Khái quát
Trong bài Gia Định phú lưu hành đầu thế kỷ XX trên đất Sài Gòn -Gia Định xưa có những câu ca ngợi tinh thần hiếu học:
Chốn thí trường lấy lấy nho sinh, đều nhắm cánh hộc hồng, một thuở bảng vàng lăm chiếm;
Nhà quốc học dầy dầy sĩ tử, gắng gia công đèn sách, mười thu nghiên sắt chuyên mài.
Có được điều đó hẳn chúng ta phải nhớ đến một bậc thầy lừng lẫy được vua Gia Long ban hiệu là Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh. Đó là Võ Trường Toản. Không rõ thầy sinh năm nào, chỉ biết mất vào ngày 6 tháng 9 năm Nhâm Tí (27/7/1792).
Về tiểu sử của thầy, Phan Thanh Giản có tóm tắt:
Tiên sinh tính Võ, húy Trường Toản, đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Thừa Thiên) hoặc nói là người Bình Dương (Gia Định), trước học ai hiện chưa rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật, có thuật nghiệp uyên thâm, thông đạt. Xảy hồi biến động Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn, mở trường dạy học, học trò kể có mấy trăm. Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Bậc thượng hạng là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tịnh. Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Trúc ở ẩn dật, ngoài ra không kể hết được. Các ông ấy đều gặp hồi phong vân, thời trung hưng… thấy đều nên công nghiệp lớn trong đời.
Lúc vào Gia Định, Nguyễn Ánh thường triệu tiên sinh tới đàm đạo. Lại nghe tiên sinh học rộng khắp các kinh và sở trường nhất là bộ Tứ Thư. Ông Chiêu là nhà túc nho ẩn dật học theo tiên sinh, học thấu nghĩa tri ngôn dưỡng khí… Sở học của tiên sinh thật là rộng lớn và tinh vi vậy, dẫu đọc bất cứ ngàn muôn kinh sách nào cũng rõ được nghĩa lý.
Tiên sinh không hứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều nhân tài mà còn truyền thuật, giảng luận trau giồi về sau, tới nay dân gian trong sáu tỉnh Nam Kỳ vẫn tỏ lòng trung nghĩa, cảm phát dám hy sinh tới tính mạng. Xét ra tuy nhờ đức thân nhân của quân vương thuần gội, cố kết nhân tâm, nhưng nếu không có đức công mở mang huấn dục của tiên sinh từ thuở trước thì làm sao có được nhân tâm như thế…
Qua những lời ca ngợi ấy, đủ thấy vai trò của thầy Võ Trường Toản trong sự nghiệp trồng người thuở trước.
Sự nghiệp và tư tưởng
Nghe tiếng tăm của thầy, nhiều lần Nguyễn Ánh đến tìm gặp, mời thầy ra làm quan nhưng thầy từ chối, chỉ dâng Thái bình thập sách (Mười kế làm nước thái bình). Hơn ai hết, thầy đã ngộ ra sự biến dịch trong cuộc bể dâu:
Cho hay dời đối ấy lẽ thường,
Mới biết thảo ngay là lẽ cá.
Thầy không ra làm quan, nhưng cũng không đi ở ẩn để xa lánh cõi trần mà đã viết nhiều sách. Vị Tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ là Phan Thanh Giản đã kinh ngạc khi thuật lại đôi điều về cuộc đời thầy:
Từng thấy sách của tiên sinh để lại, viết sách Đại học có một ngàn bảy trăm chữ, chia ra thì nói tới mọi việc, rút gọn lại chỉ còn hai trăm chữ, lại rút gọn lại thì một chữ cũng không. Ôi, cái học của tiên sinh đã đạt tới chỗ lớn lao mà sâu sắc, dù lấy đó mà đọc hàng ngàn, hàng vạn quyển sách cũng được.
Ngoài ra, thầy còn viết Hoài cổ phú để ca ngợi những tấm gương trung thần báo quốc, dám hy sinh vì đại nghĩa:
Trước đền Trụ mổ gan một tấm, muôn kiếp còn danh để tạc bia
Dưới thành Ngô treo mắt đôi tròng, ngàn năm hãy người còn nhóm gáy.
