Khái quát
Ở phía nam thành Long Biên, phía tây hồ Hoàn Kiếm có một tòa nhà, xưa là nơi giảng dạy của thầy Lỗ Am ta, nay là chốn thờ phụng Người. Thầy ta mất ngày Tân Tì 26 tháng 6 năm Tân Hợi (1851) tại nơi nhà dạy học Giang Đình trên sông Sơn Minh (nay thuộc huyện Ứng Hòa – Hà Tây), táng tại phường Bạch Mai, huyện Thọ Xương. Sau ba năm mãn tang, môn sinh bàn với người con nối dõi là tú tài Như Trâm dựng nhà thờ của Người ngay trên nền trường cũ, làm xong vào tháng 9 năm Ất Mão (1855); lại đặt 4 mẫu 6 sào ruộng tế tự ở phía tây chùa Liên Phái để lo việc cúng giỗ. Làm dân ở đòi phải thờ ba đạo lớn, coi như là một (1). Bởi thế phải khắc vào bia đá để tỏ lòng ngưỡng mộ đạo cao đức trọng của thầy ta vậy.
Thuở trẻ, thầy ta đỗ Tiến sĩ năm Bính Tuất (1826), từng làm quan trong triều, ngoài quận; tuổi trung niên từ chức đốc học Bắc Ninh, lui về phụng dưỡng cha mẹ, nhận môn đồ về nhà dạy dỗ.
Ôi tiên sinh đủ sức giúp đời, nhưng yên lòng lẳng lặng lui về với cảnh mây nước sông hồ, thả thuyền ngâm vịnh, trọn đời không đổi chí lạc đạo. Người đời thường nói: chẳng nhọc nhằn vì cầu phú quý, chẳng buồn phiền vì sự nghèo hèn. Thầy ta là người như vậy. Mà đâu chỉ có vậy: Người thường ngâm khúc Trở về (2) của thức giả ẩn cư để mặc áo nhiều màu của bậc cao sĩ. Sáng treo mũ nơi cống triều, chiều đã hái lan trên núi cũ (2). Bởi lẽ rằng: lấy lộc nước sao bằng đem lòng thiện để phụng dưỡng cha mẹ. Thầy ta lui về đâu phải cốt được tiếng thanh cao, mà để sớm khuya hầu song thân, lúc rỗi lấy việc dẫn dắt hậu sinh làm sự nghiệp. Đến nay đã mấy mươi năm, nhiều người nhờ thầy mà thành đạt. Ơn tác sinh thành của tiên sinh bao la như nước hồ long lanh, tựa khói trăng bàng bạc, vẫn y nguyên vậy. Ôi! Tiên sinh là bất hủ!
Quê cũ của thầy ta, làng Lương Đường, đất Đường An, là danh hương từ cổ xưa. Hồi cuối triều Lê có cụ Nguyễn Lập Trai, được các học giả suy tôn như đỉnh Thái Sơn, như chòm Bắc Đẩu. Tình cậu cháu thêm nghĩa thầy trò, tiên sinh thật không phải hổ thẹn. Đó là điều mà các bậc sĩ đại phu đều công nhận, đâu phải là lời khen riêng của vài ba đứa chúng ta. Ôi tiên sinh quả là bất hủ! Có bài minh rằng:
Hồ có thời cũng khô cạn,
Đá có thời cũng nát tan.
Cái không mất được là ân đức của người quân tử.
Tiền nhân của tiên sinh đã có Người kế truyền, chắc thỏa lòng mong đợi.
Con cháu của tiên sinh được trước thềm lên xuống, hẳn sẽ nối chí cha ông, muôn ngàn năm chẳng dứt.
Phúc lành người quân tử dành mãi cho con cháu.
Trên đây là nội dung văn bia ca ngợi công đức của thầy giáo do các môn sinh dựng lên sau khi thầy mất. Người được phân công chấp bút là Tiến sĩ Nguyễn Tư Giản soạn vào năm 1783 – sau 22 năm kể từ ngày thầy qua đời. Tình thầy trò thuở ấy sao mà đáng kính, đáng trọng đến thế! Qua tấm văn bia này, chúng ta có thể hình dung ra một ngôi trường nổi tiếng thuở trước trên đất Hà Nội ngàn năm văn vật và cũng cảm nhận được tình cảm sâu nặng của trò đối với thầy.
