Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Nam Đồng tên chữ là Càn An tự, tọa lạc tại số 32 ngõ 64 phố Nguyễn Lương Bằng, phường Đống Đa, Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Lịch sử hình thành
Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng vào năm 1141, niên hiệu Đại Định thứ 2, triều Lý Anh Tông, do tín chủ Thành Dương công chúa cùng thập phương tiến cúng, sau đó thỉnh Thiền sư Bản Tịnh trụ trì.
Tuy nhiên, căn cứ vào chiếc bia sớm nhất còn lưu lại tại chùa là Càn An tự bi ký niên đại Vĩnh Tộ thứ 3 (1621) chỉ biết chùa là một danh lam cổ tự lâu đời, trải qua cơn binh hỏa, chùa đổ nát, lâu lâu lại có người xâm lấn đất chùa, chỉ còn lại một khu đất. Sau khi Bình An Vương Trịnh Tùng khôi phục lại đất nước, các chùa chiền, đường xá đều được tu bổ. Khi đó, có Tăng thống ty Tăng lục viện Nguyễn Nhân, tự Pháp Tàng ở thôn Thượng xã Yên Lãng huyện Thanh Trì đã đứng ra quyên 2 mẫu đất để xây dựng lại chùa đẹp hơn trước. Năm Nhâm Tý (1612), nhân dân hết lòng hưng công tiền của mở rộng nền chùa, làm lại cột rường, hành lang bốn phía, tô đắp tượng vàng,…
Văn bia Càn An tự bi / Đông giáp hưng công tạo và Hội chủ hưng công tạo Càn An tự bi cùng niên đại Cảnh Hưng thứ 18 (1697) cho biết Thôn Nam Đồng sở Dịch Vọng có chùa Càn An là danh lam cổ tự, trải qua bao năm tháng mưa nắng nên bị hư hại. Nay dân giáp Đông bản sở cùng hưng công trùng tu Thượng Điện, Tiền Đường, Gác Chuông, Tam Quan, hành lang, đúc tượng,…
Năm 1736, Thiền sư Tính Tuyền – Trạm Trạm sau khi du học tại chùa Khánh Vân, núi Đỉnh Hồ, tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc) đã thỉnh hơn 300 bộ kinh với số lượng hàng ngàn quyển an trí tại chùa Càn An để bổ sung kinh sách Phật giáo bằng chữ Hán ở Việt Nam.
Năm 1786, vua Quang Trung đem quân ra Bắc với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh, khi về để Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Thăng Long giúp Lê Chiêu Thống, tuy nhiên Nguyễn Hữu Chỉnh lộng quyền theo vết cũ của nhà Trịnh lấn át vua Lê, ngang nhiên đập phá tượng Phật, chuông đồng để đúc vũ khí nên chùa lại một lần nữa bị tàn phá. Năm 1812, chùa được khôi phục lại, đúc chuông mới, những điều này được chép lại trong quả chuông niên hiệu Gia Long thứ 11 của chùa.
Thế hệ sư trụ trì
- Thiền sư Bản Tịnh (1100 – 1176) thuộc thế hệ thứ 9 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, là đệ tử của Thiền sư Mãn Giác. Ngài sinh ra tại Phù Diễn, huyện Vĩnh Khương (nay thuộc Từ Liêm, Hà Nội).
- Tăng thống Nguyễn Nhân, pháp hiệu Đức Thiệu, tự Pháp Tạng.
- Thiền tăng Đạo Thành – Phúc Tiên, thế danh Nguyễn Văn Trinh, quê thôn Thượng, xã Kính Chủ, huyện Từ Liêm.
- Sâm Sơn lão phu Tính Quảng, họ Nguyễn, sinh ngày 14/4 năm Giáp Dần, quê làng Phúc Mễ, tỉnh Bắc Ninh. Là đệ tử của Thiền sư Tịnh Niệm, Ngài là người khai sáng và kiêm trụ trì chùa Linh Quang tại thôn Nội Trà, Bắc Ninh, có ảnh hưởng sâu rộng trong vùng.
