Thông tin chung
Theo truyền thuyết dân gian vào thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), từ Phú Yên có đoàn người lao khổ đi vào phương Nam lập nghiệp. Trong đoàn có một gia đình nông dân nọ. Họ dẫn theo một cô con gái 15 tuổi, tên là Nguyễn Thị Rịa. Đoàn người dừng chân tại Mô Xoài. Nơi này thuở ấy còn là vùng đất hoang vu. Núi rừng rậm rạp. Đầm lầy nước đọng. Lau sậy mịt mù. Beo cọp còn dạo chơi nhởn nhơ. Thỉnh thoảng chúng thét gầm, tưởng chừng như lay chuyển cả đại ngàn. Cùng với đoàn lưu dân, cô Nguyễn Thị Rịa ra sức khai phá vùng đất mới, dựng nên vườn tược, xóm làng. Dân cư ngày một đông đúc thêm. Từ Mô Xoài (nay là xã Hòa Long) họ phát triển dần về phía biển, tới vùng đất Mỹ Khê, rồi mở rộng qua phía Gò Xoài, Phước Liễu (nay thuộc xã Tam An). Năm tháng trôi qua, không bằng lòng với những vùng đất đã khai phá, cô Rịa năm xưa nay đã thành người đàn bà đứng tuổi vẫn tiếp tục dẫn thế hệ sau khai phá đến tận Láng Dài, Xuyên Mộc ngày nay. Về cuối đời, bà Rịa về sống tại thôn Long Lập (xã Phước Long bây giờ) và qua đời ở Hắc Long, Phước Liễu (nay thuộc Tam An). Đó là năm 1759 dưới thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Như vậy bà Rịa thọ hơn 90 xuân. Trước khi mất, không có chồng con nên bà đã sung toàn bộ đất của mình vào công thổ. Những người lưu dân nhớ ơn bà nên lập mộ và đền thờ bà. Từ đó, vùng đất mới này được nhân dân gọi là Bà Rịa. Hơn hai trăm năm sau, có một cô gái gan dạ đã làm rạng rỡ vùng Bà Rịa.
Thân thế và cuộc đời
Cô gái này tên là Võ Thị Sáu, sinh năm 1933 tại xã Long Mỹ (nay là xã Phước Long Hội, huyện Đất Đỏ), là con gái thứ sáu của ông Võ Văn Hợi làm nghề đánh xe ngựa và bà Nguyễn Thị Đậu bán bún bò. Năm 1947, trưa nắng. Những lô cao su trong đồn điền miền Đông Nam bộ thẳng tăm tắp. Cô bé Sáu, 12 tuổi đứng úp mặt vào cây cao su khóc rưng rức. Sáng nay, bọn giặc Pháp mắt xanh mũi lõ tràn qua Bà Rịa vây chợ đốt làng và ngay cả nồi bún bò của má Sáu cũng bị chúng hất đổ. Cô bé ức lắm, nhưng không biết phải làm gì, chỉ biết ôm mặt khóc! Dựa vào bọn giặc Pháp, tên cai tổng Tòng cũng ngang nhiên hà hiếp, bóc lột dân lành. Sáu căm thù lắm. Do đó, khi được người anh tuyên truyền và giáo dục thì Sáu theo anh tham gia công tác cách mạng ngay. Sáu được giao làm cơ sở trinh sát của công an xung kích địa phương. Hai năm sau, từ chiến khu Sáu được tổ chức giao cho ba quả lựu đạn. Trở về Bà Rịa, Sáu đã liệng giết chết tên quan ba Tây và làm bị thương 20 tên lính khác. Chiến công này đã khiến bọn giặc khiếp đảm. Sau đó, Sáu còn ném lựu đạn phá cuộc họp của tên tỉnh trưởng Lê Thành Tường. Từ đó, Sáu thường ra vào nội thành nắm tình hình giặc rồi làm cả nhiệm vụ tiếp tế lương thực cho