Giới thiệu
Trong đời sống và văn hoá của mỗi dân tộc trên thế giới có nhiều phong tục. tập quán khác nhau mà dựa vào dó dễ dàng thấy được đặc thù văn hoá của từng dân tộc. Và nếu như dành cho các dân tộc việc lựa chọn những gì tốt đẹp nhất trong mọi phong tục tập quán thì mỗi dân tộc sẽ lựa chọn những phong tục tập quán đặc sắc nhất của chính mình. Đó cũng là điều dễ hiểu, vì mỗi dân tộc đểu muốn bao giờ cũng là chính mình. Cuộc sống của người Việt cũng toát lên ý tưởng đó. Một người Việt Nam đích thực, không thổ chỉ là người có quốc tịch Việt Nam, hay nói sõi tiếng Việt, người đó còn phải trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền văn hóa truyền thống, một người luôn biết “gạn đục khơi trong” đế sống bằng tinh thần “cội nguồn” do ông cha ta để lại qua bao tháng trầm của lịch sử.
Tính cách và tâm hồn Việt Nam được hình thành từ nhiều yếu tố, trong đó vai trò quan trọng thuộc về thuần phong mỹ tục, những yếu tố tạo nên môi trường văn hoá cuộc sống cho chúng ta từ khi còn ở trong bụng mẹ. Từ lúc phôi thai chúng ta đã được bao bọc bởi những tập tục, nghi lễ đầy ý nghĩa nhân văn. Các tục thai giáo, phôi sinh, v.v. dù có nhiều điều mang tính dị đoan song bao trùm lên tất cả là ước muốn “mẹ tròn con vuông”, giống nòi phát triển. ý tưởng này còn xuyên suốt những tập tục, nghi lễ được tiến hành suốt thời gian sau khi đứa trẻ chào đời: cúng bà mụ, thờ cúng các thần, gia tiên, lễ đầy tháng, đầy năm…
Khi bước vào tuổi trưởng thành ta bắt đầu học và dần dần thay thế ông bà cha mẹ tiến hành nhiều tập tục khác như thờ cúng tổ tiên, tiến hành lễ tết, việc hiếu, việc hỷ,… tùy theo tín ngưỡng của mỗi người, việc tổ chức, tiến hành, noi theo các tập tục có khác nhau, song có lẽ tất cả không ngoài một ý thức dân tộc, một môi trường dân gian truyền thống hun đúc lên tâm hồn người Việt Nam, tạo nên một cộng đồng thuần khiết Việt Nam dù cho các thành viên có thể có tín ngưỡng rất khác nhau (như người thì theo Phật giáo, người theo Thiên chúa giáo, v.v.).
Tập tục, nghi lễ mà mỗi người được nhào nặn qua suốt cuộc đời là thế ứng xử của mỗi con người trước các mối quan hệ tổng hoà Nhân – Địa – Thiên. Quan niệm triết học đó bao trùm lên ý thức hệ của mỗi thành viên cộng đồng từ khi sinh ra trong trứng nước. Mối tương quan đó còn chi phối mọi liên hệ khác của các thành viên cộng đồng: gia đình, làng xã, lao động sản xuất… Những tập tục được biến đổi theo dòng lịch sử, dưới ảnh hưởng của các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau đã trở nên đa dạng và có nhiều sắc thái khác nhau, song những nét đặc trưng vẫn ngày càng lô đậm thêm, được cải biến phù hợp với sự phát triển của từng thời đại. “Uống nước nhớ nguồn” – đó là ý nghĩa to lớn của tín ngưỡng cổ truyền về thờ phụng tổ tiên, việc cúng giỗ những người đã khuất. Rất có thể tín ngưỡng này đúng là do người Trung Hoa truyền sang ta. Nhưng chắc hơn cả là trong ý thức ngàn xưa của người Việt cổ, việc thờ phụng ông bà tổ tiên chắc hẳn đã có dưới hình thức phôi thai nào đó, và chỉ có như vậy họ dễ dàng tiếp nhận hơn những nét tư tưởng và nghi thức tổ chức của người Trung Hoa. sắc thái riêng biệt của người Việt trong việc thờ phụng tổ tiên cho thấy tín ngưỡng này là một sự hỗn dung, một tín ngưỡng thuần Việt chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa mà thôi.