- Thiền sư Hải Bật – Thích Ngân Ngân, xuất gia từ năm 18 tuổi, là đệ tử của Thiền sư Tính Quảng. Sau đó, Ngài tu học pháp môn thâm sâu với Thiền sư Tịnh Tuyền – Trạm Trạm.
- Đồng trụ trì – Hai đệ tử xuất sắc của Thiền sư Hải Bật
- Thiền sư Tịch Nghiêm, hiệu An Tâm, họ Bùi, quê xã Quất Động, phủ Thường Tín – Thượng Phúc – Hà Đông
- Thiền sư Tịch Tính, họ Bùi, quê xã Quất Động, phủ Thường Tín – Thượng Phúc – Hà Đông
- Thiền sư Chiếu Kiến, quê thôn Ngọc, huyện Kim Anh, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội).
- Thiền sư Tâm Tịch, hiệu Phạm Hạnh, thế danh Trần Văn Ty.
Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1951), chùa bị bom đạn tàn phá, nhiều lần rơi vào cảnh hoang tàn, không có sư trụ trì. Đến năm 1952, Tỳ khiêu Ni pháp danh Đàm Hỷ, hiệu Từ Phương, về tiếp nhận trụ trì, đứng ra chấn hưng ngôi chùa, khôi phục cảnh quan, tu sửa chùa chiền và tổ chức đào tạo Ni giới. Từ đó đến nay, chùa trải qua các đời Ni trưởng trụ trì như sau:
- Ni trưởng Đàm Hỷ, hiệu Từ Phương (1952 – ?)
- Ni trưởng Đàm Nguyên – Đàm Trung
- Ni trưởng Đàm Duyệt
- Ni sư Đàm Tiến
- Tỳ khiêu Ni Đàm Tịnh
Kiến trúc cảnh quan
Tam Quan
Tam Quan của chùa Càn An gồm ba cổng xây cuốn vòm, theo kiểu chồng diêm hai tầng, tám mái đao cong. Trên bờ nóc chính giữa có đắp hình mặt trời lửa, còn các đầu đao đều gắn hình rồng cách điệu. Cổng được trang trí thêm bằng hình hổ phù, rồng lá, vân mây, tạo cảm giác uy nghi nhưng vẫn hài hòa. Tam Quan được liên kết với nhau bằng bốn trụ biểu và các bức tường lửng, trên đó chạm khắc hình trái dành, nghê chầu, xen lẫn các mô típ tứ linh, tứ quý cùng hoa lá cách điệu.
Tiền Đường
Chính điện của chùa quay hướng Nam, có kết cấu theo dạng chữ “Đinh”, gồm hai tòa: Tiền Đường và Thượng Điện. Tiền Đường gồm năm gian hai dĩ, xây theo lối tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ri truyền thống. Trên nóc giữa có đắp bức cuốn thư lớn đề bốn chữ Hán “Càn An cổ tự”, khẳng định tính cổ kính và sự bề thế của ngôi chùa. Hệ thống cửa mở theo kiểu “thượng song hạ bản”, tạo sự thông thoáng và cân đối. Trang trí kiến trúc tập trung ở các bức cốn nách, câu đầu, ván mê, kẻ hiên, thường là các mô típ lá lật, vân mây, rồng lá, chữ triện, chữ “Thọ”… mang đậm phong cách mỹ thuật thời Nguyễn.
Thượng Điện
Nằm liền phía sau Tiền Đường là Thượng Điện, gồm bốn gian, cũng được xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ri. Kết cấu kiến trúc được tạo dựng theo kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ cốn”, với bốn hàng chân cột vững chắc. Khác với Tiền Đường, phần trang trí Thượng Điện tương đối giản dị, chủ yếu bào trơn, đóng bén, kết hợp với những đường gờ chỉ và kẻ soi, nhấn mạnh sự bền chắc và tính uy nghiêm vốn có của trung tâm thờ tự.