Người thầy có công đào tạo nhiều nhân tài ra giúp nước, được môn sinh dựng bia thờ là Tiến sĩ Vũ Tông Phan, tự Hoán Phủ, hiệu Đường Xuyên và Lỗ Am, thiên hạ kính trọng gọi là ông Nghè Tự Tháp, quê quán ở làng Lương Đường, đất Đường An (nay làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Cẩm Bình – Hải Dương). Thầy là con trai của cụ Phan Tông Cửu. Thuở trai trẻ, cụ Cửu từng được theo học với thầy Lập Trai Phạm Quý Thích, nhận thấy đây là nho sinh hiếu học hơn người nên thầy Lập Trai đã gả em gái mình là Phạm Thị Đôi cho. Như vậy, thầy Vũ Tông Phan là cháu ruột, gọi thầy Lập Trai bằng cậu – mà sau này thầy tự hào “Trộm mừng là tiếp nối được tiếng nhà thi thơ là vậy.
Xuất thân và con đường học tập
Thầy Vũ Tông Phan chào đời năm 1800. Đây cũng là những năm tháng nhiều biến động của lịch sử. Chỉ hai năm sau, Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long đã lên ngôi với niên hiệu Gia Long. Sử gia Trần Trọng Kim nhận xét về ông vua này: “Công nghiệp của ngài thì to thật, tài trí của ngài thì cao thật, nhưng chỉ hiểm một điều là khi công việc xong rồi, ngài không bảo toàn cho những công thần, mà lại lấy những chuyện nhỏ nhặt đem giết hại những người có công với ngài, khiến cho hậu thế ai xem đến những chuyện ấy, cũng nhớ đến vua Hán Cao, và lại thở dài mà thương tiếc cho những người ham mê hai chữ công danh…”. Với một người như thế – nhất là người từ Đàng Trong đang thắng thế chiếm giữ quyền lực, thì rõ ràng các sĩ phu đương thời làm sao có thể tin cậy mà ra cộng tác? Hơn nữa, các sĩ phu Đàng Ngoài vẫn còn nặng lòng với triều Lê nên họ không hào hứng gì trước những lời “chiêu hiền đãi sĩ” của triều Nguyễn mới dựng lên. Do đó, sau khi đậu Tú tài khoa thi đầu tiên của triều Nguyễn tổ chức năm 1807, cụ Cửu không theo nghiệp bút nghiên nữa mà “ẩn cư thụ đồ” – ở ẩn dạy học. Như vậy, ngay từ nhỏ thầy Vũ Tông Phan đã được khai tâm học tập với cha. Sau này, năm 19 tuổi, khi đã đậu tú tài thì thầy ra Thăng Long học với cậu ruột Phạm Quý Thích. Có thể nói đây là những năm tháng có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của thầy. Tại nơi “ngàn năm gương cũ soi kim cổ”, thầy kết bạn với những tài năng tuấn tú như Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Lý, Ngô Thế Vinh, Chu Doãn Trí… Lúc trò chuyện với bạn hữu, thầy thường ngâm mấy câu thơ để nói lên cái chí của mình và cũng tự động viên lẫn nhau (dịch nghĩa):
Lũ chúng ta là những người có thể cắp cả trời đất mà đi,
Mong sao hoài bão đó mãi mãi không nguội lạnh.
Đừng nói đến chuyện giàu nghèo…
Phải biết mọi chuyện rốt cuộc là do ta,
Chớ lo người khác ảnh hưởng đến thành bại của mình.
Là người tự tin như thế nên không phải ngẫu nhiên mà trong số các môn đệ của cụ Phạm Quý Thích thì Vũ Tông Phan là một trong những người thành đạt sớm nhất, năm 1826, năm 26 tuổi đã đậu Tiến sĩ dưới đời vua Minh Mạng.
