đối với bề tôi trung nghĩa, đồng thời phản ánh nhân cách cao đẹp của chính ông.

Tổng thể, cả sử thần thời Lê sơ lẫn Lê Trung hưng đều nhìn nhận Trùng Quang Đế như một vị minh quân bất hạnh. Ông không phải là người có cơ đồ lớn mạnh để thành công, nhưng vẫn được hậu thế ca ngợi bởi lòng trung quân ái quốc, sự bất khuất trước ngoại bang, và tấm gương hi sinh trọn đạo với xã tắc. Chính vì thế, Trùng Quang Đế trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần kháng Minh đầu thế kỷ XV, được nhân dân nhớ đến không chỉ như một vị vua thất bại, mà còn như một anh hùng giữ trọn khí tiết của nhà Trần và dân tộc Việt.

Tài liệu tham khảo 

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Ngô Thì Sĩ (1991), Việt sử tiêu án, Nxb Văn Sử.
  6.  Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)