đồng đội ở chiến khu. Tuy nhỏ tuổi, nhưng Sáu rất gan dạ. Đêm tối âm u và trong rừng có nhiều thú dữ nhưng Sáu vẫn không sợ. Năm 1950, Sáu lại được lệnh cầm lựu đạn về Bà Rịa để giết tên cai tổng Tòng. Sáng hôm ấy, nhanh như một con sóc, Sáu đã lẻn được vào phòng làm việc của tên cai tổng. Tim của Sáu đập thình thịch. Trấn tĩnh lại, Sáu rút quả lựu đạn. Lúc chuẩn bị ném thì bỗng từ đằng sau có tiếng hô to: “Lựu đạn!”. Tên cai tổng hoảng hốt chui xuống gầm bàn mặt mày tái mét. Cùng lúc đó, một bàn tay khỏe mạnh kịp thời bẻ quặt tay Sáu ra phía sau. Sáu bị bắt. Mười lăm tuổi, Sáu bước vào nhà tù Bà Rịa. Tại đây Sáu được gặp chị Cầm – người chị họ là du kích của xã Long Điền. Chị Cầm đã động viên Sáu trong những ngày đầu tiên sa vào tay kẻ thù.
Bị bắt
Trong tù, Sáu bị tra tấn dữ dội. Đã thế, những lần tra tấn ai thì chúng lại bắt Sáu phải chứng kiến. Hành động man rợ này là nhằm uy hiếp tinh thần của Sáu. Nhưng điều này chỉ để lại trong tâm trí của Sáu một ấn tượng khá sâu sắc. Sáu tự nhủ: “Kẻ thù là một con vật ghê tởm, không thể chung sống được với chúng. Còn một phút, còn một hơi thở thì cũng phải chiến đấu để góp phần tiêu diệt chúng”. Không khiếp sợ kẻ thù nếu một khi ta đã căm thù chúng. Đó là bài học đầu tiên của Sáu khi bước chân vào nhà tù. Sau trận đòn tra tấn thừa sống thiếu chết, bọn cai tù hỏi:
– Ai sai mày giết cai tổng Tòng? Mày ở cơ quan nào? Mày liên lạc với ai? Cai tổng Tòng làm gì mày mà mày giết? Ai phát lựu đạn cho mày?
Cứ sau mỗi câu hỏi thì chiếc roi đuôi bò lại giáng xuống thân hình còm cõi của Sáu. Lạ thay, Sáu không hề khóc, chỉ nghiến răng và ném vào mặt chúng những cái nhìn căm thù! Đòn thù không quật ngã được tinh thần bất khuất của cô bé mới 15 tuổi đầu. Ba tháng sau, chúng đưa Sáu về giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Tại đây, Sáu được chúng cho vào ban nấu bếp của nhà tù. Nhờ vậy, chị đã làm tốt nhiệm vụ mà cơ sở bí mật của cách mạng trong tù giao phó. Đó là thông tin chỉ thị từ cơ sở đến từng phòng giam. Không may công việc này bại lộ vì có kẻ phản bội khai báo. Hắn cung cấp cho kẻ thù toàn bộ hoạt động của chị, vì vậy vào tháng 5/1951 chị bị chúng đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình. Nhưng kết án tử hình một cô bé 16 tuổi là điều khó chấp nhận, và chính chị cũng lên tiếng phản đối. Do đó, chúng đã sửa lại trong hồ sơ là chị sinh năm 1933 cho đúng với luật “công pháp quốc tế”. Lúc này, chị Cầm cũng bị giam tại đây và cũng bị kết án tử hình. Hai chị em nằm chung trong ca-sô. Chị Cầm thường dạy Sáu hát Tiến quân ca và dặn:
– Chị em mình hát để nhớ các anh đã hy sinh. Bao giờ đến lượt chúng đem bắn chị em mình. Sáu đừng quên cất lên tiếng hát nghen!