Nhà Mẫu và Nhà Tổ
Bên cạnh kiến trúc chính, chùa còn có nhà Tổ năm gian và nhà Mẫu ba gian. Các công trình này đều được làm theo phong cách kiến trúc truyền thống, sử dụng vật liệu gỗ và ngói ri, tạo nên sự cân xứng, hài hòa với tổng thể quần thể chùa cổ. Nhà Tổ là nơi thờ các vị sư tổ và tăng ni có công với chùa, còn nhà Mẫu phục vụ cho tín ngưỡng thờ Mẫu phổ biến trong đời sống tinh thần dân gian.
Vườn Tháp
Trong khuôn viên chùa có Vườn Tháp, là nơi an vị xá lỵ, tro cốt hoặc bia tưởng niệm các vị cao tăng. Các ngọn tháp ở đây được xây bằng gạch chỉ mỏng, dẹt, để mộc không trát vữa, tạo vẻ cổ kính và trầm mặc. Vườn Tháp trở thành điểm nhấn không gian, đem lại cho cảnh quan chùa vẻ thanh u, tĩnh lặng, phù hợp với đời sống tu hành nơi cửa thiền.
Khu thờ vọng Xã Tắc Đế Quân
Một hạng mục mới được tôn tạo trong những năm gần đây là khu thờ vọng Xã Tắc Đế Quân, có kiến trúc như một Phương Đình hai tầng, tám mái đao cong. Tầng dưới chống đỡ bằng bốn cột đá tròn, tầng trên bằng bốn cột gỗ, tạo sự vững chãi và thanh thoát. Phía trước dựng bình phong đắp nổi bốn chữ “Xã Tắc niên trường” (nghĩa là Xã Tắc mãi mãi trường tồn). Các mảng chạm khắc xung quanh rất tinh vi, thể hiện hình rồng chầu mặt trời, dơi ngậm chữ Thọ, cúc mãn khai, sen, hoa dây, hổ phù, tùng, cúc… Đặc biệt, toàn bộ các chi tiết đều được chế tác bằng đá chạm tinh xảo, vừa giàu tính nghệ thuật, vừa góp phần làm nên sự độc đáo của chùa Càn An.
Hiện vật
- 18 bia đá: 2 bia Càn An tự bi ký (1621), Càn An tự bi ký (1673), Càn An tự bi ký (Đinh Sửu), Càn An tự bi / Đông giáp hưng công tạo (1697), Hội chủ hưng công tạo Càn An tự bi (1697), Kí kỵ bi ký (1869), Hậu phật bi ký (1908), Tam bảo chứng minh (Đinh Mùi), Viên Quang tháp bi ký (1815), Doanh tạo công đức (Mậu Thân), cùng 6 bia vô đề niên đại từ 1796 đến 1861, Phụng Thiên Quảng Đức Dịch Vọng Nam Đồng giáp trùng tu Càn An tự bi (?)
- 1 quả chuông niên đại 1812
Xếp hạng
Chùa Nam Đồng đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992.
Tài liệu tham khảo
- Hệ thống thác bản văn bia chùa Nam Đồng, Chonthieng.com
- Thích Bảo Nghiêm, Võ Văn Tường (2003), Hà Nội danh lam cổ tự, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội.
______________________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Name and Geographical Location
Nam Dong Pagoda, formally known as Can An Tu, is located at No. 32, Alley 64, Nguyen Luong Bang Street, Dong Da Ward, Hanoi.
History and Figures
Formation
According to legend, the pagoda was founded in 1141, the 2nd year of the Dai Dinh era under Emperor Ly Anh Tong, by Princess Thanh Duong, who, together with local patrons, sponsored its construction and invited Zen Master Ban Tinh to serve as abbot.
