Tên gọi và vị trí địa lý
Di tích lịch sử kháng chiến chùa Việt Khê thuộc địa phận xã Tân Dân, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chùa có tên chữ Huyền Quang tự, nghĩa là ngôi chùa tỏa ánh sáng huyền diệu của Phật pháp. Nhân dân địa phương còn quen gọi với tên chùa Bà Đanh gắn với nhiều câu chuyện lưu truyền về nhân vật Bà Đanh.
Chùa Việt Khê ở trên một địa thế khá đặc biệt, xung quanh là những đầm nước rộng mênh mông với nhiều loại cây cỏ, lau sậy… Đường vào chùa khá khó khăn, phải đi bằng thuyền mất nhiều thời gian mới vào được chùa.
Lịch sử và nhân vật
Viết về lịch sử chùa, tác giả Thích Thanh Giác đã ghi trong cuốn Chùa cổ Hải Phòng, tập 2:
Trong thời kì phong trào yêu nước cần Vương cuối thế kỉ 19, ở khu Biểu Đa, Mỹ Đức (huyện An Lão) có cụ Đốc Trịch đứng lên tập hợp nghĩa binh hưởng ứng Chiếu cần Vương chống lại kẻ thù xâm lược. Trong số những binh sĩ của cụ Đốc có một người phụ nữ không rõ quê quán, nhưng bà là người am hiểu Phật pháp, tinh thông võ nghệ, gần gũi với mọi người và được nhân dân gọi là bà Đanh. Bà Đanh dựng một quán nhỏ bán hàng nước trên gò đất cao ven đường. Quán nước cũng là địa điểm liên lạc, nơi triệu tập nghĩa sĩ và thu thập thông tin phục vụ cho cụ Đốc Trịch. Thời gian sau, bà Đanh dựng một ngôi chùa nhỏ bên cạnh quán nước cũ để có điều kiện phục vụ tốt hơn cho nghĩa quân và tổ chức lực lượng tham gia ủng hộ phong trào yêu nước. Nhưng do tương quan lực lượng chênh lệch, nên nghĩa binh của cụ Đốc Trịch phải rời đi, bà Đanh cũng rút theo đoàn quân. Ni sư ở chùa Kim Châm, xã Mỹ Đức (là vị sư có mối quan hệ thân thiết với bà Đanh) đã cùng dân làng Việt Khê di dời cả ngôi chùa của làng cùng chùa quán bà Đanh đến một gò đất cao rộng cách chùa quán cũ khoảng 200m về phía Tây Bắc. Từ đó, nhân dân địa phương gọi ngôi chùa này là chùa Bà Đanh.(1)
Bài viết Di tích lịch sử kháng chiến chùa Việt Khê – xã Tân Dân huyện An Lão – thành phố Hải Phòng cho hay:
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các đội vũ trang, du kích của cả xã Tân Dân thường xuyên lấy địa điểm chùa Việt Khê làm nơi luyện tập, tổ chức hội họp, xây dựng lực lượng kháng chiến. Đồng thời ngôi chùa cũng là nơi đưa đón cán bộ, du kích, bộ đội của ta vào sâu vùng hậu cứ địch hoạt động. Tháng 3/1949, địch tổ chức càn quét vào làng Việt Khê và chùa Bà Đanh. Trong trận chiến đấu chống càn ác liệt, 3 đồng chí cán bộ vũ trang và một vị sư chú của chùa cũng tham gia chiến đấu cùng lực lượng kháng chiến đã anh dũng hy sinh, nay được nhân dân xây bia tưởng niệm tại cổng chùa. Tuy bị càn quét nhưng thời gian sau đó chùa Việt Khê vẫn là cơ sở, địa điểm hoạt động bí mật, quan trọng của ta.(2)
Nối tiếp các thời gian sau này cho đến ngày hòa bình. Chùa Việt Khê luôn là cơ sở, một địa điểm che chở, nuôi dưỡng, hội họp, làm việc của lực lượng kháng chiến thôn Việt Khê cũng như của xã Tân Dân và huyện An Lão.
Kiến trúc cảnh quan
Tương truyền, Chùa Việt Khê được xây dựng từ thời nhà Mạc (thế kỷ 16) và đã trải qua nhiều lần trùng tu, trong đó có lần trùng tu lớn Triều Minh Mạng (Đầu thế kỷ 19). Ban đầu, chùa được xây dựng theo cấu trúc bình chữ Đinh, gồm 3 gian tiền đường và 2 gian hậu cung. Đến năm 1994, chùa được tu bổ làm thêm 3 gian nhà bái đường ghép sát vào với nhà Phật điện.
