Giới thiệu chung
Chùa Đông Phù tọa lạc tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Trước đây còn có tên gọi là chùa Hưng Long, chùa Long Hưng, chùa Hưng Hóa, chùa Nhót, chùa Phù Liệt, tên chữ là Minh Long Tự, Hưng Hóa Tự, Hưng Long Tự. Chùa là nơi tu hành của công chúa Từ Thục và Từ Huy – con vua Lý Thánh Tông (1054 -1072). Hằng ngày ở nơi thôn dã, biết dân còn nghèo, hai bà xin vua hơn nghìn mẫu ruộng để cấp cho 9 làng ở phía Nam huyện Thanh Trì ngày nay, lại lo truyền nghề phụ cho mỗi làng. Trải gần nghìn năm, nghề các bà truyền dạy nay vẫn phát triển.
Lược sử
Chùa Đông Phù được khởi dựng năm 1011 do chính vua Lý Thái Tổ ban chiếu và cấp tiền xây dựng. Tương truyền, đời vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đã có hai vị công chúa là Lý Từ Thục và Lý Từ Huy – con gái vua Lý Thánh Tông cùng hai vị thị giả Quỳnh Hoa, Quế Hoa về ngôi chùa này xuất gia đầu Phật. Hai vị công chúa là người đã cấp ruộng đất và truyền nghề phụ cho 9 làng trong khu vực Thanh Trì, được nhân dân trong vùng biết ơn và ca tụng.
Theo giai thoại, vua Lý Thánh Tông từng cho gọi Từ Thục và Từ Huy về kinh để đi lấy chồng nơi biên cương. Hai vị ni sư trăn trở suy nghĩ, không về thì mang tội bất hiếu chống lệnh vua cha, mà về thì việc tu hành dang dở, vì thế hai vị còn phân vân do dự. Vua thấy việc chậm trễ, trong phút nóng giận đã ra lệnh đốt chùa. Hai vị ni sư được dân chúng rước về làng Tự Khoát.
Không lâu sau, nhà vua cảm kích và hối hận không ép buộc nữa mà để hai con gái tiếp tục tu hành. Vua ban lệnh dựng lại chùa Đông Phù, bởi thế còn có tên là chùa Đền, hiện vẫn lưu giữ một số dấu tích bị đốt cháy… Lý Thánh Tông xuất tiền dựng thêm chùa trên gò Trúc Lĩnh và đặt tên là Hưng Phúc tự, còn gọi là chùa (làng) Tự Khoát.
Sau đó hai bà thu thần thị tịch tại Lăng Liên Hoa (cách chùa Đông Phù 1km) nhằm ngày 15 tháng 3 năm Ất Hợi, niên hiệu Hội Phong thứ 4 (1095) đời vua Lý Nhân Tông với đạo hiệu Đại thánh Bồ Tát Lý Từ Thục và Đại thánh Bồ Tát Lý Từ Huy, trở thành hai vị sư tổ của chùa (nhân dân địa phương thường gọi là Nhị vị Bồ Tát). Nhớ ơn hai bà, nhân dân các làng Đông Phù, Tự Khoát, Ninh Xá tạc tượng thờ.
Đến thời Lê sơ, hai công chúa được phong là Linh Thông Đại Bồ Tát.
Kiến trúc
Khuôn viên chùa có tường bao kín sau đợt đại trùng tu hầu như toàn bộ ngôi chùa vào đầu thế kỷ XXI.
Tam quan cũ xây bằng gạch nung Bát Tràng với hơn 300 năm tuổi gần đây cũng được làm mới. Bước qua Tam quan ta đi trên con đường lát đá xuyên giữa một khu vườn lớn với các tháp mộ sư tổ ở bên phải, còn hai phương đình nơi đặt trống và chuông nằm đối diện ở đoạn gần cuối đường dẫn vào sân Tiền đường.
Sân trước chùa rất rộng và lát đá phẳng phiu; hai bên sân có tượng Phật A Di Đà và tượng Nam Hải Quán Thế Âm Bồ Tát đứng trên bệ xây cao giữa ao nhỏ, xa nữa là hai cổng phụ mở ra đường làng.
Toà Tiền đường rộng 5 gian 2 dĩ, quay hướng tây-nam, ngoài hiên có đặt hai tấm bia đá, một mới một cũ. Khu vực chùa chính được cách ly với sân Tiền đường và sân chùa trong bằng các bức tường ngăn có cửa ngách.
Đường vào chùa trong khá dài và cũng được lát đá trên nền vườn cũ với những gốc nhãn cổ thụ sót lại.
Tại đây ta thấy bên trái là các gian Thượng điện và Hậu cung với một cái sân giữa nhỏ hơn nhưng cũng có tường ngăn và cửa ngách riêng biệt. Bên phải là dãy nhà tăng, nhà khách, còn Tổ đường thì ở cuối sân hậu, giáp khu làng xóm ở phía sông Kim Ngưu. Các công trình thờ tự xây trên nền chùa cũ theo kiểu “nội Công ngoại Quốc, tiền Phật hậu Thánh”.
Chùa chính thờ các tượng sắp xếp theo hệ phái Bắc tông, gian giữa là bàn thờ Phật, trong Thiêu hương bày tượng Thập Điện Diêm Vương và Quan Âm Tọa Sơn. Hai đầu hồi Tiền đường có đắp hình hang động và các cảnh giới tu tập, thiện ác, nhân quả, luân hồi, nghiệp báo, chính giữa có tượng Quan Âm Chuẩn Đề và tượng Phật Di Lặc. Tiếp theo là hai dãy hành lang, mỗi bên gồm 11 gian thông nhau và đặt tượng các vị tổ truyền đăng. Sau lưng Tam bảo là nhà tế, phía trước gồm 3 gian thờ nhị vị sư tổ vốn là công chúa nhà Lý.
Lễ hội
Hàng năm vào ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch, nhân dân các làng Đông Phù, Đông Trạch, Mỹ Ả, Chanh Khúc, Văn Uyên, Tương Trúc, Tự Khoát, Mỹ Liệt và Ninh Xá tổ chức mở hội tri ân công đức của hai vị công chúa nhà Lý đã cấp đất cho dân sản xuất, dạy dân làm nghề phụ lúc nông nhàn. Để tỏ lòng thành kính đức hạnh tu tập và công lao đóng góp của hai vị công chúa nhà Lý cùng hai vị thị giả, sau khi viên tịch, nhân dân tín đồ, phật tử đã tạc tượng và thờ ở vị trí trang trọng tại chùa Đông Phù (Đông Phù), chùa Hưng Phúc (Tự Khoát) và chùa Phổ Quang (Ninh Xá).
Di vật
Chùa Đông Phù lưu giữ 17 sắc phong của triều Lê và triều Nguyễn phong hai công chúa Từ Thục và Từ Huy là Nhị vị Đại Bồ Tát và phong Quỳnh Hoa và Quế Hoa là Thượng đẳng thần.
Chùa còn giữ được 2 đạo sắc phong cho Đoan trang Công chúa Lý Liễu vào năm Cảnh Hưng 44 (1785) và Chiêu Thống 1 (1787).
Sự kiện – Thành tựu
- Chùa Đông Phù không chỉ có giá trị lịch sử văn hóa, mà đây còn là một di tích cách mạng. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi chùa là nơi hội họp của tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội (1929), của Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở ngoại thành Hà Nội (1930) và là nơi tập hợp quần chúng trong những ngày giành chính quyền cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Năm 1990, Bộ Văn hóa – Thông tin quyết định công nhận chùa Đông Phù là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Đến năm 2004, UBND Thành phố Hà Nội công nhận quần thể di tích này là di tích cách mạng.
- Ngày 08 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (2009), nhà chùa đã chính thức tổ chức khởi công trùng tu, tôn tạo toàn thể các công trình, đến tháng 11 năm 2009 đã cơ bản hoàn tất kịp đón tết Canh Dần
- Năm 2010, UBND Thành phố Hà Nội đã gắn biển chùa Đông Phù là công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
__________________________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Dong Phu Pagoda, located in Dong My commune, Thanh Tri district, Hanoi, has had various names such as Hung Long Pagoda, Long Hung Pagoda, Hung Hoa Pagoda, and Phu Liet Pagoda. The pagoda was built in 1011 by King Ly Thai To under royal decree and sponsorship. Legend has it that Princess Ly Tu Thuc and Ly Tu Huy, daughters of King Ly Thanh Tong, became nuns here and later granted land and passed on handicraft skills to 9 villages in the Thanh Tri area. The local people are grateful and praise these two princesses.
During the resistance against the French colonialists, Dong Phu Pagoda became a gathering place for revolutionary organizations, such as the Revolutionary Youth Association (1929) and the first Communist Party cell in suburban Hanoi (1930). In 1990, the Ministry of Culture and Information recognized Dong Phu Pagoda as a national cultural-historical relic, and in 2004, Hanoi People’s Committee recognized it as a revolutionary relic. During this time, the pagoda underwent renovation and restoration, with basic completion in 2009. In 2010, Hanoi People’s Committee erected a plaque commemorating the 1000th anniversary of Thang Long – Hanoi at Dong Phu Pagoda.
Tiếng Trung (Chinese)
东符寺位于河内市Thanh Tri区Dong My社区,曾有多种不同的称呼,如Hưng Long寺、Long Hưng寺、Hưng Hóa寺和Phù Liệt寺。该寺建于1011年,由李太祖国王根据皇家诏令和赞助兴建。传说中,李朝圣宗王的两位公主Ly Tu Thuc和Ly Tu Huy在此出家,后来分别向Thanh Trì地区的9个村庄赠地,并传授手工艺技能。当地人民对这两位公主心怀感激,颂扬不已。
在抗击法国殖民统治的斗争中,东符寺成为革命组织的聚会场所,如革命青年团(1929年)和河内郊区的第一个共产党支部(1930年)。1990年,文化与信息部认定东符寺为国家文化历史遗迹,2004年,河内市人民委员会将其认定为革命遗迹。在此期间,寺庙经历了翻新和修复工作,基本于2009年完成。2010年,河内市人民委员会在东符寺竖立了一块铭牌,以纪念Thang Long – Hà Nội1000周年。
Tiếng Pháp (French)
La pagode de Dong Phu, située dans la commune de Dong My, district de Thanh Tri, à Hanoi, a eu divers noms tels que pagode Hung Long, pagode Long Hung, pagode Hung Hoa et pagode Phu Liet. La pagode a été construite en 1011 par le roi Ly Thai To sous décret royal et parrainage. La légende raconte que les princesses Ly Tu Thuc et Ly Tu Huy, filles du roi Ly Thanh Tong, sont devenues nonnes ici et ont ensuite accordé des terres et transmis des compétences artisanales à 9 villages de la région de Thanh Tri. Les habitants locaux sont reconnaissants et louent ces deux princesses.
Pendant la résistance contre les colonialistes français, la pagode de Dong Phu est devenue un lieu de rassemblement pour les organisations révolutionnaires, telles que l’Association des Jeunes Révolutionnaires (1929) et la première cellule du Parti communiste dans la banlieue de Hanoi (1930). En 1990, le ministère de la Culture et de l’Information a reconnu la pagode de Dong Phu comme un monument historique et culturel national, et en 2004, le Comité populaire de Hanoi l’a reconnue comme un monument révolutionnaire. Pendant cette période, la pagode a subi des travaux de rénovation et de restauration, avec une achèvement de base en 2009. En 2010, le Comité populaire de Hanoi a érigé une plaque commémorant le 1000e anniversaire de Thang Long – Hanoi à la pagode de Dong Phu.