However, based on the earliest surviving inscription at the pagoda—Can An Tu Bi Ky, dated to the 3rd year of Vinh To (1621)—the pagoda was recognized as an ancient site that had fallen into ruin during wartime, with its land often encroached upon, leaving only a small area. After Lord Trinh Tung restored the nation, temples and roads were repaired. At that time, Nguyen Nhan, head of the Sangha Administration, Dharma name Phap Tang, from Thuong village, Yen Lang commune (Thanh Tri), donated land for reconstruction. In 1612, villagers expanded the foundations, rebuilt pillars, corridors, and statues.
Later inscriptions from 1697 (Can An Tu Bi / Dong Giap Hung Cong Tao and Hoi Chu Hung Cong Tao Can An Tu Bi) recorded further restoration of the Upper Hall, Front Hall, Bell Tower, Tam Quan Gate, corridors, and statues.
In 1736, Zen Master Tinh Tuyen–Tram Tram, after studying at Khanh Van Pagoda in Guangzhou (China), brought back over 300 Buddhist sutras (in thousands of volumes) to enrich the collection of Chinese Buddhist texts at Can An Pagoda.
In 1786, during Emperor Quang Trung’s campaign in the North, Nguyen Huu Chinh, who remained in Thang Long as regent, abused his power, dismantling Buddha statues and bronze bells to cast weapons. Once again, the pagoda was devastated. In 1812, it was restored, and a new bell was cast—an event recorded on the existing Gia Long 11th-year bell.
Successive Abbots
Zen Master Ban Tinh (1100–1176): 9th generation of the Ty Ni Da Luu Chi Zen lineage, disciple of Master Man Giac, born in Phu Dien (Tu Liem, Hanoi).
Nguyen Nhan (Dharma name Duc Thieu, style Phap Tang).
Dao Thanh–Phuc Tien (Nguyen Van Trinh), from Thuong village, Kinh Chu commune, Tu Liem.
Tinh Quang (Nguyen), born in Phuc Me, Bac Ninh; disciple of Tinh Niem, founder and abbot of Linh Quang Pagoda.
Hai Bat (Thich Ngan Ngan): ordained at 18, disciple of Tinh Quang, later studied deeply under Tinh Tuyen–Tram Tram.
Co-abbots (disciples of Hai Bat):
Tich Nghiem (Bui, style An Tam), from Quat Dong, Thuong Tin.
Tich Tinh (Bui), also from Quat Dong.
Chieu Kien, from Ngoc village, Kim Anh, Bac Ninh.
Tam Tich (Tran Van Ty, style Pham Hanh).
During the anti-French resistance (1946–1951), the pagoda was bombed, left in ruins, and had no abbot. In 1952, Bhikkhuni Dam Hy (style Tu Phuong) took over, revitalizing the pagoda, restoring its grounds, and training nuns. Since then, abbesses have included:
Abbess Dam Hy – Tu Phuong (1952 – ?)
Abbess Dam Nguyen – Dam Trung
Abbess Dam Duyet
Abbess Dam Tien
Bhikkhuni Dam Tinh
Architecture and Landscape
Tam Quan Gate
The three-arch gate is built with two-tiered roofs (chong diem style), eight curved eaves, decorated with solar motifs, dragons, clouds, and stylized flora, conveying both grandeur and harmony.
Front Hall (Tien Duong)
The main sanctuary faces south, built in the shape of the character “Đinh” (丁), consisting of Tien Duong and Thuong Dien. The five-bay Front Hall features a large plaque inscribed Can An Co Tu. Decorative carvings—dragons, clouds, foliage, and “longevity” motifs—are in the Nguyen dynasty style.
Upper Hall (Thuong Dien)
Behind the Front Hall, the four-bay Upper Hall is built sturdily with wooden pillars. Its decoration is simpler, emphasizing solemnity and permanence.
Ancestors’ and Mother Goddess Halls
House of Patriarchs (Nha To, five bays): dedicated to abbots and monks.