Sự nghiệp giáo dục
Nhân cách thầy thế nào thì đào tạo ra trò thế ấy. Thuở ấy, thầy dạy học ở đình Chí Hòa (nay 475 Cách Mạng Tháng Tám, P.13, Q.10, TP.HCM). Biết bao danh nhân lỗi lạc của thời đại đã bước ra từ ngôi trường của thầy. Có thể kể đến Trịnh Hoài Đức – tác giả bộ sách quý Gia Định thành thông chí; Lê Quang Định – tác giả bộ Hoàng Việt nhất thống địa dư chí; Ngô Nhơn Tịnh mà cả ba người này đều được người đời xưng tụng là Gia Định tam gia. Và còn biết bao những tên tuổi khác nữa.
Do đó, không phải ngẫu nhiên mà khi thầy từ trần, các môn đệ có câu đối:
Bể tôi có tiếng trong triều, nửa là học trò cũ,
Văn giáo phía nam sao Đấu, đều kính thẩy xưa.
Trong đời thường, theo sử sách để lại thì thầy không có con trai, chỉ có một gái nhưng mất sớm nên khi thầy qua đời, người con nuôi tên là Trúc được miễn lao dịch để lo thờ cúng. Tuy nhiên, thầy vẫn có rất nhiều con. Đó là những học trò của thầy. Khi thầy mất, học trò cũ đã khóc thầy bằng câu đối xúc động:
Sống giáo huấn được người, không con mà tựa có
Chết lưu danh ở thế, tuy mất cũng như còn.
Và họ tìm mọi cách để lo phần mộ cho thầy.
Phần mộ và sự tôn kính của môn sinh
Trường hợp của thầy Võ Trường Toản rất đáng để chúng ta suy nghĩ về tinh thần tôn sư trọng đạo trong đạo lý người Việt Nam.
Theo Hòa ước năm 1862 của triều đình nhà Nguyễn ký với giặc Pháp thì: “Nước Nam phải nhường đứt cho Pháp tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường” và “nước Pháp trả tỉnh Vĩnh Long lại cho nước Nam, nhưng quân Pháp vẫn đóng ở tỉnh lĩ”. Trước tình thế này, các sĩ phu yêu nước đã dấy lên phong trào tị địa, bất hợp tác với giặc, không ở lại vùng đã bị giặc chiếm đóng. Họ đã chọn nơi tị địa là Vĩnh Long và Bình Thuận để tiếp tục kháng chiến và giúp đỡ nghĩa quân kháng chiến.
Bấy giờ phần mộ của thầy Võ Trường Toản đang nằm ở làng Hưng Hòa (Gia Định). Đó là điều đau xót cho tất cả các học trò khi thấy thầy mình phải nằm lại trên vùng đất bị gót giày xâm lược của giặc dày xéo lên sau Hòa ước năm 1862. Vì thế, các môn đệ đã đứng ra lo cải táng mộ thầy, đưa về mai táng ở làng Bảo Thạnh (Vĩnh Long). Có thể ghi nhận đây cũng là một sự kiện chính trị quan trọng của thời bấy giờ.
Tiến sĩ Phan Thanh Giản có kể lại về việc dời mộ thầy trong bài văn bia với những chi tiết chân thật, xúc động:
Gần đây vì binh lửa nên vùng ấy thành đất hoang, mộ cũ để mãi ở đó cũng bất tiện, nên tôi và quan đốc học Vĩnh Long Nguyễn Thông là người đồng quận với tiên sinh họp các thân sĩ bàn việc dời đi, báo cho quan án sát An Giang Phạm Hữu Chánh và quan tỉnh Hà Tiên thì họ đều ưng thuận, bèn ủy cho bọn tú tài Võ Gia Hội họp với các hương chức thôn Hòa Hưng kính cẩn mở mộ phần cũ, thay áo quan mới. Mọi người bèn cử quan đốc học Nguyễn Thông làm chủ việc chôn cất, nghi thức mô phỏng theo lễ chôn cất thầy học thời cổ. Khi vật dùng chôn cất đã đầy đủ, bèn chọn ngày 28/3 năm nay an táng trên giồng ở thôn Bảo Thạnh, huyện Bảo An… Trước mộ mười trượng xây đền thờ, trước đền bảy trượng dựng tinh phường. Hôm ấy các bạn đồng liêu ở tỉnh, các viên Giáo thụ, Huấn đạo cùng các sĩ tử ở các phủ huyện trong hạt và thân sĩ hai tỉnh An Giang, Hà Tiên, nhân sĩ ba tỉnh vùng Gia Định lưu ngụ ở tỉnh đều tới dự.