Quan lộ
Thế nhưng, bước đường làm quan của thầy không mấy suôn sẻ, thầy từng bị cách chức vì không đàn áp phong trào khởi nghĩa của nông dân mà theo quan điểm của triều Nguyễn là “giặc cướp”. Giai đoạn lịch sử này, sử gia Trần Trọng Kim cho biết ngoài việc Tiêm La (tức Xiêm La – Thái Lan hiện nay), Lào đánh phá từ biên giới, còn trong nước “Bắc Kỳ tuy đã thống thuộc về nhà Nguyễn rồi, nhưng còn có người mong nhớ nhà Lê, thỉnh thoảng lại có nơi nổi lên, hoặc muốn khôi phục cho nhà Lê, hoặc để chống cự với quan nhà Nguyễn, bởi thế cho nên ở đất Bắc cứ loạn lạc luôn” và nhất là “Quan lại cứ hay nhũng nhiễu làm cho lòng người không được thỏa thuận”. Với một người từng khiêm tốn tự nhạo mình:
Rằng thấp thì không, cũng chẳng cao,
Chẳng phường tục tử, chẳng anh hào.
Học tuy chứa nhiều, riêng biết phận,
Xảo chẳng bằng người, phải gian lao.(bản dịch Vũ Thế Khôi)
thì khó có thể hòa nhập với guồng máy cai trị đương thời. Trong bài thơ Ngẫu cảm thấy tâm sự:
Phong trần trót dấn phải gieo neo,
Bởi chẳng tìm ra cách trị nghèo.
Học cách làm quan nay chẳng hợp,
Đi cày kiếm bữa vụng tay gieo.
Làm thợ sợ lòng trơ như máy,
Buôn bán lại lo tiếng ác điều.
Tự trách mưu sinh tài thảy vụng,
Thôi đành mặc phận, ngó nhìn theo.(Bản dịch Vũ Thế Khôi)
Do đó, đường hoạn lộ của thầy lắm gập ghềnh, gian nan và cuối cùng con đường mà thầy chọn là xin nghỉ hưu để về mở trường dạy học vẫn là quyết định sáng suốt và đúng đắn nhất. Đó là năm 1833. Ngôi trường của thầy ban đầu dựng trên sông Nhị Hà, sau thầy chuyển về trong công viên gia cư thuộc phường Báo Thiên (nay là trụ sở báo Nhân Dân ở phố Hàng Trống). Thuở ấy, thầy cho dựng nếp nhà năm gian, đặt tên là Hồ Đình. Nghe tiếng thầy, các môn sinh đến thọ giáo ngày một đông. Nhờ sự dạy dỗ nghiêm khắc và tận tụy của thầy mà nhiều người sau này đỗ đạt như Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Hoàng giáp Lê Đình Diên, Cử nhân Nguyễn Huy Đức, Ngô Văn Dạng hoặc có người về sau nối nghiệp thầy mở trường dạy học… Thời bấy giờ, những sĩ tử xuất thân từ Hồ Đình qua các khoa thi Hương, thi Hội đều chiếm số lượng cao nhất. Tiếng lành đồn xa. Ngưỡng vọng một thầy giáo có công đào tạo nhiều nhân tài như thế, vua Tự Đức đã sai người ra Thăng Long vời thầy vào kinh đô để ban khen.
Được vua Tự Đức ban khen vì công đào tạo nhân tài
Trưa ấy, nắng mới trải dài trên vòm cây long não, lấp lánh một thứ ánh sáng trong veo. Lòng thầy bồi hồi vô hạn, thầy chợt ngậm ngùi nhớ lại năm tháng tuổi trẻ mình từng công cán nơi đây. Chao ơi! Năm tháng tuổi trẻ hoa mộng trôi qua thật nhanh. Mới đó thôi mà nay tóc thầy đã lốm đốm bạc. Bước lên thềm rồng, thầy mừng vì việc làm của mình không đến nỗi vô ích trong thời buổi nhiễu nhương này. Đây là cái nghề mà nói như Mạnh Tử là được dạy những anh tài trong xã hội, thế thì tại sao lại không tự hào? Yến tiệc đã bày ra trong không khí trang trọng lạ thường. Quan Khâm sai vào tâu với vua Tự Đức, các bá quan văn võ đã đến đông đủ mời ngài ra ngự. Nhà vua truyền lệnh cho các quan tiếp thầy. Thầy được mời ngồi ở ghế đầu. Khi thầy đã yên vị thì quan Thượng thư Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Trọng Hợp vẫn kính cẩn đứng yên. Vì thế các vị quan khác không một ai dám ngồi cả, khi mà hai vị đại thần vẫn còn đứng hầu thầy. Thấy thế, thầy quay lại ôn tồn nói:
Ta cho phép hai anh vào dự tiệc.
