Vua Lê Gia Tông (1661 – 1675)

Vua Lê Gia Tông (1661 – 1675)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Lê Gia Tông (chữ Hán: 黎嘉宗; 1661 – 27 tháng 4 năm 1675), tên húy Lê Duy Cối (黎維禬, cũng chép là 黎維𥘺), là vị hoàng đế thứ 9 của triều Lê Trung hưng và là vị vua thứ 20 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông là con trai của vua Lê Thần Tông và Chiêu nghi Lê Thị Ngọc Hoàn. Ngày 19 tháng 11 năm Tân Hợi (1671), khi mới 10 tuổi, Lê Duy Cối được đưa lên ngôi, tức Lê Gia Tông.

Bối cảnh lịch sử

Sau khi vua Lê Thần Tông băng hà vào năm Nhâm Dần (1662), hoàng tử Lê Duy Cối mới vừa tròn hai tuổi. Vì tuổi còn quá nhỏ, ông không thể kế vị ngay, nên được Tây vương Trịnh Tạc cùng Chính phi Trịnh Thị Ngọc Lung đón về nuôi dưỡng trong phủ chúa. Tại đây, Duy Cối được chăm lo cả về vật chất lẫn tinh thần, được dạy học, rèn luyện lễ nghi, hun đúc đức hạnh để chuẩn bị cho việc gánh vác sơn hà trong tương lai.

Trong thời gian này, ngôi vua thuộc về anh trai của ông là Lê Huyền Tông. Tuy nhiên, đến khi Huyền Tông đột ngột qua đời mà không để lại con trai nối dõi, triều đình lâm vào tình thế trống ngôi. Nắm quyền điều hành chính sự, Trịnh Tạc triệu tập các quan văn võ và Tiết chế phủ, bàn định việc kế vị. Với lý do Duy Cối tuy tuổi nhỏ nhưng đã được nuôi dạy trong phủ chúa, thông hiểu lễ nghĩa và là hậu duệ chính thống của hoàng tộc, Trịnh Tạc quyết định tôn lập ông lên ngôi.

Ngày 19 tháng 11 năm Tân Hợi (1671), lễ đăng quang diễn ra trọng thể tại Đông Kinh. Hoàng đế mới lấy niên hiệu Dương Đức, đánh dấu một triều đại ngắn ngủi nhưng vẫn tuân theo khuôn phép của nhà Lê trung hưng. Nhân dịp này, Trịnh Tạc sắc phong Quốc thái mẫu cho Trịnh Thị Ngọc Lung.

Qua đời

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Lê Gia Tông trị vì được vỏn vẹn bốn năm. Do thể chất yếu ớt từ nhỏ, lại tuổi còn quá trẻ, ông sớm lâm bệnh nặng và băng hà vào năm Ất Mão (1675), hưởng dương mới 15 tuổi. Cái chết của ông để lại khoảng trống lớn trong hoàng tộc, bởi nhà vua chưa kịp lập hoàng hậu và cũng không có con trai nối dõi.

Thi hài của vua được an táng tại lăng Phúc An, thuộc xã Phúc Lộc, huyện Thụy Nguyên nay là thôn Phúc Lộc, xã Thiệu Tiến, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa – vùng đất phát tích của nhà Lê sơ. Triều đình truy tôn ông với thụy hiệu rất dài và trang trọng: Khoan Minh Mẫn Đạt Anh Quả Huy Nhu Khắc Nhân Đốc Nghĩa Mỹ Hoàng Đế, và miếu hiệu là Gia Tông.

Sau khi Gia Tông băng hà, quyền thần Trịnh Tạc nắm trọn thực quyền triều chính quyết định lập em út của ông là Lê Duy Hiệp lên ngôi, tức vua Lê Hy Tông, để duy trì dòng chính thống của hoàng tộc Lê.

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

____________________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Background

Le Gia Tong (Chinese: 黎嘉宗; 1661 – 27 April 1675), personal name Le Duy Coi (黎維禬, also recorded as 黎維𥘺), was the 9th emperor of the Le Restoration and the 20th monarch of the Later Le dynasty in Vietnamese history. He was the son of Emperor Le Than Tong and consort Le Thi Ngoc Hoan.