Chùa Việt Khê là một công trình kiến trúc cổ có quy mô vừa phải. Mở đầu khuôn viên chùa là đài tưởng niệm các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh tại đây để bảo vệ cơ sở kháng chiến. Đài tưởng niệm được đặt ngay lối vào chùa, được xây vào đầu những năm 90. Cũng thời gian này, được sự quan tâm của chính quyền địa phương, nhân dân nơi đây đã xây dựng mới thêm một nhà bái đường sát phía trước phục vụ cho các dịp lễ hội và sinh hoạt văn hóa của địa phương. Đồng thời nhà chùa dựng lại 2 ngôi tháp gạch tại vườn trước sân để thờ người có công lập lên chùa và vị sư chú đã ngã xuống trước làn đạn quân thù.
Các vì kèo làm bằng gỗ lim, có kết cấu kiểu “thượng chữ công, hạ ván bưng” được bào trơn đóng bén. Các bộ vì kèo tòa hậu cung cũng có kết cấu tương tự, nhưng mỗi bộ vì chỉ gồm 2 cột cái, 2 đầu xù nách được gài thắng vào tường nhằm tăng độ thoáng cho Phật điện.
Nhìn chung, di tích chùa Việt Khê có bố cục tương đối gọn kiến trúc nghệ thuật đơn giản nhưng khá chắc chắn mang đậm phong cách nghệ thuật kiến trúc đầu thời Nguyễn.
Sự kiện và lễ hội
Tại chùa Việt Khê, hàng năm vào dịp mồng chín tháng giêng, dân làng và các tăng ni, phật tử tổ chức lễ hội chùa. Trong dịp lễ hội, ngoài việc tế lễ dâng hương, ở đây còn diễn ra các hoạt động thể thao, thi đấu như bơi thuyền, đấu vật…
Hiện vật
Tại chùa Việt Khê, số lượng tượng phật đồ thờ hiện nay còn lại không nhiều, tuy nhiên những di vật đó lại tương đối giá trị về mặt nghệ thuật và niên đại như: tượng A Di Đà, tượng Quán Âm đứng trên đài sen, tượng Thích Ca, tượng Ngọc Hoàng, tòa Cửu Long, chuông đồng… Các di vật trên có niên đại thế kỉ 19.
Xếp hạng
Chùa được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Thành phố năm 2005.
Chú thích
- Thích Thanh Giác, Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, Nxb Hải Phòng, 2017, tr 162-163.
- Thành đoàn Hải Phòng, Di tích lịch sử kháng chiến chùa Việt Khê – xã Tân Dân huyện An Lão – thành phố Hải Phòng, Website Đoàn Thanh niên cộng sản TP Hải Phòng, số ra ngày 15/01/2024.
Tham khảo
- Thích Thanh Giác (2017), Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, Nxb Hải Phòng.
Thành đoàn Hải Phòng, Di tích lịch sử kháng chiến chùa Việt Khê – xã Tân Dân huyện An Lão – thành phố Hải Phòng, Website Đoàn Thanh niên cộng sản TP Hải Phòng, số ra ngày 15/01/2024.
__________________________
Các ngôn ngữ khác
1. English
Name and geographical location
The Viet Khe Resistance Pagoda is located in Tan Dan Commune, An Lao District, Hai Phong City. Its formal name is Huyen Quang Tu, meaning “the temple radiating the miraculous light of the Dharma.”
Locals also call it Ba Danh Pagoda, associated with the legendary figure Lady Danh.
The pagoda sits on a unique terrain, surrounded by vast wetlands covered with reeds and aquatic plants. The path leading to the pagoda is difficult — visitors must travel by boat, taking considerable time to reach it.
History and figures
According to Ancient Pagodas of Hai Phong, Volume II by Venerable Thich Thanh Giac:
“During the late 19th-century Can Vuong patriotic movement, in the area of Bieu Da and My Duc (An Lao District), a commander named Doc Trich raised an insurgent force in response to King Ham Nghi’s call to resist French colonialists. Among his soldiers was a woman of unknown origin, well-versed in Buddhism and martial arts, known affectionately as Ba Danh.
She built a small tea stall on a mound by the roadside, which became a secret gathering place for the insurgents and a hub for communication. Later, she erected a small temple next to the stall to better support the resistance and the patriotic movement.
When the insurgent forces were dispersed, she retreated with them. A nun from Kim Cham Pagoda in My Duc — who was close to Ba Danh — helped relocate the pagoda, together with villagers of Viet Khe, to a higher mound about 200 meters northwest of its original site. From then on, locals called it Ba Danh Pagoda.” (1)
As noted in Viet Khe Resistance Pagoda – Tan Dan Commune, An Lao District, Hai Phong City:
“During the resistance war against French colonialism, armed units and guerrilla groups of Tan Dan Commune often used Viet Khe Pagoda as a training and meeting base. It also served as a transit point for cadres, soldiers, and supplies into enemy-held zones.
In March 1949, the French attacked Viet Khe Village and Ba Danh Pagoda. In the fierce battle, three armed cadres and one novice monk fought bravely alongside the resistance and fell heroically. Their names are now honored on a memorial stele at the pagoda gate. Despite the devastation, Viet Khe Pagoda remained an active secret base afterward.” (2)
Through subsequent periods, up to the restoration of peace, Viet Khe Pagoda continued to serve as a shelter, meeting place, and headquarters for the revolutionary forces of Viet Khe Village, Tan Dan Commune, and An Lao District.
Architecture and landscape
According to oral tradition, Viet Khe Pagoda was originally built during the Mac Dynasty (16th century) and underwent many restorations, including a major one in the Minh Mang era (early 19th century).
Initially built in the Dinh-shaped layout with three front halls and two rear sanctuaries, it was expanded in 1994 with an additional three-bay worship hall adjoining the main sanctuary.
The pagoda’s complex is moderate in scale. At the entrance stands a memorial dedicated to martyrs who sacrificed their lives defending the resistance base. The monument, built in the early 1990s, faces the main gate.
At that time, with the support of local authorities, the pagoda added a new front hall for festivals and community gatherings, and rebuilt two brick stupas in the front courtyard — one dedicated to the temple’s founder and one to the fallen novice monk.
The roof trusses are made of lim wood, using the “upper gong, lower panel” (thuong chu cong, ha van bung) structure — polished and tightly fitted. The rear hall uses similar framing but with two main columns and short side beams embedded in the wall for better ventilation.
Overall, Viet Khe Pagoda features a compact layout with simple yet sturdy Nguyen-era architectural aesthetics.
Festivals and events
Every year on the 9th day of the first lunar month, villagers, monks, and devotees organize the Viet Khe Pagoda Festival. In addition to incense offerings and Buddhist rituals, the festival includes folk games and sports such as boat racing and wrestling.
Artifacts
Although few artifacts remain, those preserved at Viet Khe Pagoda are artistically valuable and date to the 19th century. They include statues of Amitabha Buddha, Avalokitesvara standing on a lotus pedestal, Shakyamuni Buddha, the Jade Emperor, the Cuu Long (Nine Dragons) altar, and a bronze bell.
Heritage ranking
Viet Khe Pagoda was recognized as a Municipal-Level Historical and Cultural Site in 2005.
2. Français
Nom et localisation géographique
La pagode de la Résistance de Viet Khe est située dans la commune de Tan Dan, district d’An Lao, ville de Hai Phong.
Son nom sino-vietnamien est Huyen Quang Tu, « le temple de la lumière mystique du Dharma ».
Les habitants l’appellent aussi pagode Ba Danh, en souvenir de la légendaire Dame Danh.
La pagode se dresse dans un paysage singulier, entourée d’étangs et de roselières. L’accès, difficile, se fait uniquement par bateau.
Histoire et personnages
Selon le Vénérable Thich Thanh Giac, dans Les anciennes pagodes de Hai Phong, Tome II :
« À la fin du XIXᵉ siècle, durant le mouvement patriotique Can Vuong, le commandant Doc Trich leva une troupe à Bieu Da – My Duc (district d’An Lao) pour répondre à l’appel du roi Ham Nghi contre les colonisateurs français.
Parmi ses compagnons d’armes se trouvait une femme d’origine inconnue, versée dans le bouddhisme et les arts martiaux, connue sous le nom de Dame Danh.
Elle tenait un petit salon de thé sur une butte, qui servait aussi de point de ralliement et de transmission.
Plus tard, elle fit ériger à côté une petite pagode pour mieux soutenir le mouvement patriotique.
Quand la révolte fut dispersée, la nonne du temple Kim Cham, amie de Dame Danh, aida les habitants de Viet Khe à déplacer la pagode sur une butte plus haute, à 200 mètres du site initial. Depuis, le lieu est appelé pagode Ba Danh. » (1)
L’article Pagode de la Résistance Viet Khe – Commune de Tan Dan, District d’An Lao précise :
« Pendant la guerre d’Indochine, la pagode servit de base d’entraînement, de réunion et de liaison pour les unités de guérilla. En mars 1949, les troupes françaises attaquèrent le village et la pagode.
Trois combattants et un jeune moine tombèrent héroïquement au combat.
Une stèle commémorative fut érigée à l’entrée du temple.
Malgré les destructions, la pagode resta un lieu d’activité clandestine. » (2)
Après la guerre, la pagode demeura un refuge et un lieu de rencontre pour les résistants de Viet Khe, de Tan Dan et du district d’An Lao.
Architecture et paysage
Selon la tradition, la pagode fut fondée sous la dynastie Mac (XVIᵉ siècle) et restaurée à plusieurs reprises, notamment sous Minh Mang (début XIXᵉ siècle).
Son plan initial en forme de Dinh comportait trois travées à l’avant et deux à l’arrière. En 1994, une nouvelle salle de prière fut ajoutée.
À l’entrée s’élève un monument aux martyrs, érigé dans les années 1990. À la même époque, deux stupas de briques furent reconstruits pour honorer le fondateur et le moine tombé au combat.
La charpente, en bois de lim, est du type « poutres supérieures en arc, panneaux inférieurs pleins », typique du style Nguyen.
L’ensemble, simple mais solide, exprime la sobriété architecturale du début de la dynastie Nguyen.
Fêtes et événements
Chaque année, le neuvième jour du premier mois lunaire, un festival est organisé : offrandes, prières, courses de bateaux, luttes traditionnelles et autres jeux populaires animent le village.
Objets conservés
Les statues et objets restants — Amitabha, Avalokitesvara, Shakyamuni, le Trône des Neuf Dragons, cloche en bronze — datent du XIXᵉ siècle et présentent une belle facture artistique.
Classement patrimonial
La pagode Viet Khe a été classée Monument historique et culturel de niveau municipal en 2005.
3. 中文繁體
名稱與地理位置
越溪抗戰寺位於海防市安老縣新民社,寺號「玄光寺」,意為「佛法神光照耀之所」。
當地人俗稱「婆榔寺」,相傳因婆榔尼師之事而名。
寺座於水澤環繞之地,蘆葦叢生,四野蒼茫,唯可乘舟方達,頗為幽遠。
歷史與人物
據釋清覺著《海防古寺志》卷二載:
「十九世紀末勤王運動時,安老縣表多、美德一帶有督直公起義應詔抗法。其麾下有一婦人,不知其鄉里,通佛理,善武藝,人稱婆榔。
婆榔築茶舍於道旁高阜,以為義軍聯絡之所,後又於舍側建小寺,以便掩護義軍。
旋因勢孤力寡,義軍撤退,婆榔亦隨行。美德金針寺比丘尼與越溪村民共遷寺於西北二百米高阜。自此,民稱婆榔寺。」(1)
又據〈海防市安老縣新民社越溪抗戰寺〉文:
「抗法戰爭中,新民社武裝及游擊隊常以越溪寺為集訓、會議、聯絡之所。
一九四九年三月,法軍入村掃蕩,三名幹部與一位小沙彌同赴戰陣,壯烈犧牲。今於山門立碑以誌英魂。其後寺仍為我方秘密據點。」(2)
其後至和平時期,越溪寺長為新民社及安老縣革命力量之庇護與會議之地。
建築景觀
相傳寺創於莫朝(十六世紀),歷經屢次重修,其中明命年間(一九世紀初)為大修。
原為「丁」字形格局,前三間後兩間,一九九四年增建三間拜堂連接佛殿。
寺前建有烈士紀念碑,立於九〇年代初。時又建前拜殿及二磚塔,一以祀創寺之人,一以祀殞身之沙彌。
屋架以鐵力木為材,上作拱梁,下作封板,刨光榫合。整體布局簡潔堅固,具阮初建築風格。
節慶活動
每年農曆正月初九,僧俗聚寺舉行廟會,除禮佛焚香外,並有賽舟、角力等民俗競技。
文物
寺中尚存阿彌陀佛、觀音立像、釋迦像、玉皇像、九龍座及銅鐘諸件,多為十九世紀作品,工藝精美。
文物等級
越溪寺於二〇〇五年被海防市人民委員會列為市級歷史文化遺跡。