Bấy giờ các quan mới lục tục ngồi vào bàn. Xong yến tiệc, nghe kể lại chi tiết cảm động về sự tôn sư trọng đạo, vua Tự Đức rất cảm kích. Ngài mời thầy ở lại kinh đô để giữ chức Tư giám Quốc tử giám, nhưng thầy lấy cớ phụng dưỡng cha mẹ đang đau yếu để khéo léo từ chối. Không thể ép nài được một người đã muốn xa lánh chốn quan trường, vua Tự Đức cho thầy được về quê cũ. Ngài có ban cho thầy biển vàng khắc bốn chữ “Đào thục hậu tiến” – nghĩa là có công dạy bảo lớp người sau.
Trước đây khi còn làm quan, tâm trạng của thầy thường không vui. Trong bài thơ Ngồi rỗi tính nợ (thầy viết mà chúng tôi tạm dịch):
Sinh ra, ta đã nợ
Nợ tiền, nợ làm quan
Nợ tiền còn trả được
Nợ làm quan gian nan!
Nghe ra thật chua chát! Thế nhưng, lúc dạy học thì tâm hồn thầy nhẹ nhõm, sảng khoái biết chừng nào như thầy cho biết qua bài thơ Tức sự nhân dạy sớm ở trường học, chúng tôi tạm dịch:
Nhà bên chày gạo đã vang lên,
Con nhỏ ê a sách thánh hiền.
Ngoài sân gọi bạn gà cục tác,
Bên giậu chim reo nắng mai lên.
Nhá khói thuốc xong, trời vừa chuyển,
Ngâm trọn câu thơ tỉnh giấc liền.
Ngồi dậy trà suông dăm ba chén,
Đón học trò vui với bút nghiên.
Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hiến
Không chỉ là một người thầy tận tụy với công việc sư phạm, Vũ Tông Phan còn là người có ý thức giáo dục thế hệ sau thông qua việc tu bổ các di tích văn hóa của tiền nhân để lại. Từ năm 1836, cùng các sĩ phu Hà thành, thầy dựng Văn chỉ Thọ Xương với mục đích thể hiện qua câu đối của thầy treo tại bái đường:
Phong văn nước cũ truyền người trước,
Mực thước đạo xưa dẫn kẻ sau.(Vũ Thế Khôi dịch)
Có thể xem đây là tư tưởng chủ đạo của thầy trong việc kế thừa và phát huy truyền thống văn hiến của dân tộc. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà năm 1840, khi viết văn bia ca ngợi công đức Hai Bà Trưng, tưởng chừng như thầy rút ruột ra để viết từng dòng chữ tự hào để thể hiện thành câu văn thật hay:
Ôi trí tuệ biết nhường nào! Tài giỏi biết nhường nào! Nghĩa liệt và khí khái biết nhường nào! Chị em một nhà, anh hùng nghìn thuở. Có lẽ trong nữ giới chưa bao giờ có người như thế, mà cũng là việc hiếm có trong dòng họ nhà tướng. Việc làm của kẻ trượng phu không thể lấy thành hay bại mà bàn luận. Việc làm của Hai Bà càng không nên lấy thành bại mà luận bàn. Nghìn đời sau, đọc sử xưa càng tăng thêm khí phách.
Năm 1841, sau khi trùng tu xong miếu Hỏa thần tại huyện Thọ Xương, thầy lại viết văn bia, trong đó có đoạn bộc bạch quan niệm của thầy về việc làm quan:
Tôi nghĩ đến cái nghĩa của người quân tử là lo cho dân và sau nữa là dốc sức với thần. Hà Nội buổi đầu lập quốc (ý nói đầu triều Nguyễn) gọi là Bắc Thành, là chỗ hội tụ đầu mối giao thông thủy bộ từ các tỉnh về. Để lửa phát hỏa hoạn hay không là có quan hệ đến niềm vui hoặc nỗi lo của dân. Do đó, lo liệu cho dân ở một phương là trách nhiệm của quan coi giữ địa phương ấy.