Mother Goddess Hall (Nha Mau, three bays): for Dao Mau worship, an integral part of Vietnamese spirituality.
Stupa Garden (Vuon Thap)
Houses stupas and memorials for abbots, built of thin bricks, left unplastered, evoking solemn antiquity.
Altar of Xa Tac De Quan
A recent addition: a two-tiered pavilion with eight eaves, supported by stone and wooden pillars, with a stele inscribed “Xa Tac Nien Truong” (“May Xa Tac endure forever”). Carvings of dragons, bats with “longevity” symbols, lotuses, chrysanthemums, and stylized flora emphasize artistry and sacredness.
Artifacts
18 stone steles, including Can An Tu Bi Ky (1621), Dong Giap Hung Cong Tao (1697), Hoi Chu Hung Cong Tao Can An Tu Bi (1697), Ky Ky Bi Ky (1869), Hau Phat Bi Ky (1908), Tam Bao Chung Minh (Dinh Mui), Vien Quang Thap Bi Ky (1815), and others from 1796–1861.
1 bronze bell, dated 1812.
Recognition
In 1992, Nam Dong Pagoda was recognized as a National Architectural and Artistic Monument by the Ministry of Culture and Information.
References
- Hệ thống thác bản văn bia chùa Nam Đồng, Chonthieng.com
- Thích Bảo Nghiêm, Võ Văn Tường (2003), Hà Nội danh lam cổ tự, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội.
______________________
Tiếng Pháp (français’)
Nom et situation géographique
La pagode Nam Dong, dont le nom en caractères est Can An tu, se situe au n° 32, allée 64, rue Nguyen Luong Bang, arrondissement Dong Da, Hanoï.
Histoire et figures associées
Fondation et développement
Selon la tradition, la pagode fut construite en 1141, sous le règne de Ly Anh Tong (ère Dai Dinh, 2e année), grâce aux dons de la princesse Thanh Duong et de fidèles de toutes régions. Le maître zen Ban Tinh y fut invité comme abbé.
Cependant, la stèle la plus ancienne conservée, Can An tu bi ky (1621, ère Vinh To 3), rapporte seulement que la pagode, ancien sanctuaire, avait été détruite par les guerres, son terrain souvent envahi, et qu’il n’en restait qu’une parcelle. Après la restauration du pays par Binh An Vuong Trinh Tung, temples et routes furent reconstruits. À cette époque, le moine Nguyen Nhan (Phap Tang), supérieur de la communauté monastique, fit don de deux mẫu de terres pour rebâtir la pagode. En 1612, les villageois élargirent et restaurèrent la pagode : colonnes, galeries, statues dorées, etc.
Les stèles Can An tu bi / Dong giap hung cong tao et Hoi chu hung cong tao Can An tu bi (1697, ère Canh Hung 18) attestent d’une nouvelle restauration : Salle principale, pavillon des cloches, Tam Quan, galeries, statues.
En 1736, le maître zen Tinh Tuyen – Tram Tram, de retour d’études à la pagode Khanh Van (Guangzhou, Chine), apporta plus de 300 collections de sutras en caractères chinois, enrichissant le fonds bouddhique vietnamien.
En 1786, lors de la campagne du roi Quang Trung au Nord, son général Nguyen Huu Chinh, resté à Thang Long, usurpa le pouvoir et fit fondre statues et cloches pour fabriquer des armes. La pagode fut à nouveau détruite. En 1812, elle fut restaurée et reçut une nouvelle cloche, encore conservée (stèle datée de l’ère Gia Long 11).
Les abbés
Thiền sư Ban Tinh (1100–1176), 9e génération de l’école Ty Ni Da Luu Chi, disciple du maître Man Giac, originaire de Tu Liem (Hanoï).
Nguyen Nhan (Phap Tang), supérieur de l’ordre, donateur des terres en 1612.
