Văn Cao (1923 – 1995)

Thông tin cơ bản

Bối cảnh lịch sử

Hiện nay, Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, được Quốc hội thông qua, đã quy định cho Tiến quân ca làm Quốc ca. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, từ bao giờ quốc ca Việt Nam đã xuất hiện? Trong tạp chí Văn học chủ đề “Tìm hiểu quốc kỳ và quốc ca Việt Nam” (15/7/1972), nhà báo Phan Kim Thịnh căn cứ vào tài liệu do nhạc sĩ Lê Thương cung cấp, đã cho biết: “Quốc kỳ từ thuở dựng nước chúng ta có thể tạm hiểu là những lá cờ vàng do vua chọn và dùng trong khi dẹp giặc xâm lăng, nhưng riêng quốc ca quả thật không có bài nào từ thời Hồng Bàng đến triều Nguyễn. Cho đến năm 1926, Bảo Đại lên nối ngôi Khải Định và trị vì ngôi vua nhưng cũng không chọn ca khúc nào làm quốc ca. Đến năm 1933, Pháp mở cuộc đấu xảo thuộc địa ở Paris. Việt – Miên – Lào có một khu vực riêng để triển lãm, gọi là khu vực Đông Pháp. Ngày khai mạc mà nước Việt ta không có bài quốc thiều để cử, thì “coi sao được” nên người đội trưởng phường quân nhạc của Nam triều lúc bấy giờ là thầy đội Tú, mới lấy bài “Đăng đàn cung” mà ký âm theo nhạc Tây Phương. Mãi đến khi tàu vào Hồng Hải việc này mới xong. Thầy đội Tú đem trình cùng nhạc trưởng của mình là ông Fournier. Ông này mới hòa âm “Đăng đàn cung” rồi hướng dẫn đội nhạc tập dượt. Và ngày khai mạc cuộc đấu xảo, bản La Marseillaise vừa dứt thì đội nhạc Việt cử bài “Đăng đàn cung” trong đó có những câu như:

Kìa núi vàng bể bạc
Có sách trời, sách trời định phân…

Đội nhạc đã giới thiệu đây là bản quốc thiều của “Đế quốc An Nam”. Và cũng từ đó, bài “Đăng đàn cung” nghiễm nhiên trở thành quốc thiều của Việt Nam, dù không có ban hành đạo dụ nào quy định. Cho đến năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ngày 8/5/1945, Thủ tướng Trần Trọng Kim mới ký sắc lệnh ấn định bài “Đăng đàn cung” của triều Nguyễn làm quốc thiều. Nhưng đến năm 1946 tại Nam Kỳ có một chính phủ riêng gọi là “Nam kỳ quốc” có quốc kỳ riêng nên họ cũng phải có quốc ca riêng. Cái bản nhạc họ chọn quốc ca là 4 câu thơ rút trong tập Chinh phụ ngâm và họ đặt tựa “Thuở trời đất”. Sau đó ít lâu chính phủ Nam kỳ lại lấy bài “Thỏa tâm tình” của ông W.Lúa làm quốc ca cho Nam kỳ quốc”. Thiết tưởng cũng nên biết qua cái quái thai Nam kỳ quốc. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để đưa Tổ quốc bước vào “cuộc tái sinh kỳ diệu”. Thì trong thời điểm này, thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ âm mưu tái chiếm lại nước ta. Nam kỳ – vị trí chiến lược quan trọng nhất Đông Dương – được chọn là mục tiêu đầu tiên. Chiếm được Nam kỳ thì có nhiều cớ hơn để xâm lấn toàn Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia. Nhân vật Jean Cédille đóng vai “đại diện của tổng Cao ủy Pháp ở miền nam Đông Dương” đến Sài Gòn. Y nhanh chóng khai quật lại thây ma “Hội đồng tư vấn Nam kỳ” vào ngày 4/2/1946, trong đó, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được y chọn làm “ách chủ bài”. Từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, nhân cuộc họp trù bị Pháp – Việt được nhóm họp tại Đà Lạt để tiến tới cuộc đàm phánchính thức giữa chính phủ Pháp và chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì Jean Cédille phái thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân sang Pháp vận động tranh thủ sự ủng hộ với chủ trương “Nam kỳ tự trị”. Ngay sau khi Xuân về nước, Jean Cédille nhanh chóng thúc đẩy “nước Cộng hòa tự trị Nam kỳ”ø ra đời, càng sớm càng tốt, phải diễn ra trước lúc cuộc đàm phán cao cấp Pháp – Việt được tiến hành ở Fontainebleau. Rõ ràng, thực dân Pháp muốn đặt cuộc đàm phán trước “sự đã rồi”. Thật vậy, chính phủ Nam kỳ tự trị đã ra mắt tại Sài Gòn vào ngày 1/6/1946, dù nó vấp phải làn sóng phản đối dữ dội từ Nam chí Bắc. Quái thai này đã chọn mấy câu thơ ai oán, não ruột trong Chinh phụ ngâm:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Mây kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này…