Riêng Nguyễn Thông – người chủ việc chôn cất – đã có bài thơ Ngày 28/3 năm Đinh Mão (1867) dời mộ Sùng Đức Võ phu tử, thuật lại để khuyên các học trò- trong đó có những câu tôn vinh chói lọi:
Một quyển Đại học phát huy ý nghĩa tinh vi
Rực rỡ như dòng Ngân Hà ngời ngời trên trời thu
Trời sinh bậc đại hiền để dạy dỗ cho đời
Công nghiệp không phải ở chỗ làm quan nơi triều đình
Mà đem tâm pháp truyền cho học trò
Phương pháp giáo dục
Có thể khẳng định, một đời làm thầy để đào tạo nhân tài cho đất nước, công đức thầy Võ Trường Toản to lớn biết chừng nào!
Về phương pháp giảng dạy của thầy Võ Trường Toản, sau này, nhà giáo Ca Văn Thỉnh đã để tâm nghiên cứu và rút ra nhiều kết luận xác đáng:
Võ Trường Toản chủ yếu dạy về “tri ngôn”, “dưỡng khí”, là vì ông đã thấu đáo tâm lý của con người Gia Định trung dũng, khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, ông thấy cần phải phát huy khí tiết, sự trọng nghĩa ấy bằng cách “tập nghĩa” (tập hợp nhiều việc nghĩa) để “dưỡng khí” (bồi dưỡng dũng khí, nâng cao chính khí bậc anh hùng). Đồng thời ông cũng thấy rõ ở Gia Định có loại người tham tài, giả nhân, giả nghĩa, bóc lột người lao động, loại người bất chính “anh chị” côn đồ, do đó, cần phải rèn luyện trí não, “tri ngôn” phải hiểu rõ lòng người, thấu đáo lời nói bên ngoài, lòi lệch lạc, dâm đãng, gian tà, dối trá (bỉ, dâm, tà, động ngôn) mới nhận rõ tư tưởng bên trong con người. Thế là trên cơ sở nhân nghĩa truyền thống Việt Nam, ông đào luyện học trò vừa “dũng”, vừa “trí”
Và nhà giáo Ca Văn Thỉnh còn cho biết thêm:
Người Pháp tên là G. Coulet soạn sách nói về các tổ chức bímật ở Nam Bộ thời trước (các hội kín) đã khẳng định bài Hoài cổ phú của Võ Trường Toản đã được dùng làm tài liệu huấn luyện cho nhiều tổ chức chống Pháp:
Cật Võ Mục nhuộm thanh bốn chữ, tâm trung thành đã thấu trời xanh
Áo Thiên Tường ghi đượm hai câu, phương tựu nghĩa chi phai lòng đó.
Ghi nhận
Vâng, công đức của thầy đối với các môn đệ của mình vẫn còn rõ nét và nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân dân Gia Định thuở xưa và Nam bộ ngày nay.
Ngày 17/11/1998 phần mộ và nhà thờ của thầy ở xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri (Bến Tre), đã được nhà nước công nhận là Di tích văn hóa lịch sử quốc gia và từ đây, hằng năm cứ đến ngày 20/11, Báo Sài Gòn Giải Phóng và Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố tổ chức trao Giải thưởng Võ Trường Toản cho các nhà giáo có nhiều cống hiến xứng đáng trong sự nghiệp giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.