Dao Thanh – Phuc Tien (Nguyen Van Trinh), natif de Tu Liem.
Tinh Quang, moine de Bac Ninh, disciple de Tinh Niem, fondateur de la pagode Linh Quang.
Hai Bat – Thich Ngan Ngan, disciple de Tinh Quang, approfondit le bouddhisme auprès de Tinh Tuyen – Tram Tram.
Ses deux disciples éminents :
Tich Nghiem (An Tam), famille Bui, de Quat Dong.
Tich Tinh, famille Bui, de Quat Dong.
Chieu Kien, originaire de Kim Anh (Bac Ninh).
Tam Tich (Pham Hanh, nom civil Tran Van Ty).
Durant la résistance anti-française (1946–1951), la pagode fut bombardée et abandonnée. En 1952, la nonne Dam Hy (Tu Phuong) prit la relève, restaura la pagode et forma une communauté féminine. Après elle, se succédèrent :
Ni truong Dam Hy – Tu Phuong
Ni truong Dam Nguyen – Dam Trung
Ni truong Dam Duyet
Ni su Dam Tien
Ty kheo ni Dam Tinh
Architecture et paysage
Tam Quan : portail à trois entrées, deux étages, huit toits recourbés, décoré de dragons, nuages, soleil, motifs des quatre animaux sacrés et quatre saisons.
Tien Duong (Salle antérieure) : cinq travées, toit de tuiles traditionnelles, fronton portant l’inscription « Can An co tu » (Ancienne pagode Can An). Décor fin de style Nguyen (nuages, dragons, caractères).
Thuong Dien (Sanctuaire principal) : quatre travées, structure solide, décor sobre mais majestueux.
Maisons annexes : Maison des ancêtres (cinq travées) et Maison des déesses-mères (trois travées), en bois et tuiles.
Jardin des stūpas : lieu d’inhumation et de mémoire des moines, en briques non enduites, sobre et ancien.
Sanctuaire de Xa Tac De Quan (restauration récente) : pavillon à deux étages, huit toits, décor sculpté en pierre (dragons, chauves-souris, lotus, pins, etc.).
Reliques conservées
18 stèles (1621–1908), dont : Can An tu bi ky (1621), Dong giap hung cong tao (1697), Hoi chu hung cong tao (1697), Viên Quang tháp bi (1815), etc.
1 cloche de bronze (1812).
Classement
En 1992, la pagode Nam Dong a été classée monument architectural et artistique national par le Ministère de la Culture et de l’Information.