LÊ TRUNG VŨ – NGUYỄN HỒNG DƯƠNG – LÊ HỒNG LÝ – LƯU KIẾM THANH
Người Việt Nam truyền bá nhiều tôn giáo, tín ngưỡng. Song chỉ chấp nhận tôn giáo, tín ngưỡng nào không đi ngược lại với căn bản đạo đức dân tộc, không chống lại những điều đã được tổ tiên ta còng nhận, rút ra từ nền tảng đạo đức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Quan niệm về sự tiếp xúc của thế giới trần gian với thế giới Thần Phật, ma quỷ, vong linh qua hương khói, cúng bái không hoàn toàn là một điều mê tín dị đoan. Việc nhớ về cội nguồn, ý thức tin tưởng và sợ hãi “trời tru đất diệt” đối với những ứng xử xấu, hoàn toàn có ích để tạo nên nhân cách con người, thúc đẩy làm điều thiện, cản ngăn điều ác, xấu xa tội lỗi. Cho rằng mọi “Nếp cũ” là lạc hậu, mê tín dị đoan không thể biện bạch được cho thái độ thờ ơ, kém hiểu biết của nhiều người hiện nay đối với “nếp sống” của dân tộc. Muốn có được một “phong cách sống hiện đại” phù hợp với đạo lý truyền thống của dân tộc cần biết rõ “nếp cũ”, thấy được những nét tích cực, đáng trân trọng giữ gìn, gạn lọc được tinh hoa, xác định rõ hạn chế, những gì là mê tín dị đoan để gạt bỏ, đó mới là con đường đi đúng đổ tới được một “phong cách sống Việt Nam hiện đại” phù hợp với thời đại mới. Trước sự du nhập và ảnh hưởng mạnh mẽ của nhiều văn hoá ngoại lai hiện nay việc giáo dục cho thế hệ trẻ một “lối sống Việt Nam” thuần khiết mà hiện đại, việc trang bị cho họ một kiến thức tổng quát về “phong cách Việt Nam truyền thống” là hết sức cần thiết bên cạnh việc trang bị những kiến thức hiện đại không thể thiếu về tin học, tiếp thị, v.v.
Chúng ta mong mỏi được hòa nhập cùng cộng đồng quốc tế đi tới tương lai. song không thể vì thế mà phải trở thành mờ ảo, phai nhạt truyền thống để mình không còn phải là mình. Con người được xác định trong thế giới vạn vật là Homo sapien – Con người trí tuệ, là Homo faber – Con người lao động, song đó còn là Homo Ludens – Con người lé hội. Con người hiện đại phải là sự tổng hòa của những đặc trưng đó. Chỉ có trí tuệ, chi có lao động, hoặc chỉ có
lẻ hội không thật khó hình dung được cuộc sống của mỗi con người đích thực. Sự xói mòn đạo đức, khuynh hướng dân tộc trở nên mờ nhạt giữa muôn vàn màu sắc của cuộc sống hiện đại cho thấy đã đến lúc khẩn cấp đưa lại tín hiệu rằng chúng ta là “con rồng, cháu tiên”, nòi giống Hồng Bàng. Cũng nhằm mục tiêu đó chúng tôi thu nhập tài liệu và mô tả lại về một bộ phận quan trọng của đời sống văn hoá Việt Nam là Nghi lỗ đời người. Những kiến thức này chỉ là giới thiệu, bước đầu còn sơ sài, song chắc chắn hữu ích cho bạn đọc. “Trở lại cội nguồn” không chỉ là khẩu hiệu. Nó cần được thực hiện trong những hoạt động cụ thể hàng ngày.
Hy vọng rằng những điều chúng tôi thu lượm được lừ dân gian, sách vở và kinh nghiệm bản thân, được trình bày trong các chương sau đây sẽ phần nào hữu ích cho bạn đọc trên con đường đi tới một CON NGƯỜI VIỆT NAM TINH KHIẾT.
Mục lục
Dẫn đề
- Chương Ị: Nghi lễ với cuộc sống phôi thai
- Chương II: Từ hài nhi đến tuổi đi học
- Chương III: Hôn lễ
- Chương IV: Lên lão
- Chương V: Tiễn đưa
- Chương VI: Lễ tiết
- Phụ lục: Văn khấn
- Bảng liệt kê các khái niệm