Rồi sau này, năm 1841, thầy được bầu làm hội trưởng Hội Hướng Thiện và Hội đã mua lại chùa Ngọc Sơn để làm trụ sở hoạt động của những người cùng chí hướng. Trong bia dựng nhân khánh thành trụ sở của Hội, thầy Vũ Tông Phan đã cho biết về cổ tích của hồ Gươm xưa. Thiết tưởng đây là một di tích văn hóa của đất ngàn năm văn vật nên chúng ta cũng cần biết qua nội dung của tấm bia này – nhất là giữa lúc cả nước đã long trọng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội với tất cả lòng tự hào:
Từ xưa đến nay, cảnh đẹp thường không bị bỏ hoài. Hồ Tả Vọng tên cũ Hoàn Kiếm là một danh thắng đất kinh kỳ xưa. Phía bắc mặt hồ, một gò đất nổi lên rộng khoảng ba bốn sào, tương truyền là chỗ câu cá thời cuối nhà Lê. Trước đây ông Tín Trai làng Nhị Khê, nhân có đền Quan Đế tại đấy bèn mở rộng sửa sang thêm gọi là chùa Ngọc Sơn. Phía Nam, trước mặt chùa dựng một gác chuông. Cảnh này nhân đó mà thêm phần xinh đẹp. Lâu năm, chùa hư nát, tưởng như theo người mà cùng tiêu vong.
Gần đây có Hội Hướng Thiện vốn do những người trong khoa mục thành lập. Ở thời kỳ đầu Hội chủ yếu nhằm cố gắng làm những việc đem lại lợi ích cho người. Hội vốn thờ Văn Xương Đế Quân (tức những vị thần trông coi về văn chương, khoa cử) mà chưa có đền. Các con ông Tín Trai vốn thường đi lại giao hảo với Hội, tình nguyện nhượng lại nơi này. Những người trong Hội bèn tới trước Đế Quân xin quẻ và được bài thơ:
Gươm báu mới mài ngời ánh sáng,
Hành hay tàng vẫn rạng muôn phương.
Cội nền thuở trước còn nguyên đó,
Tô điểm huy hoàng tiếng dậy vang.Hội liền sửa lại đền Quan Đế, dỡ bỏ gác chuông, cải tạo thành đền Văn Xương Đế Quân. Đền có ba gian, ở giữa thờ tượng thánh mới làm, hai bên nách mỗi bên một gian, các phòng đông, tây đều năm gian. Bắt đầu xây dựng từ mùa đông năm Tân Sửu (1841) đến mùa thu năm Nhâm Dần (1842) thì hoàn thành. Tiền phí tổn Hội cấp và do thập phương quyên góp, kể tốn không dưới 3.000 quan, quy mô so với trước đây tráng lệ hơn nhiều.
Ôi! Hồ Gươm là cảnh đẹp thiên nhiên, núi không cần cao, nước không cần sâu và cũng không cần có bàn tay khéo léo của con người mà tăng hay giảm giá trị. Duy đối với cảnh trước mắt há nỡ phụ mà để suông hoài. Nếu có người thì nên hòa hợp cùng cảnh. Hội Hướng Thiện xin quẻ làm đền mà được, đó là do một lòng chân thành của người mà cảnh đẹp cũng được nhờ cậy. Từ nay thờ thần đã có nơi, kẻ sĩ phu kết bạn với nhau yêu cảnh này, vì mến tên hồ này mà việc tu dưỡng du ngoạn nghỉ ngơi đều có nơi chốn. Hứng vui ngắm trăng dưới nước, hóng gió trên non có thể giúp nhiều cho điều thiện đâu chỉ riêng mình được hưởng.
Tôi dạo chơi ngắm cảnh đã nhiều năm, nay đến đền nhìn xa bốn phía, cảnh đền đổi mới rõ ràng, nhất định sẽ khiến cho người từng chọn con đường thiện, trước cảnh đó mừng vui nay càng mừng vui gấp bội. Ôi! Cảnh như thế không có trơ trọi. Nếu ta cố gắng làm điều lành, thần linh tất chứng giám, chẳng cần nói nhiều thêm nhàm lời. Nay làm bài ký.