Lời hát như phương thuốc kỳ diệu giúp Sáu vượt qua những đau đớn ngục tù, vượt lên trời xanh của khát vọng tự do:
Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca…
Có lần Sáu kể cho chị Cầm nghe rằng, lúc còn ở chiến khu, Sáu có anh bạn nhỏ cùng cơ quan. Đôi bạn trẻ thân nhau như ruột thịt, cùng học tập, cùng đùa nghịch và cùng làm nhiệm vụ như nhau. Các đồng chí lớn tuổi thường chế: “Bao giờ độc lập thì đoàn thể sẽ tổ chức cưới thật to cho hai đứa ngay tại Sài Gòn”. Cả hai chưa biết thẹn, nắm tay nhau cười vang! Nghe Sáu tâm sự, chị Cầm lặng lẽ giấu đi giọt nước mắt…
Rồi một đêm kia, chị Cầm đang ngủ thì nghe có tiếng mở cửa mạnh. Tiếng sắt rít lên rợn người. Chúng lôi Sáu đi. Chị Cầm kêu lên báo động:
– Các chị ơi! Tụi Tây nó dẫn em Sáu đi hành quyết!
Chị kêu thật to cả ba lần. Tên cai ngục liền xông vào bịt miệng chị lại và liên tục giáng dùi cui xuống đầu. Chị ngất xỉu. Cả khám lớn Sài Gòn cùng Sáu đồng loạt hô to:
– Đả đảo! Đả đảo!
Lập tức một miếng vải nhét vào miệng Sáu. Như những con thú dữ, chúng lao vào xiềng tay Sáu lại rồi kéo đi. Sáu bị chúng đưa ra Côn Đảo.
Hy sinh
Chị đến địa ngục trần gian vào ngày 21/1/1952 với số tù G.267. Chị bị giam trong xà lim Sở Cò (nay là trường mẫu giáo Măng Non huyện Côn Đảo). Đêm 22/1/1952, khi Sáu đang cất lên tiếng hát trong xà lim thì tên cai ngục mở cửa đi vào. Ánh đèn pin rọi thẳng vào mặt chị. Linh tính báo cho chị biết có điều chẳng lành. Hắn mở còng cho chị rồi dẫn đi. Giây lát sau chị có mặt ở Sở rờ rẹt (tương đương như phòng nhì mật thám). Tại đây, tên chúa ngục Jarty – nguyên là thiếu tá tiểu đoàn trưởng bộ binh thuộc địa và một số cố đạo người Pháp đã ngồi chờ, trước mặt chúng là tập hồ sơ của Sáu. Chúng đưa giấy và bảo chị nên viết thư về nhà, chị trả lời lạnh lùng:
– Tôi rất thương ba má tôi, nhưng tôi không viết thư vì tôi biết không bao giờ các ông chuyển đi cả!
Jarty cười nhạt rồi châm lửa đốt thuốc hút. Hắn nhả khói thuốc vào mặt Sáu. Chị vẫn điềm nhiên im lặng. Trước các câu hỏi của hắn, chị cũng vẫn im lặng. Không còn đủ kiên nhẫn để thăm dò và dụ dỗ, hắn nói:
– Mày nên suy nghĩ cho kỹ! Mày còn trẻ lắm! Cuộc đời của mày còn dài.
Chị gật đầu:
– Tôi còn trẻ nhưng tôi là người của cách mạng. Tôi sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ của tôi cho cách mạng.
Giọng nói của Võ Thị Sáu cứng rắn và dứt khoát. Jarty không còn giữ được bình tĩnh. Hắn lột bỏ bộ mặt nhân từ, đứng phắt dậy, chân nện thình thịch xuống sàn. Như con sói, hắn lao một cú đấm vào mặt chị. Chị lảo đảo ngã ra sau, nhưng vẫn im lặng. Thấy vậy tên cố đạo rón rén đứng dậy, làm ra vẻ thương xót để vỗ về Sáu:
– Con không viết thư, không muốn khai điều gì thì thôi. Con hãy cố gắng ăn miếng bánh và uống nước đi! Quan lớn sẵn sàng cho con hưởng những thứ này trước khi con chết!
Nói xong, hắn đưa mắt thầm đợi câu trả lời vì biết Sáu đã bị bỏ đói mấy ngày này. Nhưng Sáu đáp:
– Tôi không bao giờ thèm ăn những thứ này của các ông!
Tên cố đạo ngán ngẩm trước thái độ của Sáu. Hắn uể oải ngáp dài rồi nói:
– Trước khi con chết, cha đến rửa tội cho con. Cha cầu nguyện cholinh hồn của con được lên thiên đàng.
Nói xong, hắn vờ vịt đưa tay lên làm dấu. Chị Sáu phẫn nộ đứng vụt dậy, chỉ vào mặt hắn thét lớn:
– Tao là người yêu nước! Tao không có tội gì cả. Chỉ có chúng mày, quân giết người mới có tội!
Tên Jarty lồng lộn như thú dữ, lao vào đánh chị như điên dại. Sau đó, hắn tống chị lên xe để đưa ra nghĩa trang cùng với một tử tù khác. Không hề khiếp sợ, chị Sáu cất cao giọng để hát bài Tiến quân ca. Khi đến bãi bắn thì trời bắt đầu rạng. Đó là một buổi sáng tinh mơ ngày 23/1/1952. Tiếng sóng vỗ ầm vang.
Đột ngột trên vòm trời xa tít có một ngôi sao vụt tắt. Chúng trói chị vào trụ bắn. Phía sau lưng chị là dãy núi Chúa cao sừng sững. Chị căng mắt ra nhìn lần cuối cùng ánh ban mai đang rạng dần trên vòm trời xanh cao lồng lộng. Một tên lính rút trong túi ra tấm vải đen để bịt mắt chị. Chị vội quát lên:
– Tao không sợ chết! Chúng mày cứ để cho tao thấy viên đạn của chúng mày bắn vào ngực tao!
Nói xong chị quay đầu sang phải rồi sang trái, nhất định không cho chúng bịt miếng vải đen vào mắt mình. Thái độ của chị Sáu cũng đã khiến cho tên Jarty khiếp đảm. Hắn cầm chai rượu, ngửa cổ lên trời, tu một hớp để trấn tĩnh. Những hớp rượu đã khiến hắn say chếnh choáng, hắn ra hiệu cho chị được nói lời cuối cùng. Nhưng chị vừa hô: “Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!” thì tám phát đạn đồng loạt nổ. Lạ thay! Chị Sáu vẫn ngẩng cao đầu và tiếng hô cuối cùng của chị Sáu không mất đi mà vang vọng mãi đến thiên thu.
Tuổi 17 của Võ Thị Sáu mãi mãi nằm lại Côn Đảo. Giặc vùi lấp xác chị sơ sài nhưng sau đó, những người tù mỗi lần đi ngang qua đều đắp thêm cát đá và trồng lên đó những bông hoa tươi thắm. Hiện nay, hoa vẫn rực rỡ trên mộ chị ở nghĩa trang Hàng Dương. Ngày2/8/1993 Chủ tịch Lê Đức Anh thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định số 149 XT/CTN phong tặng chị danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì “đã lập chiến công đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, giữ vững khí tiết người chiến sĩ công an, nêu gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng”. Nhiều văn nghệ sĩ đã xúc động lấy tấm gương sáng của chị để làm chất liệu sáng tác – nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là ca khúc Biết ơn chị Võ Thị Sáu của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn. Đã nhiều thế hệ vẫn còn nhớ: Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng cả cuộc đời, để chiến đấu với bao niềm tin, dù chết vẫn không lùi bước. Chị Sáu hy sinh rồi, giọng hát vẫn như còn vang dội vào trái tim những người đang sống, giục đi lên không bao giờ lùi…”.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.