Vương họ Từ, tên là Mục, giúp Lê Đại Hành hoàng đế. Năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Thiên Phúc thứ 3 (982), vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh đi sứ Chiêm Thành, hai ông bị bắt. Nhà vua đích thân đem quân đi đánh Chiêm Thành, thắng trận, ông được trở về kinh sư. Năm Bính Tuất, niên hiệu Thiên Phúc thứ 7 (986), làm Tổng quản Tri quân dân sự, có công, vua ban cho tước hầu. [8a] Năm Canh Tý, năm thứ 9 (1000)1, vua sai làm thống tướng đi tuần biên giới ngoài biển, các chốn biên thùy đều sợ uy. Trải được các triều phong tặng Bính trung Tráng tiết Đại vương.
Bên hồ ở phường Quảng Bố xưa kia có ngôi miếu nhỏ phụng thờ: Minh Khiết Dực thánh Tôn thần, Bảo Trung Cương đoán Tôn thần, Triều Đình Phù quốc Tôn thần. Ba vị đều là thủy thần thời xưa.
Vua đời thứ hai nhà Lý xa giá đến hồ Dâm Đàm săn voi. Một hôm, gặp mưa gió lớn mới vào trong phường Nghi Tàm, phụ lão nhân dân trong thôn bưng tiến sản vật theo mùa dâng vua. Vua thấy điện vũ hỏng nát mới hỏi phụ lão, sau ban tiền của cho tu sửa. Từ đó đền thần, chùa Phật được xây dựng, việc thấu lên tận trên cao, lại có sắc ban. Đến khi nhà vua băng hà, người dân cảm công đức hàng năm tiến lễ. Được vài năm sau, người dân có lễ cầu an, túc trực ở trong miếu, trưởng lão đến đêm mộng thấy vương xa giá đến các miếu báo cáo rằng lấy duệ hiệu ba thần là Tây Hồ Thủy thần. Người trong thôn cầu đảo nhiều lần hiển ứng. Trải các triều đại đều được phong tặng là Tối linh Thượng đẳng. Đền thờ ở phường Nghi Tàm và phường Quảng Bố hàng năm đều có phụng thờ, hương hỏa không dứt.
Phường Quảng Bố vẫn như trước, phụng thờ Thượng Thụy thần miếu, vốn hiệu là thủy thần. Nhân dân trong phường tu tạo một ngôi đền, phía trước hướng về sông lớn, phía sau có cổ thụ xum xuê. Các khách buôn đi thuyền qua lại đều có cầu cúng, quả là được linh dị. Thời Lý Nhân Tông, có lần du thuyền rồng đến Vân Đàm, đi qua chỗ sông trước miếu, quạt vàng đang cầm trong tay bị rơi xuống nước sông, vua mới sai quân dân đem lưới ra tìm vớt lên, nhưng không được, liền hỏi phụ lão nhân dân trong phường. Nhân dân tâu đủ thần hiệu. Ngày hôm đó, nhà vua đốt hương cầu đảo, trong chốc lát, nước sông phẳng lặng, rồi thấy cái quạt vàng nổi lên ở trên mặt nước. Lý Nhân Tông được cái quạt vàng, rất là vui mừng, gia ân ban thưởng các phẩm vật, sai thần dân bái yết thần, phong tặng cho thần là Cẩn Giang Đại vương.
Nhân dân cứ có việc gì là đến miếu cầu đảo, đều được linh ứng. Nhân [96] đó chép lại chuyện này.
Ngày lành tháng 12 năm Chính Hòa thứ 2 (1681)
Quan viên bản phường là Vũ Tông Phụ, phường trường là Lưu Quang Thể.
Thanh hình Hiến sát sứ, Ty Hiến sát sứ các xứ Sơn Tây là Lưu Bá Đạt phụng ban.
Canh Dần khoa Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân Công phủ Tư [10a] nghị Nguyễn Quang Thọ, Sinh đồ Lưu Quang Thức, Phường chánh Lưu Công Vọng cùng toàn dân trong phường sửa soạn ghi chép theo lời kể sự tích và những ghi chép còn giữ của dân phường. Về sau, con cháu trong phường cứ thấy giấy viết cũ nát, thì phải chép lại y như trước để lưu giữ, truyền tụng mãi mãi, không được để lẫn lộn.
Đến nay, năm Gia Long thứ 9 (1810) triều Nguyễn, lại phụng chỉ tặng cho bản phường mang những sự tích còn ghi lại đã lâu, sai soạn chép ra tờ giấy mới để giữ mãi truyền tụng y như di ngôn của đời trước.
Chú thích:
Nguồn: “Từ Tống Quản Sự Ký”, trích trong Thần tích phường Quảng Bá, ký hiệu AE.a2/38, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.