Tinh thần giáo dục, câu chuyện với học trò Vũ Duy Ninh
Được học với người thầy có tấm lòng nhân ái và hướng thiện như thế, chắc chắn các môn sinh thấm nhuần được lòng nhân mà thầy đã dày công dạy dỗ. Điều nầy có một ý nghĩa đặc biệt, khi mà con đường tiến thân của sĩ tử thời bấy giờ là học để thi đậu rồi ra làm quan. Làm quan nếu không có lòng thương dân, thương nước thì thật uổng phí bao năm dùi mài ở cửa Khổng sân Trình! Và theo thầy để được ra làm quan thì phải bằng sức học của mình, chứ không phải tìm mọi cách để ngoi lên quyền cao chức trọng.
Như thường lệ, trưa ấy khi bóng nắng đổ dài trước thềm cửa thì thầy cho các môn sinh tạm nghỉ. Gió thu thoảng qua rèm cửa. Ngoài sân, có tiếng chim hót lảnh lót. Tiếng hót trong veo như ai gieo từng chuỗi ngọc xuống hiên nhà. Ngồi bên án sách, thầy vẫn đang thong thả chấm bài. Nghiên mực như vơi dần. Thầy mỉm cười khi thấy môn sinh ngày học một khá hơn và nét chữ cũng chững chạc hơn trước. Bỗng có tiếng động ngoài cửa, thầy ngước mắt lên thì thấy một lũ học trò rụt rè bước vào trong nhà. Thầy hỏi nguyên cớ thì cậu trưởng tràng đứng khoanh tay thưa chuyện. Cậu lấm lét thưa với thầy là có quan Khâm sai của triều đình đến trường, không rõ vì nguyên cớ gì! Thật vậy, ngay từ ngoài ngõ xa, họ đã xuống ngựa đi bộ. Đi đầu là hai tên lính bưng mâm son có phủ vải điều, quan Khâm sai lững thững bước và phía sau cũng có những tên lính khác rảo chân theo hầu. Thiên hạ lao xao nhốn nháo, không rõ thầy Vũ Tông Phan dạy những gì mà quan Khâm sai phải đích thân xuống tận trường!
Nghe cậu trưởng tràng thưa chuyện như thế, thầy vẫn điềm tĩnh ngồi trước án sách, nét mặt không lộ điều gì. Lúc ấy, quan Khâm sai đã đi thẳng vào trường Hồ Đình. Hai tên lính đi đầu nhanh nhẹn đặt mâm son trên cái bàn nhỏ trước mặt thầy rồi lui ra. Quan Khâm sai bước đến trước chỗ thầy đang ngồi và bất ngờ thay, quan quỳ xuống vái thầy hai vái rồi mở vuông vải điều đang phủ kín trên mâm son. Trên đó có bốn bao chè, hai bánh thuốc lào và một xấp vải lụa quý. Hai tay quan kính cẩn bưng mâm đặt trên sập thầy đang ngồi và thưa:
– Bẩm thầy, con là Vũ Duy Ninh xin được tạ lỗi trước thầy.
– A! Trò Ninh! Thuở xưa nghịch mà học giỏi nhất lớp đây mà. Thầy thoáng chút ngạc nhiên và ôn tồn bảo:
– Chuyện gì vậy? Anh cứ ngồi lên sập rồi nói cho ta rõ.
Vừa nói, thầy vừa chỉ tay vào góc sập, nhưng quan Khâm sai vẫn đứng yên và cúi đầu nói:
– Bẩm thầy, anh Như Trâm khoa này hỏng là vì con ạ!
Nghe nhắc đến tên người con trai đầu mà thầy đặt vào đó nhiều kỳ vọng, nhưng thầy không hiểu làm sao cả nên hỏi:
– Vậy đầu đuôi câu chuyện như thế nào?
Quan Khâm sai vẫn đứng yên với nét mặt rầu rầu:
– Bẩm thầy, khi chấm bài thi con có đọc bài làm của một thí sinh viết rất hay đáng lấy đỗ Cử nhân, nhưng trong đó lại viết chữ Hường đọc trùng âm với chữ Hồng là tên của nhà vua. Theo quy chế thi cử của triều đình, bài làm như vậy là phạm húy (1) nên với tư cách là chánh chủ khảo nên con đã đánh rớt. Không ngờ, khi ráp phách thì con được biết thí sinh ấy không phải ai xa lạ mà chính là anh Như Trâm nhà ta! Con bàng hoàng vì mình đã quá khắt khe mà đánh rớt cả con trai của thầy! Con thật có lỗi với thầy.
– À thì ra vậy! Vua Tự Đức tên hiệu là Hồng Nhậm nên mới xảy ra có sự này.
Nghe xong, nét mặt vẫn nghiêm nghị, thầy bảo:
– Con làm như vậy là đúng. Cứ theo phép nước mà làm. Chẳng lẽ là con của thầy thì con cho đỗ, còn người khác thì phải đánh hỏng sao? Làm sao lại có chuyện vì tình riêng mà bỏ phép nước? Con chẳng nên băn khoăn nhiều. Em nó làm bài có khinh xuất, không thận trọng nên đành phải chịu thôi. Đó cũng là một cách để răn em nó lần sau cẩn thận hơn.
Nghe thầy dạy như thế, quan Khâm sai Vũ Duy Ninh nhẹ cả người, tưởng như đã trút được tảng nặng mà bấy lâu cứ mang theo trong mình. Thông thường, những người hiếu để với thầy thường là những người có đạo đức, biết sống sao cho xứng đáng ở trên đời. Trường hợp của Vũ Duy Ninh cũng vậy, về sau, ông được cử làm Tổng đốc Định Biên (Gia Định – Biên Hòa) dũng cảm lãnh đạo dân quân trong thành chống Pháp. Lúc thành Gia Định thất thủ (17/2/1859), ông thắt cổ chết chứ không đầu hàng giặc! Có thể nói, những học trò như thế làm đẹp thêm cho danh của thầy, nhưng được vậy thì người thầy ắt phải đạo cao đức trọng.
Trong Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn có cho biết:
Nhiều người học trò theo học, Vũ Tông Phan tu dưỡng, hòa nhã. Học trò suốt ngày ở bên cạnh chưa từng thấy thầy có sắc giận và lời nói xẵng. Khi trước có lần Vũ Tông Phan từ kinh đô vượt biển về, gặp gió to, người trong thuyền đều sợ hãi, độc một mình ông ngâm vịnh như thường. Lại thường ở xóm, bọn cướp chợt đến, ông thong thả bước ra, bọn cướp biết mặt, không dám xâm phạm. Người ta đều phục ông là người có thiên lương.
Cuối đời
Từ năm 1849, với cái chí muốn ẩn dật, thầy rời trường Hồ Đình để về bên bờ sông Đáy – nơi mà ngày xưa cha của thầy đã từng dạy học. Thế nhưng, thầy không thể ẩn dật riêng mình mà theo lời thỉnh nguyện của nhân dân trong vùng, thầy lại phải mở trường ở Giang Đình để dạy trẻ. Lúc ấy thầy bộc bạch nỗi niềm của một người muốn quay về chốn cũ qua bài Đến Vân Đình ở Sơn Minh (tạm dịch):
Đình xưa vẫn bóng thu xa
Bốn mươi năm lại về qua chốn nấy
Bạn xưa thấp thoáng như mây
Sông xưa còn nhớ người này thuở xưa?
Thầy mất ngày 26/6 (âm lịch) năm 1851 trong sự thương tiếc của mọi người. Trong sử nhà Nguyễn cho biết là có đến hàng ngàn môn sinh đến khóc thầy.
Di sản
Ngoài sự nghiệp trồng người, thầy còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị mà ít người biết đến. Lý do đơn giản là các sáng tác ấy, thầy viết để trút tâm sự đau đời của mình, chứ không phải nhằm đạt mục đích lưu danh trên đời. Qua tập thơ Tô Khê tùy bút tập của thầy mới được các nhà nghiên cứu văn học phát hiện thì ta thấy thầy có suy nghĩ rất khiêm tốn:
Thơ thì danh gia cổ kim xuất hiện người người lớp lớp, thi phẩm như gấm như hoa, thực đáng cho lũ ta mang giữ bên mình. Còn như mấy lời quê dông dài này mà bảo là thơ, đem truyền tụng thì đâu có dám.
Thật đáng quý ở tâm hồn của một bậc túc nho. Công nghiệp của thầy về trước tác cũng như giáo dục để lại cho đời sau chắc chắn không phai mờ.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.