Références
- Hệ thống thác bản văn bia chùa Nam Đồng, Chonthieng.com
- Thích Bảo Nghiêm, Võ Văn Tường (2003), Hà Nội danh lam cổ tự, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội.
______________________
Tiếng Trung (中文)
名称与地理位置
南同寺,字名“乾安寺”,位于河内市同多坊阮良平街64巷32号。
历史与人物
历史形成
据传说,寺建于大定二年(1141,李英宗朝),由信主成阳公主与十方善信捐资,迎请禅师本静主持。
然据现存最早碑刻《乾安寺碑记》,永祚三年(1621),仅知此寺为古刹,曾经战火倾圮,土地屡遭侵占,仅存一隅。平安王鄭松平定天下后,修复寺庙道路。时僧统司僧录院阮仁(号法藏,清池延朗社上村人)捐二亩地以重建寺宇。壬子年(1612),众人倾力扩基,立柱廊庑,塑佛像。
《乾安寺碑/东甲兴工造》《会主兴工造乾安寺碑》(景兴十八年,1697)记载,南同村驿望所有乾安寺为古刹,历岁月风雨损坏,今东甲人合力重修上殿、前堂、钟阁、三门、廊庑、佛像等。
1736年,禅师性泉—湛湛自广州鼎湖庆云寺学成,携三百余部、数千卷佛经安置于乾安寺,补充越南汉文佛典。
1786年,光中帝北征,以扶黎灭鄭为名,班师时留阮有整于昇龙辅佐黎昭统。然整恃权,步鄭氏旧辙,毁佛像铜钟以铸兵器,寺再受破坏。嘉隆十一年(1812),寺重修,并铸新钟。此事铭于寺内嘉隆十一年钟。
历代住持
禅师 本静(1100–1176),毘尼多留支禅系第九世,禅师满觉弟子,福演人(今河内慈廉)。
僧统 阮仁,号德绍,字法藏。
禅僧 道成—福先(俗名阮文贞),慈廉镜主上村人。
森山老夫性广,阮姓,甲寅年四月十四日生,北宁福美村人,禅师净念弟子,开创并兼任北宁内茶村灵光寺住持,影响深远。
禅师 海拔—释银银,十八岁出家,性广弟子,后随性泉—湛湛学法。
两位共住持(海拔弟子):
禅师寂严(号安心,裴姓,常信郡橘洞社人)。
禅师寂静(裴姓,常信郡橘洞社人)。
禅师 照见,北宁金英玉村人(今属河内)。
禅师 心寂(号范行,俗名陈文姿)。
抗法战争时期(1946–1951),寺屡遭轰炸,荒废无主持。1952年,比丘尼法号湛喜(号慈芳)来寺接任,重兴道场,恢复景观,修葺殿宇,并培养尼众。此后住持传承如下:
尼长 湛喜(号慈芳,1952–?)。
尼长 湛源—湛中。
尼长 湛悦。
尼师 湛进。
比丘尼 湛静。
建筑景观
三门
乾安寺三门为三拱券门,双层重檐,八面飞翘。正脊饰火焰日,四角饰龙纹。门额饰虎符、龙叶、云纹,庄严而和谐。四表柱与矮墙相连,墙面雕石狮、四灵四季、花草纹样。
前堂
大殿南向,“丁”字形布局,由前堂与上殿构成。前堂五间两翼,墙体封火堵头,屋顶覆传统板瓦。脊饰巨卷书,题“乾安古寺”。门窗为“上棂下板”,通透匀称。装饰集中于拱枋、梁额、雀替,多为叶卷、云纹、龙叶、篆字、“寿”字,具晚阮美术特色。
上殿
前堂之后为上殿,四间,亦为火堵墙体,瓦顶。构架为“上叠梁架锣,下枋”式,四列坚柱。装饰较简洁,以素面结合线条,突出庄严与稳固。
祖堂与母堂
寺尚有祖堂五间、母堂三间,木石结构,传统样式,协调统一。祖堂祀历代祖师与有功僧尼,母堂则奉俗间流行之圣母信仰。
塔园
院内设塔园,安置高僧舍利、灵骨或纪念碑。塔以薄砖砌,不施灰泥,古朴幽深,为寺院清幽之景。
社稷帝君祠
新建之社稷帝君祠,形如双层八檐方亭。下层石柱,上层木柱,稳固清雅。前立照壁,题“社稷年长”。周围雕饰龙拱日、蝙蝠衔寿、菊盛开、莲、蔓草、虎符、松、菊等,皆精刻石雕,艺术性高,增添乾安寺之独特。
文物
十八通碑刻:《乾安寺碑记》(1621)、《乾安寺碑/东甲兴工造》(1697)、《会主兴工造乾安寺碑》(1697)、《忌祭碑记》(1869)、《后佛碑记》(1908)、《三宝证明》(丁未)、《圆光塔碑记》(1815)、《营造功德》(戊申)、另六通无题碑(1796–1861)。
一口1812年铜钟。
评级
南同寺于1992年被文化信息部列为艺术建筑遗迹。
参考文献
- Hệ thống thác bản văn bia chùa Nam Đồng, Chonthieng.com
- Thích Bảo Nghiêm, Võ Văn Tường (2003), Hà Nội danh lam cổ tự, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội.