Nguyên văn chữ Hán
仁弘坤載
Phiên âm
Nhân hoằng khôn tải
Dịch nghĩa
Nhân hoằng khôn tải [1]
Vị trí
Nhà Tổ, chùa Bà Đá (Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Chú thích
[1] Chữ Nhân ở đây, thiển học tôi trộm hiểu theo hai nghĩa. 1 chữ Nhân chỉ Phật, Phật tức là Năng Nhân (Trung Quốc dịch chữ Thích Ca tức họ của Đức Phật là Năng Nhân). 2, Nhân là một phạm trù trung tâm của Nho học, nhân là yêu khắp mọi người, thể theo lòng người cũng như lòng ta. Người Trung Quốc, thời cựu dịch, dùng chữ Năng Nhân, để dịch danh từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca dịch là Năng Nhân, Mâu Ni dịch là tịch mặc. Hiện tượng cách nghĩa Phật giáo. Ở đây lấy chữ Nhân là vì hàm nghĩa phổ quát từ bi, bác ái cận nghĩa với chữ Nhân của Nho học đương thời. Chữ hoằng trước tiên hiểu theo nghĩa động từ, là mở rộng, rộng khắp, sau hiểu theo nghĩa là đức Hoằng của quẻ Khôn trong Kinh Dịch (vì ăn nghĩa với chữ Khôn tải ở sau). Hoằng: bao la rộng lớn vô tận. Khôn tải: Đức của quẻ Khôn trọng ở chữ Tải: khôn thuộc đất, thuộc âm nhu, thuộc tải chở được muôn vật, không gì là không được nâng chứa trên mặt đất, và phát sinh từ đất. Cả bức hoành phi, chúng tôi tạm miễn cưỡng hiểu và cắt nghĩa một cách hạn hẹp: rộng mở giáo pháp của Phật, nâng chở tất cả như mặt đất dung chứa bao bọc tất cả vậy.