để “chế biến” thành… quốc ca (!) như ta đã biết. Thủ tướng bù nhìn Nguyễn Văn Thinh sau một thời gian bước ra sân khấu chính trị, do Pháp giật dây từ phía sau hậu trường, đã tự thú: “Tôi bị người ta ép buộc đóng một trò hề” và đã tự xử: Vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, ngày 9/11/1946, đốc phủ Lộc, thư ký riêng của Thinh đến gõ cửa phòng nhưng không thấy mở. Khi nậy được cánh cửa thì mọi người hoảng hồn khi thấy Thinh đã chết, ngang họng buộc một sợi đồng! Đôi mắt Thinh nhìn trừng trừng vào trang sách thuốc đang lật đến trang viết về thắt cổ! Khi Thinh chết, nhìn thấy tấn tuồng “chính phủ Nam kỳ tự trị” đang hấp hối, thực dân Pháp vội vã đưa chức thủ tướng qua tay Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, rồi Nguyễn Văn Tỉ. Và cái bài “quốc ca” ngớ ngẩn, ảo não kia cũng thay đổi bằng bài “Thỏa tâm tình” mà “chất lượng” của nó, nhạc sĩ Lê Thương nhận xét: “Nghe như một lối ngâm thơ có nhịp đàn Tây. Nó có vẻ bình dân, dễ nhớ và hạp với con nít hơn”. Tất nhiên, những trò nhố nhăng chính trị của Nam kỳ quốcđã sụp đổ nhanh chóng trong cơn lốc toàn dân đứng lên đánh Pháp.

Thân thế

Trước thời điểm “dầu sôi lửa bỏng” ấy của lịch sử, tại Hà Nội, một người nghệ sĩ tài hoa đang nung nấu một ca khúc – mà hiện nay đã chính thức trở thành Quốc ca của nước Việt Nam thống nhất. Đó là nhạc sĩ Văn Cao, họ Nguyễn, sinh ngày 15/11/1923 trong một gia đình công nhân nghèo tại một vùng đất mà sau này trong trường ca Những người trên cửa biển, ông viết: “Sinh tôi ra đã có Hải Phòng/ Đầu nhà mới trồng cây mận/ Bãi sú bồi thành bến/ Nhà máy xi măng đã dựng bên sông/ Tôi nghe tiếng hát mẹ chiều ru võng/ Những ca dao của đồng lúa quê hương/ Những dáng cò lặn lội/ Những cánh cò bồng bế tôi đi/ Những bóng cò trắng như giấc mộng/ Đưa võng đời tôi những chiều dĩ vãng/ Sáng trưa u ú còi tầm/ Đêm dài nghe mưa dầm dãi…”. Sinh tại Hải Phòng, nhưng quê gốc của ông ở thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản (Nam Định). Thuở nhỏ, Văn Cao không được học âm nhạc một cách chính quy, chỉ với hiểu biết ít ỏi đã học tại trường dòng Thiên chúa giáo, Văn Cao đã mày mò tự học. Ca khúc đầu tiên của ông là Buồn tàn thu viết cuối năm 1939 tại Hải Phòng với giai điệu, ca từ thật sang trọng: “Ai lướt đi ngoài sương gió. Không dừng chân đến em bẽ bàng. Ôi vừa thoáng nghe em mơ bước chân chàng. Từ từ xa đường vắng. Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rơi rớt theo lá vàng…” May mắn, sau khi viết xong, nhạc sĩ Phạm Duy đã đem phổ biến nhiều nơi, nhờ vậy nhiều người đã biết đến ca khúc này. Sau đó, Văn Cao đã làm một chuyến “giang hồ” vào phía Nam. Tại Huế, mùa thu xanh mướt dưới vòm cây long não, lang thang trên cố đô, ông đã viết bài thơ đầu tiên Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, trong đó có những câu man mác lạ thường:


Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi!
Từng canh trời điểm một sao rơi
Tà tà trăng lặn hiu hiu gió
Ánh lửa chài xa thấp thoáng trời

Sự nghiệp sáng tác

Nét đẹp huyền ảo, mơ màng của Huế đã gợi hứng cho ông viết ca khúc Trên sông Hương, nhưng do cảm xúc chưa chín nên nó chìm vào quên lãng. Sau này, khi quay trở lại Hải Phòng, cảm hứng sông Hương vẫn chưa nguôi ngoai trong trí nhớ, nhờ vậy, cuối năm 1941 Văn Cao đã có tuyệt phẩm Thiên thai: “Tiếng ai hát chiều nay trên sóng. Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc lối tới Đào nguyên. Kìa đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên theo tiếng đàn xao xuyến…”. Độ chín của tài năng Văn Cao tiếp tục tỏa sáng qua các ca khúc Cung đàn xưa, Suối mơ, Bến xuân (còn có tên Đàn chim Việt), Trương Chi, Thu cô liêu… Cũng trong thời gian này, ông tham gia nhóm Đồng Vọng do Hoàng Quý chủ xướng. Đây là nhóm bạn có Văn Cao, Hoàng Quý, Hoàng Phú, Phạm Ngữ… cùng chung tôn chỉ là sáng tác cho thanh niên Hướng đạo sinh các ca khúc có chủ đề ca ngợi giang san gấm vóc, ca ngợi anh hùng trong lịch sử, khơi dậy tinh thần hào hùng bất khuất của dân tộc Việt… Văn Cao đã viết được nhiều hành khúc húng tráng như Vui lên đường, Thăng Long hành khúc, Gò Đống Đa…

Khoảng năm 1942, Văn Cao rời Hải Phòng để lên Hà Nội học dự thính trường Mỹ thuật Đông Dương. Thời gian này, ông viết khá nhiều thơ, truyện ngắn, kịch in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy. Nhà văn Vũ Bằng nhớ lại Văn Cao lúc ấy: “Anh bé nhỏ, ốm như Thâm Tâm mà cũng cao hơn Thâm Tâm một chút, da hơi tai tái. Tóc anh xõa xuống trán như một cái lưỡi trai, bơ phờ rũ xuống đến gần cặp lông mày hơi rậm, mũi cao, tiếng nói rụt rè và nhỏ”. Sự quan sát này có lẽ đúng, năm 1994, khi đến thăm Văn Cao tại nhà riêng 108 Yết Kiêu (Hà Nội) thì tôi vẫn thấy hình ảnh tương tự: ông gầy guộc, râu tóc bạc trắng, bàn tay hằn lên những đường gân xanh. Tôi cầm bàn tay ấy, lạ thay, lòng bàn tay lại ửng hồng như màu của hoa sen với những đường chỉ tay chằng chịt…

Có lẽ nhận thấy các loại hình nghệ thuật trên vẫn chưa thỏa mãn được cảm hứng sáng tạo nên Văn Cao bắt đầu hướng về hội họa. Bức tranh sơn dầu đầu tiên của ông vẽ năm 1942 tại Hà Nội, được đặt tựa dữ dội Cuộc khiêu vũ của những người tự tử, đã tạo cho người xem cảm giác lạ lùng về bút pháp, màu sắc. Trong năm tháng này, tình hình chính trị tại Đông Dương ngột ngạt, báo hiệu cơn giông tố sẽ nổ ra trong nay mai. Hội Văn hóa cứu quốc của Việt Minh đã được thành lập từ tháng 4/1943, Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết Đề cương văn hóa Việt Nam và thu hút được nhiều trí thức yêu nước như Vũ Quốc Uy, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Trần Huyền Trân, Như Phong, Nam Cao…

Với trường hợp Văn Cao thì lúc ấy ông đang bơ vơ, chưa biết mình phải làm gì để thoát khỏi tù túng của đời sống đang rệu rã từng ngày. Phát xít Nhật đã hất chân, tước khí giới của Pháp ở Đông Dương, chúng thi hành một chính sách khắc nghiệt bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, nhổ ngô trồng thầu dầu… vì thế người chết đói nhiều vô kể. Hàng ngày đứng trên căn trọ tồi tàn ở xóm cô đầu Vạn Thái – mà ông gọi là phường Dạ Lạc (đêm vui) – chứng kiến những chiếc xe kéo xác người chết đi qua, ông đã viết bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ lạc, vừa căm phẫn vừa não nùng, đã phản ánh tâm trạng chán chường, não nề của ông trước thời cuộc: “Giẫy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời/ Ta về gác chiếu chăn gào tự tử/ Trên đường tối khỏa thân khiêu vũ/ Kèn nhịp xa điệu múa vô luân/ Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm/ Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc/ Kiếp người tang tóc/Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương/ Một nửa kêu than, ma đói sa trường/ Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc/ Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác/ Đi vào ngõ khói công yên…”.

Đứng trước đau thương của dân tộc, chẳng lẽ người nghệ sĩ phải bất lực buông tay ư? Không riêng gì Văn Cao mà các trí thức khác cũng đang cựa quậy tìm kiếm một lối thoát. Họ không biết, từ tháng 3/1945, Hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) dưới sự chủ trì của ông Trường Chinh đề ra chủ trương “Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”. Và Văn Cao chỉ biết đến một cuộc tổng khởi nghĩa vĩ đại sẽ nổ ra trong nay mai, khi ông được một cán bộ Việt Minh giác ngộ. Đó là ông Vũ Quý, người đã nhiều năm theo dõi hoạt động nghệ thuật của Văn Cao và có những tác động tích cực để hướng một tài năng lớn đi theo cách mạng.

Nhờ vậy, sau khi tham gia triển lãm duy nhất với ba bức tranh Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa, Cuộc khiêu vũ của những người tự tử, Văn Cao đã là người của tổ chức. Ông được giao nhiệm vụ phụ trách ấn loát ở cơ quan Phan Châu Trinh, in sách báo và truyền đơn bí mật; phụ trách Đội Danh dự trừ gian. Hoạt động cách mạng đã đem đến cho ông nguồn cảm hứng để viết nên một ca khúc bất tử. Ngày 7/7/1976, ông có viết bài “Tại sao tôi viết Tiến quân ca” – đây là một văn bản quan trọng giúp cho hậu thế hình dung hoàn cảnh thai nghén và ra đời của Quốc ca nước Việt Nam: “Sau triển lãm Duy nhất 1944 (Salion unique), tôi trở về một căn gác hẹp đầu phố Nguyễn Thượng Hiền. Ba bức tranh sơn dầu của tôi, tuy được trưng bày vào chỗ tốt nhất của phòng tranh – Nhà Khai trí Tiến đức – và được các báo chí khen ngợi nhưng cũng không bán nổi. Hy vọng về cuộc sống hội họa, tại Hà Nội không thể thực hiện được. Anh bạn nhường cho tôi căn gác ấy, là người đã xuất bản mấy bản nhạc đầu tiên của tôi, cũng không thấy nói đến việc trả tiền nhuận bút về các bản nhạc tôi viết hồi đó, dù đã trình diễn nhiều lần ở các tỉnh từ Bắc tới Nam, tôi cũng không nhận được tiền nhuận bút về thơ và truyện ngắn.

Đối với cây bút trẻ, việc đăng báo là một vinh dự. Người ta phải đi mua báo và còn mua thêm nhiều tờ để tặng người yêu, tặng bạn thân. Hàng ngày tôi nhờ mấy người bạn họa sĩ nuôi cơm và giúp đỡ phương tiện cho làm việc. Cuộc sống lang thang đó không thể kéo dài nhiều ngày. Muốn tìm việc làm, thì không có chỗ. Hà Nội lúc ấy đang đói. Tin từ Hải Phòng lên, cho biết mẹ tôi, các em và các cháu tôi đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Phòng, dọc đường đã để lạc mất đứa cháu gái con anh cả tôi. Nó mới lên 3. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi tìm cách giúp đỡ. Năm ấy rét hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và ký họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

Tôi đã gặp lại đồng chí Vũ Quý. Anh là người vẫn theo dõi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc, Tiếng rừng và một số ca khúc khác. Chúng tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu ăn. Ở đây quyết định một cuộc đời mới của tôi. Câu chuyện giữa chúng tôi thật hết sức đơn giản.

– Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

– Được.

– Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác và nhận phụ cấp hàng tháng.

Ngày hôm sau, anh đưa tôi lại nhà một đồng chí thợ giày ở đầu ngõ chợ Khâm Thiên để ăn cơm tháng và cho quyết định về công tác. Đây là lần đầu tiên chấm dứt cuộc sống lang thang của tôi.

Vũ Quý đến tìm tôi và giao công tác.

– Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, phải dùng những điệu hướng đạo. Khoá quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hãy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta.

Phải làm như thế nào đây? Chiều hôm đó tôi đi dọc theo đường phố ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen, tôi cố tìm một cái gì để nói. Tìm một âm thanh đầu tiên. Những đường phố quen thuộc ấy thường không vang một âm thanh gì hơn những tiếng nghe buồn bã hàng ngày. Hôm nay phố đông người hơn, và lòng tôi thấy vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động gì có thể là mạo hiểm hy sinh, chứ không chuẩn bị để quay lại làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này. Tôi đi mãi lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng, loang trên hồ lạnh. Họ đang đun một thứ gì trong một ống bơ sữa bò. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái. Nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt mèo con. Cháu bé không có mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nhìn mấy người lớn sưởi lửa. Hình như nó không phải là con cái số người đó.

Hình như nó là đứa trẻ bị lạc cũng không phải là cháu tôi. Nó đã chết thật rồi. Có thể nó đã nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định – Hải Phòng. Tôi bỗng trào nước mắt, và quay đi. Đêm ấy về căn gác, tôi đã viết được nét nhạc đầu tiên của bài Tiến quân ca.

Bài hát Tiến quân ca

Bài hát đã làm trong thời gian không biết bao nhiêu ngày, tại căn gác hẹp số 45 Nguyễn Thượng Hiền, bên một cái cửa sổ nhìn sang căn nhà 2 tầng, mấy làn cây và một màn trời xám. Ở đây thường vọng lên những tiếng xe bò chở xác người chết đói về phía Khâm Thiên. Ở đây hàng đêm, mất ngủ vì gió mùa luồn vào tung khe cửa, vì tiếng đánh chửi nhau của một gia đình anh viên chức nghèo khổ, thiếu ăn, vọng qua những khe sàn gác hở. Ở đây tôi hiểu thêm nhiều chuyện đời. Ở đây đêm đêm có những tiếng gõ cửa, những tiếng gọi đêm không người đáp lại.

Tin từ Nam Định lên, cho biết mẹ tôi và các em đã về quê và đang đói. Họ đang phải tìm mọi cách để sống qua ngày, như mọi người đang chờ đợi một cái chết thật chậm, tự ăn mình như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ chiều hôm. Tất cả đang chờ đợi tôi tìm cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào. Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và chưa biết họ hát như thế nào. Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị, cho họ có thể hát được.

Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa…

Và ngọn cờ đỏ sao vàng bay giữa màu xanh của núi rừng. Nhịp điệu ngân dài của bài hát, mở đầu cho một tiếng cồng vang vọng.
Đoàn quân Việt Nam đi

Sao vàng phất phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than…

Không, không phải chỉ có những học sinh khóa quân chính kháng Nhật đang hành quân, không phải chỉ có những chiến sĩ áo chàm đang dồn bước. Mà cả một đất nước đang chuyển mình.

Tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ Thăng Long hành khúc ca:

“Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng”

hay trong Đống Đa:

“Thét vang lừng núi xa…”

Lời trên đã rút ngắn thành Tiến quân ca, và tiếng thét ấy đã ở đoạn cao trào của bài hát.

“Tiến lên! Cùng thét lên!

Trí trai là đây nơi ước nguyền!”

Trên mặt bàn chỗ tôi làm việc, tờ Cờ giải phóng đăng những tin tức đầu tiên về những trận chiến thắng ở Võ Nhai. Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không còn nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều mây và nhiều hy vọng. Bài hát đã xong. Tôi nhớ lại nụ cười thật hài lòng của đồng chí Vũ Quý. Da mặt anh đen xạm. Đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Tôi nhớ lại nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đình Thi, khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát ấy, Thi nói với tôi:

– Văn ạ, chúng mình thử mỗi người làm một bài về mặt trận Việt Minh xem sao?

Tôi không kịp trả lời, chỉ nhìn thấy đôi mắt cua Thi thật lạc quan và tin tưởng. Sau này Thi làm xong bài “Diệt phát xít” trước tôi. Bài “Chiến sĩ Việt Nam” của tôi và bài “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi ngày ấy không có dịp in trên tờ báo do chúng tôi cùng phụ trách. Tháng 11/1944, tôi tự tay viết bài Tiến quân ca lên đá in, trong trang văn nghệ đầu tiên của tờ báo Độc Lập, còn giữ lại nét chữ viết của một anh thợ mới vào nghề. Một tháng sau khi báo phát hành tôi từ cơ quan ấn loát trở về Hà Nội. Qua một đường phố nhỏ (bây giờ đường là Mai Hắc Đế) tôi chợt nghe tiếng đàn măng-đo-lin, từ một căn gác vọng xuống. Có người đang tập Tiến quân ca. Tôi dừng lại và tự nhiên thấy xúc động. Một xúc động đến với tôi hơn tất cả những tác phẩm, tôi đã được ra mắt, ở các rạp hát trước đây. Tôi nhận ra được vài chỗ nhịp điệu còn chưa hoàn chỉnh. Nhưng bài hát đã in ra rồi. Bài hát đã được phổ biến. Có thể những người cùng khổ, mà tôi đã gặp trên bước đường cùng khổ của tôi, lúc này đang cầm súng và đang hát. Tới lúc cần hành động, tôi lại bị ốm nặng, và phải đưa những vũ khí mà tôi giữ cho một đồng chí khác. Ngày 17/8/1945, tôi cố gắng đến dự cuộc mít tinh của công chức Hà Nội. Ngọn cờ đỏ sao vàng được thả từ bao – lơn Nhà hát lớn xuống. Bài Tiến quân ca đã nổ ra như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi hàng nghìn giọng hát cất lên, vang theo những đoạn sôi nổi. Những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng, đã thay cho những băng vàng bẩn thỉu của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

Ngày 18/9/1945 một cuộc mít tinh lớn, họp tại quảng trường Nhà hát lớn. Dàn đồng ca của Thiếu niên tiền phong hát Tiến quân ca, chào lá cờ đỏ sao vàng. Các bạn nhỏ này, ngày nay đã lớn tuổi rồi, còn nhớ lại cái buổi sáng tháng Tám, nắng vàng rực rỡ ấy, nhớ lại giọng hát của họ lẫn với giọng tôi, vô cùng xúc động chào lá cờ cách mạng. Hàng chục ngàn giọng hát cất lên, thét lên tiếng thét căm thù bọn đế quốc, với sự hào hứng chiến thắng của cách mạng.

Bài Tiến quân ca đã là của dân tộc Việt Nam độc lập kể từ ngày hôm đó”.

Trong không khí hào hứng của toàn dân đứng lên giành lại độc lập sau gần một trăm năm nô lệ, Văn Cao như trẻ lại, sức sống dạt dào trong gió mới. Ông đã nhìn thấy từ chiến khu: “Đoàn người Việt mới quyết hy sinh một lòng. Gươm đao chung sức phá xiềng cùng chặt gông…”(Bắc Sơn); “Bao chiến sĩ anh hùng. Lạnh lùng vung gươm ra sa trường. Quân xung phong nước Nam đang chờ mong tay ngươi. Hồn sông núi thiêng ghi muôn đời…”(Chiến sĩ Việt Nam)… Nhạc điệu Văn Cao khỏe khoắn lạ thường. Sau Cách mạng tháng Tám, ông vừa làm phóng viên, vừa trình bày cho báo Lao động thuộc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Rồi ông tham gia cùng ông Hà Đăng Ấn chở tiền bạc và vũ khí vào Nam bộ. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, nếu Trần Huyền Trân có bài thơ Hải Phòng 19/11/1946, Trần Mai Ninh có Nhớ Máu, Hữu Loan có Đèo Cả… đánh dấu một bước chuyển mới trong thi pháp thơ Việt Nam thì Văn Cao có Ngoại ô mùa đông 1946. Tiếng thơ ngân vang âm hưởng của anh hùng ca, khẳng định cuộc chiến đấu thần thánh của một lớp người vừa thoát khỏi vòng nô lệ, quyết không khoan nhượng với kẻ thù, quyết đứng lên giành lấy tự do:

Reo lên! A reo lên
Xóm cùng khổ
Băng mình vào lửa đạn
Cuồn cuộn chảy xô Hà Nội vỡ
Sóng lũ Hồng Hà

Bấy nhiêu người đói khổ đã vươn cao
Cửa ô cần lao
Cửa ô trụy lạc
Cửa ô trầm mặc
Ơi cửa ô, cửa ô dài giằng dặc
Bấy nhiêu người cùng khổ đã vươn cao

Cuộc chiến ngày một lan rộng. Văn Cao ra Liên khu III, phụ trách một đội điều tra của công an Liên khu X ở Lào Cai và viết báo Độc lập. Trong khi ta chủ trương trường kỳ kháng chiến, thì thực dân Pháp quyết kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của chúng bằng chiến lược “chớp nhoáng”. Ngày 7 và 8/10/1947, binh đoàn đổ bộ đường không của chúng do Sauvanhac chỉ huy, nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn… phối hợp với bộ binh nhằm tiêu diệt bộ tổng chỉ huy lực lượng kháng chiến tại căn cứ địa Việt Bắc. Ta lập tức mở chiến dịch phản công. Trên nhiều chiến tuyến cùng đồng loạt diễn ra, thì trận sông Lô đã đem đến cho thực dân nhiều thiệt hại nặng nề. Sông Lô đầy máu giặc. Văn Cao đã viết trường ca bất hủ Sông Lô: “… Trên dòng sông trở về đoàn người. Reo mừng vui trên sóng nước biếc. Trôi đầy sông bao đám xác thù. Dân hân hoan nghe sóng reo vi vu xa xa. Đường ngập người vang gió lá vi vu hiền hòa. Sông mênh mông như bát ngát hát. Thây giặc trôi trở về ngập bờ. Sông gầm vang súng trái phá. Bao rừng thu như bát ngát cười. Dân hoan hô chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi công…”. Ca khúc này mãi mãi làm say đắm lòng người. Nhà thơ Phùng Quán có viết bài thơ nói lên một tâm trạng náo nức của người chiến sĩ vệ quốc khi hát và nghe trường ca này: “Chúng tôi thường mơ/ Trên quê hương Bình Trị Thiên/ Chúng tôi sẽ đánh một trận lừng danh đất nước/ Trên sông Hương, sông Thạch Hãn, sông Bồ…/ Để anh viết trường ca/ Như trường ca Sông Lô”.

Cuộc kháng chiến đã tạo cho ông nhiều cảm xúc để viết tiếp ca khúc Làng tôi, Ngày mùa, Tiến về Hà Nội… Đầu năm 1950, trở về Việt Bắc, Văn Cao phụ trách Đoàn Nhạc sĩ Việt Nam, là Trưởng ban Âm nhạc Vụ Văn học Nghệ thuật của Bộ Giáo dục và cuối năm 1951, ông về Hội Văn nghệ Việt Nam, rồi sang làm công tác âm nhạc ở Xưởng Điện ảnh. Các ca khúc Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Toàn quốc thi đua, Hành khúc tiểu đoàn Lũng vai… được ông viết trong thời kỳ này.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc. Rời chiến khu, các chiến sĩ Việt Nam “Tiến về Hà Nội” trong không khí choáng ngợp niềm vui – đúng như Văn Cao đã dự đoán từ sáu, bảy năm trước: “Trùng trùng quân đi như sóng. Lớp lớp đoàn quân tiến về… Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về. Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh…”. Về thủ đô, Văn Cao vẫn tiếp tục sáng tác. Tài năng của ông còn thể hiện trong việc trang trí cho sân khấu chèo, viết nhạc cho phim, vẽ minh họa cho báo…

Mùa thu năm 1984, ông đã viết một số tác phẩm piano và tổ khúc giao hưởng Anh bộ đội Cụ Hồ, Tình ca Trung du là những tác phẩm âm nhạc cuối cùng của ông. Riêng về thơ thì ông viết khá nhiều. Ngoài trường ca Những người trên cửa biển viết năm 1956, ông còn có nhiều bài thơ tuyệt hay được viết lai rai trong nhiều năm tháng. Thật khó đánh giá ở lãnh vực nào nghệ sĩ đa tài Văn Cao tìm được cảm hứng sáng tạo nhiều nhất? Là hội họa hay thơ ca, ca khúc? Nhà phê bình Thái Bá Vân đã hoàn toàn có lý khi khẳng định bản lĩnh Văn Cao “như một viên gạch kỳ cựu nung ở độ lửa già” và lý giải: “Bởi sức đập náo nức tột cùng của trái tim mẫn cảm, và bởi bản chất trong sáng của nghệ thuật, mà chưa bao giờ cái đẹp của Văn Cao rơi xuống chỗ tẻ lạnh, não nùng hay bạc bẽo như một số nhạc sĩ tiền chiến khác. Cũng chưa bao giờ bẽ bàng, khóc thương công cộng như một số du ca, tục ca sau này của Phạm Duy. Dù có buồn cô đơn, Văn Cao trước Cách mạng tháng Tám, vẫn thốt lên được những tiếng gọi tha thiết về cuộc sống. Là người nghệ sĩ mới, tôi nhận thấy Văn cao đã thấm nhuần cái trí thức cổ điển ngàn xưa của nghệ thuật: sự thanh lọc của tâm hồn”. Riêng với thơ, phải thừa nhận rằng, so với các nhà thơ cùng thời thì ông là người đã khai thác chiều sâu tâm trạng nhiều nhất. Qua đó, ta có cảm giác như ông đã sống trong một trạng thái bất ổn, chập chờn, lay động bởi một ám ảnh vô hình nào đó. Năm 1957, mới 35 tuổi nhưng ông đã cảm thấy “Tuổi già đến”:

Tất cả sự sống bên ngoài của bao tuổi trẻ
Chỉ vang lên nhẹ nhè dĩ vãng trong lòng tôi
“Về một người” ông lại cảm nhận:
Người anh dẹt như một con dao
Gây nhiều vết thương cho bạn hữu
Đó cũng là năm tháng ông viết Có lúc:
Có lúc một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ
có lúc ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt
có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được

Đó cũng là năm tháng ông viết Năm buổi sáng không có trong sự thật. Những năm tháng tuổi trẻ của Văn Cao, đọc qua thơ, ngoài những nỗi buồn thì vẫn còn hiện lên một tình yêu trong vắt, không vụ lợi, đã an ủi tâm hồn người nghệ sĩ rất nhiều, rất nhiều… Nhưng thật lạ, sau này ở tuổi lục tuần, ông vẫn chưa thoát ra khỏi nỗi ám ảnh mơ hồ mà trong bài thơ Ba biến khúc tuổi 65, có đoạn:

Tôi rơi vào màng nhện
màng nhện cuốn lấy tôi
không còn cách gì gỡ được
tôi như con sâu tằm
cuộc đời cứ như thế
muốn phá cái màng nhện
tôi không đủ tay

Thật ra, đối với người nghệ sĩ khi sống trong tâm trạng chênh vênh, như một người đang đi xiếc trên sợi dây mỏng manh căng qua số phận của mình, thì lúc ấy mới bật dậy trong tâm hồn những cảm hứng của sự sáng tạo. Qua tác phẩm của ông, ta đã nghe sợi dây đàn ấy rung lên những nhịp điệu vừa gần gũi, vừa xa lạ đến nao lòng…

Cuối đời

Văn Cao mất lúc 4 giờ sáng ngày 10/7/1995 tại Hà Nội. Với những cống hiến của ông cho nghệ thuật nước nhà, Tổng bí thư Đỗ Mười, thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng, khẳng định: “Những tác phẩm có giá trị của đồng chí đã đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân, đồng thời là những giá trị nghệ thuật chân chính của nền âm nhạc Việt Nam. Những tác phẩm ấy sẽ sống mãi với đất nước, với nhân dân”. Trong Điếu văn của Hội Âm nhạc Việt Nam đã ghi nhận Văn Cao là “Bậc tài danh thế kỷ”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã gọi ông là Hoàng tử bé – một nhân vật văn học nổi tiếng của nhà văn Pháp Saint Éxupéry “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng”… Trong cuộc đời, Văn Cao đã được Nhà nước trao tặng nhiều giải thưởng cao quý, kể cả giải Hồ Chí Minh. Nhưng phần thưởng lớn nhất của ông, là được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – đại diện cho con dân nước Việt Nam thống nhất – đã chọn Tiến quân ca làm Quốc ca cho đến hôm nay và mai sau.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Văn Cao

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)