On 19 November 1671 (Year of Tan Hoi), at just ten years old, Le Duy Coi was enthroned as emperor, taking the reign title Duong Duc.

Historical Context

After Emperor Le Than Tong passed away in 1662, Prince Le Duy Coi was only two years old. Because he was too young to inherit the throne, he was taken into the residence of Lord Trinh Tac and his consort Trinh Thi Ngoc Lung, who raised him with both care and discipline. There, he received education in Confucian classics, court rituals, and moral cultivation, preparing him for his future role.

During this period, the throne was held by his elder brother Le Huyen Tong. However, when Huyen Tong suddenly died without leaving an heir, the court faced a succession crisis. Holding supreme authority, Lord Trinh Tac convened officials to discuss the matter. Considering that Duy Coi, though still young, had been raised in the Trinh residence, was well-versed in rituals, and was a legitimate heir of the Le royal line, Trinh Tac decided to enthrone him.

On 19 November 1671, the coronation was solemnly held in Dong Kinh (Thang Long, present-day Hanoi). The new emperor adopted the reign title Duong Duc, marking a short reign but one that adhered to the traditions of the Le Restoration. On this occasion, Trinh Tac also conferred the title Quoc Thai Mau (National Matriarch) upon Trinh Thi Ngoc Lung.

Death

Emperor Le Gia Tong reigned for only four years. Frail since childhood and still very young, he fell gravely ill and died in 1675, at the age of 15. His premature death left a major void within the royal family, as he had not yet married an empress nor fathered an heir.

His body was interred at Phuc An Mausoleum, located in Phuc Loc village, Thuy Nguyen district (today Phuc Loc hamlet, Thieu Tien commune, Thieu Hoa district, Thanh Hoa province), the ancestral homeland of the Early Le dynasty. He was posthumously honored with an exceptionally long and grand title:

Khoan Minh Man Dat Anh Qua Huy Nhu Khac Nhan Doc Nghia My Hoang De

and the temple name Gia Tong.

After his death, Lord Trinh Tac, who held all real power in court, decided to enthrone his younger brother Le Duy Hiep, who became Emperor Le Hy Tong, thus maintaining the legitimate royal line of the Later Le dynasty.

References

  1. Quynh Cu, Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Thanh Nien Publishing.
  2. Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Giao Duc Publishing.
  3. Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Dong Thap General Publishing.
  4. Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien,… (1993), Dai Viet su ky toan thu, Social Sciences Publishing.
  5. Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Nom Preservation Society.
  6. Le trieu ngoc pha.
  7. Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Bac Thanh Printing House.
  8. Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Su Hoc Publishing.
  9. Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Giao Duc Publishing.

____________________

Tiếng Pháp (français’)

Origines

Le Gia Tong (黎嘉宗 ; 1661 – 27 avril 1675), nom personnel Le Duy Coi (黎維禬, aussi transcrit 黎維𥘺), fut le neuvième empereur de la période Le trung hung et le vingtième souverain de la dynastie Hau Le dans l’histoire du Đại Việt.

Il était fils de l’empereur Le Than Tong et de la concubine impériale Le Thi Ngoc Hoan. Le 19 novembre de l’année Tan Hoi (1671), à l’âge de dix ans seulement, Le Duy Coi fut intronisé sous le nom de règne Le Gia Tong.

Contexte historique

À la mort de son père Le Than Tong en l’an Nham Dan (1662), Le Duy Coi n’avait que deux ans. Trop jeune pour succéder immédiatement, il fut confié aux soins du seigneur occidental Trinh Tac et de l’épouse principale Trinh Thi Ngoc Lung, qui l’élevèrent au sein de la résidence seigneuriale. Il y reçut éducation, formation morale et instruction aux rites, afin de se préparer à gouverner dans l’avenir.

Durant cette période, le trône revint à son frère aîné Le Huyen Tong. Mais lorsque celui-ci mourut prématurément sans héritier, la cour se trouva sans souverain. Tenant le pouvoir effectif, Trinh Tac réunit grands mandarins civils et militaires pour discuter de la succession. Considérant que Duy Coi, bien que jeune, avait été formé au sein de la résidence seigneuriale, connaissait les rites et appartenait à la lignée légitime, Trinh Tac décida de le proclamer empereur.

