Trong lịch sử Việt Nam, khoảng thời gian từ năm 1975 đến năm 1986, chỉ hơn 10 năm, nhưng trên đất nước Việt Nam đã diễn ra biết bao sự kiện và những biến chuyển mang nhiều ý nghĩa.
Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Đây là thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam, là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và mở ra một trang mới trong lịch sử: Đất nước thống nhất, nhân dân được sống trong độc lập, tự do và cùng bắt tay xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc với mục tiêu: Vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Toàn thể nhân dân Việt Nam, từ Bắc chí Nam, phấn khởi và tin tưởng vào tương lai của dân tộc.
Quá trình thống nhất đất nước được thực hiện, trước hết về tổ chức Nhà nước, tiếp đó là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao…
Mở đầu cho quá trình ấy là cuộc Tổng tuyển cử ngày 25 tháng 4 năm 1976 bầu Quốc hội chung của cả nước. Sau cuộc Tổng tuyển cử, một Quốc hội chung, một Chính phủ chung ra đời: Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhân dân Việt Nam bắt tay vào khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm. Lúc này, thực trạng đất nước hết sức khó khăn: Nền kinh tế phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu, trong khi tình hình xã hội có nhiều biểu hiện phức tạp cần giải quyết với hàng triệu người không có việc làm, một bộ phận dân chúng di tản, tìm cách ra nước ngoài trước những khó khăn về nhiều mặt của cuộc sống và sự phiền nhiễu, vấp váp, sai lầm của “thuở ban đầu” làm công việc quản lý bộ máy nhà nước. Trong khi đó, tình hình quốc tế và khu vực gây ra nhiều thử thách với Việt Nam: Các lực lượng vũ trang Việt Nam phải chiến đấu giáng trả các cuộc tấn công xâm phạm lãnh thổ Việt Nam bằng quân sự trên quy mô lớn của Campuchia Dân chủ và Trung Quốc, bảo vệ vững chắc phần lãnh thổ ở vùng biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Không những thế, đáp ứng lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia, quân tình nguyện Việt Nam đã tiến vào đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêng Xary, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và tiếp đó hỗ trợ nhân dân nước bạn xây dựng lại đất nước từ sự hoang tàn của nạn diệt chủng, một việc làm được mô tả là “chắp những mảnh vụn lại với nhau” theo lời của hai tác giả người Australia Granter Ivans và Kenvil Rawley.
Những thách thức kể trên cùng với những chủ trương phát triển kinh tế – xã hội mang tính duy ý chí, xa rời thực tế đất nước và không kịp thời nhận biết những biến đổi trong quan hệ quốc tế, cộng thêm chính sách bao vây, cấm vận của các nước phương Tây đã khiến đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trong những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ XX.
Để thoát khỏi tình trạng khó khăn của đất nước, để cải thiện đời sống người dân, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, với tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng kiên cường, đã quyết tâm vượt qua khó khăn thử thách, vượt qua chính mình, tìm con đường phát triển… Trải qua những năm tìm tòi, thử nghiệm, những quyết định táo bạo được thực hiện, trước hết trong các hoạt động kinh tế, trong phân phối lưu thông, trong tổ chức và quản lý sản xuất…, tạo nên những khâu đột phá ngoạn mục trong nông nghiệp, công nghiệp, các hoạt động văn hóa, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh… Có thể nói, giai đoạn 1975-1986 đã cung cấp những kinh nghiệm quý giá và tạo cơ sở cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước chính thức bắt đầu từ năm 1986 với Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam.
Có thể nói, giai đoạn 1975-1986 là một “chặng đường gian nan và ngoạn mục” với biết bao sự kiện và biến chuyển phong phú, mang nhiều ý nghĩa. Vì vậy, viết về giai đoạn lịch sử này, theo các tác giả của tập sách, là rất khó khăn, khi tài liệu thu thập được còn nhiều thiếu sót, và khả năng của chúng tôi còn hạn chế. Kính mong bạn đọc góp ý kiến để chúng tôi sửa chữa, bổ sung khi tập sách có điều kiện tái bản.
Xin trân trọng cảm ơn.
Thay mặt nhóm tác giả
PGS.TS. TRẦN ĐỨC CƯỜNG
Bộ sách Lịch sử Việt Nam
TẬP 1: TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ X
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền (Chủ biên)
- TS.NCVC. Nguyễn Hữu Tâm
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- TS.NCVC. Trương Thị Yến
TẬP 2: TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỶ XIV
- PGS.TS.NCVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Hà Mạnh Khoa
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi -TS.NCVC. Đỗ Đức Hùng
TẬP 3: Từ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XVI
- PGS.TS.NCVC. Tạ Ngọc Liễn (Chù biên)
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Minh Tường
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền
TẬP 4: TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN THẾ KỶ XVIII
- PGS.TS.NCVCC. Trần Thị Vinh (Chủ biên)
- TS.NCVC. Đỗ Đức Hùng
- TS.NCVC. Trương Thị Yến
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Thị Phương Chi
TẬP 5: TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858
- TS.NCVC. Trương Thị Yến (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Vũ Duy Mền
- PGS.TS.NCVC. Nguyễn Đức Nhuệ
- NCV. Phạm Ái Phương
- TS.NCVC. Nguyễn Hữu Tâm
TẬP 6: TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1896
- PGS.TS.NCVCC. Võ Kim Cương (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Hà Mạnh Khoa
- TS. Nguyễn Mạnh Dũng
- ThS.NCV. Lê Thị Thu Hằng
TẬP 7: TỪ NĂM 1897 ĐẾN NĂM 1918
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- NCV. Phạm Như Thơm
- ThS.NCV. Nguyễn Lân Dũng
- ThS.NCV. Đỗ Xuân Trường
TẠP 8: TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1930
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- PGS.NCVC. Ngô Văn Hòa
- PGS.NCVC. Vũ Huy Phúc
TẬP 9: TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945
- PGS.TS.NCVCC. Tạ Thị Thúy (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVCC. Nguyên Ngọc Mão
- PGS.TS.NCVCC. Võ Kim Cương
TẠP 10: TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1950
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Thị Thu Cúc (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải
TẠP 11: TỪ NĂM 1951 ĐẾN NĂM 1954
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải
TẠP 12: TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965
- PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)
- NCV. Nguyễn Hữu Đạo
- TS.NCVC. Lưu Thị Tuyết Vàng
TẬP 13: TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên)
- TS.NCV. Đỗ Thị Nguyệt Quang
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Quang Hải
TẬP 14: TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1986
- PGS.TS.NCVCC. Trần Đức Cường (Chủ biên)
- TS.NCVC. Lưu Thị Tuyết Vân
- PGS.TS.NCVCC. Đinh Thị Thu Cúc
TẬP 15: TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2000
- PGS.TS.NCVCC. Nguyễn Ngọc Mão (Chủ biên)
- PGS.TS.NCVC. Lê Trung Dũng
- TS.NCVC. Nguyễn Thị Hồng Vân