Le 19 novembre de l’année Tan Hoi (1671), l’intronisation solennelle eut lieu à Dong Kinh. Le nouvel empereur adopta l’ère Duong Duc, inaugurant un règne bref mais fidèle aux normes de la restauration Le. À cette occasion, Trinh Tac conféra à Trinh Thi Ngoc Lung le titre de Quoc thai mau (mère de la nation).

Décès

Le règne de Le Gia Tong ne dura que quatre années. De constitution fragile et trop jeune pour assumer pleinement ses charges, il tomba malade et mourut en l’an At Mao (1675), à l’âge de quinze ans. Sa mort laissa un vide dynastique : il n’avait pas encore pris d’épouse impériale ni engendré d’héritier.

Sa dépouille fut inhumée au mausolée Phuc An, situé dans le village Phuc Loc, district Thuy Nguyen — aujourd’hui thôn Phuc Loc, commune Thieu Tien, district Thieu Hoa, province de Thanh Hoa, berceau de la dynastie Le. La cour lui attribua un titre posthume long et solennel : Khoan Minh Man Dat Anh Qua Huy Nhu Khac Nhan Doc Nghia My Hoang De, et le nom de temple Gia Tong.

Après sa disparition, le pouvoir resta aux mains du seigneur Trinh Tac, qui décida d’introniser le plus jeune frère de l’empereur défunt, Le Duy Hiep, sous le nom de Le Hy Tong, afin de préserver la continuité de la lignée légitime des Le.

Références

  1. Quynh Cu, Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Nxb Thanh Nien.
  2. Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Nxb Giao duc.
  3. Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Nxb Tong hop Dong Thap.
  4. Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien, … (1993), Dai Viet su ky toan thu, Nxb Khoa hoc Xa hoi.
  5. Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Hoi Bao ton di san chu Nom.
  6. Le trieu ngoc pha.
  7. Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Nha in Bac Thanh.
  8. Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Nxb Su hoc.
  9. Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Nxb Giao duc.

_____________________

Tiếng Trung (中文)

身世

黎嘉宗(1661年—1675年4月27日),讳黎維禬(或作黎維𥘺),为黎中兴第九帝,后黎朝第二十帝。其为黎神宗与昭仪黎氏玉完之子。辛亥年(1671)十一月十九日,年仅十岁的黎維禬被推上皇位,即黎嘉宗。

历史背景

壬寅年(1662),黎神宗崩,时黎維禬仅二岁,未能即位。于是西王鄭柞与正妃鄭氏玉隆将其迎入府第抚养,赐以衣食教诲,训礼修德,以备将来承嗣。

其间,皇位属其兄黎玄宗。然玄宗骤然早逝,且无子承继,王位遂虚。执政之鄭柞召集群臣、节制府议定继统之事,认为黎維禬虽年少,但久养于府中,明礼义,且为宗室正统,遂决立为帝。

辛亥年(1671)十一月十九日,登极大典于东京举行,新帝建元“阳德”,标志黎中兴一段虽短暂然仍依礼守制之时期。同日,鄭柞封鄭氏玉隆为“国太母”。

崩逝

嘉宗在位仅四年。因自幼体弱,加之年少不堪,乙卯年(1675)遂病笃而崩,时年十五。其未及立后,亦无嗣子,宗室由是空缺。

其遗体安葬于清化承化县瑞源福禄社福安陵(今清化省紹化县紹进社福禄村),即黎初发祥之地。朝廷上尊谥号曰:宽明敏达英果辉柔克仁笃义美皇帝,庙号嘉宗。

嘉宗崩后,实权在握之鄭柞擅定立其弟黎維祫即位,是为黎熙宗,以维持黎室正统。

参考文献

  1. 瓊居、杜德雄(2001),《越南历代》,青年出版社。
  2. 潘輝注(2007),《历朝宪章类志》,教育出版社。
  3. 黎貴惇(1993),《大越通史》,同塔综合出版社。
  4. 黎文休、潘孚先、吳士連等(1993),《大越史记全书》,社会科学出版社。
  5. 黎嵩,《大越通监总论》,喃字文献保护会。
  6. 《黎朝玉谱》。
  7. 陳仲金(1943),《越南史略》,北城印书馆。
  8. 阮朝国史馆(1962),《大南实录前编》,史学出版社。
  9. 阮朝国史馆(1998),《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社。
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)