Thân thế
Quang Trung Hoàng đế (1753 – 16/9/1792), tên thật là Nguyễn Huệ (阮惠), thuở nhỏ gọi là Hồ Thơm, còn có tên khác là Quang Bình, Văn Huệ. Ông sinh năm Quý Dậu 1753, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 đời vua Lê Hiển Tông.
Nguyên quán của gia tộc thuộc huyện Hưng Nguyên, xứ Nghệ An. Khoảng giữa thế kỷ XVII, tổ tiên ông theo chân chúa Nguyễn vào Nam, định cư tại vùng Tây Sơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Ông cố là Hồ Phi Long cưới vợ họ Đinh ở thôn Bằng Châu, sinh Hồ Phi Tiễn. Đến đời Hồ Phi Tiễn, gia đình đổi sang họ Nguyễn theo mẹ là Nguyễn Thị. Con cháu kế nghiệp, trong đó có Nguyễn Phi Phúc, thân phụ của Nguyễn Huệ vốn buôn trầu, làm ăn khấm khá. Mẹ ông là Nguyễn Thị Đồng. Gia đình có tám người con, trong đó ba con trai là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, được hậu thế gọi là Tây Sơn tam kiệt.
Thuở nhỏ, Nguyễn Huệ nổi tiếng thông minh, khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, có tướng mạo khác thường: tóc quăn, da sần, mắt sáng như chớp, tiếng nói sang sảng. Các giai thoại miêu tả rằng đôi mắt ông khi ngồi trong tối có thể phát sáng soi cả chiếu. Dân gian Quy Nhơn quen gọi ông là Đức Ông Tám để phân biệt thứ bậc trong anh em.
Về thứ tự trong gia đình, sử liệu có ghi chép chưa thống nhất. Các bộ chính sử như Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện và Tây Sơn thủy mạt khảo chép rằng: con trưởng là Nguyễn Nhạc, kế đến Nguyễn Lữ, rồi mới đến Nguyễn Huệ. Tuy nhiên, một số tài liệu phương Tây và dân gian lại cho rằng Nguyễn Huệ là em của Nguyễn Lữ.
Nguyễn Huệ và hai người anh em đều được gửi học với thầy Trương Văn Hiến – một trí thức giỏi văn võ, vốn là môn khách của Trương Văn Hạnh (thầy dạy cha Nguyễn Ánh). Trương Văn Hiến chính là người khơi dậy chí lớn trong anh em Tây Sơn, khuyên họ khởi nghĩa để dựng nghiệp, gắn với câu sấm nổi tiếng: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”.
Thuở thiếu thời, Nguyễn Huệ đã nổi bật về võ nghệ, được cho là người khai sáng Yến phi quyền; Nguyễn Lữ sáng tạo Hùng kê quyền, và cả ba anh em Tây Sơn được xem là tổ khai sinh nhiều bài quyền, binh khí đặc trưng của võ phái Tây Sơn Bình Định. Đây là nền tảng để họ xây dựng lực lượng nghĩa quân và tạo nên uy danh lẫy lừng sau này.
Bối cảnh lịch sử
Vào nửa sau thế kỷ XVIII, nước Đại Việt bị chia cắt bởi sông Gianh: phía Bắc do vua Lê – chúa Trịnh kiểm soát, phía Nam thuộc quyền các chúa Nguyễn. Trong khi Đàng Ngoài suy yếu bởi nội loạn và kiêu binh, thì Đàng Trong chìm trong rối ren vì sự chuyên quyền và tàn bạo của Trương Phúc Loan, quyền thần thao túng triều chính sau cái chết của chúa Nguyễn Phúc Khoát.
Năm 1771, lợi dụng tình hình rối ren, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi nghĩa tại Tây Sơn (Bình Định), kêu gọi diệt trừ Trương Phúc Loan, phò nhà Lê. Nhờ chính sách bình dân, chống tham nhũng, công bằng xã hội, lực lượng Tây Sơn phát triển nhanh chóng, đánh bại quân chúa Nguyễn, chiếm được Quy Nhơn, rồi mở rộng kiểm soát tới tận Gia Định.
Từ năm 1773 đến 1777, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn liên tục chiến thắng, tiêu diệt cả hai chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thuần, gần như xoá sổ chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong. Nguyễn Nhạc xưng đế vào năm 1778, lập triều đình riêng ở Quy Nhơn. Tuy nhiên, Nguyễn Ánh – hậu duệ duy nhất còn sống của nhà Nguyễn trốn thoát và từng bước phục quốc với sự giúp sức của Xiêm và phương Tây.
Năm 1785, Nguyễn Huệ đánh tan 2 vạn quân Xiêm tại Rạch Gầm – Xoài Mút, cứu nguy đất nước khỏi ngoại xâm. Sau chiến thắng này, ông trở thành trụ cột quân sự của phong trào Tây Sơn. Trong khi đó, ở Đàng Ngoài, nhà Trịnh đã sụp đổ, nhà Lê khôi phục danh nghĩa nhưng không có thực quyền. Năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, tiêu diệt thế lực họ Trịnh, trao lại quyền tự chủ cho vua Lê, được gả công chúa Ngọc Hân và phong làm Nguyên soái.
Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nổ ra, khiến nội bộ Tây Sơn chia rẽ. Trong lúc đó, triều đình nhà Lê dưới thời Chiêu Thống lại cầu viện nhà Thanh, dẫn đến cuộc xâm lược của 29 vạn quân Thanh cuối năm 1788. Trước tình thế đất nước lâm nguy, Nguyễn Huệ quyết định xuất quân thần tốc ra Bắc, lập đại bản doanh ở Phú Xuân và chính thức lên ngôi hoàng đế đầu năm 1789, lấy niên hiệu Quang Trung, chuẩn bị cho trận quyết chiến với quân Thanh.
Ngay sau lễ đăng quang, Quang Trung phát động chiến dịch Bắc tiến thần tốc. Ông tuyển quân tại Nghệ An, tổ chức lại quân đội với 10 vạn binh và 200 voi chiến, chia quân làm năm đạo, hành quân với tốc độ kỷ lục. Đêm Giao thừa năm Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn bất ngờ tập kích các đồn của quân Thanh, phá tan phòng tuyến Hà Hồi – Ngọc Hồi – Đống Đa. Sầm Nghi Đống tự sát, Tôn Sĩ Nghị cuống cuồng bỏ chạy, Lê Chiêu Thống theo sang Trung Quốc. Chỉ trong 6 ngày, Quang Trung đã đại phá đại quân Thanh, giải phóng Thăng Long, đưa nhà Tây Sơn lên đỉnh cao quyền lực và cứu nước thoát khỏi họa ngoại xâm. Ngày mùng 5 Tết, Quang Trung tiến vào Thăng Long trong sự đón chào của muôn dân.
Sự nghiệp trị quốc
Sau khi lên ngôi Hoàng đế vào cuối năm 1788, vua Quang Trung không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một nhà cải cách có tư duy chính trị tiến bộ, mang tầm nhìn chiến lược sâu rộng. Trong khoảng thời gian trị vì ngắn ngủi, ông đã triển khai hàng loạt chính sách trọng đại nhằm củng cố nền cai trị, phát triển kinh tế – văn hóa, bảo vệ chủ quyền quốc gia và xây dựng một nhà nước thống nhất, độc lập.
Củng cố chính trị và tổ chức hành chính
Quang Trung tuy đã được nhà Thanh phong làm An Nam quốc vương, nhưng trên thực tế, ông tự coi mình là Hoàng đế độc lập của nước Đại Việt. Ông lập Bắc cung Hoàng hậu là công chúa Ngọc Hân, con vua Lê Hiển Tông, và lập con trai Quang Toản làm Thái tử. Ông cho xây dựng kinh đô mới tại Nghệ An, gọi là Phượng Hoàng Trung Đô, như một biểu tượng của quyền lực mới, vừa là trung tâm hành chính vừa là nơi ghi dấu gốc gác dòng tộc.
Ông tiến hành cải tổ hệ thống hành chính trên cả nước. Đất nước được chia thành các xứ (trấn) như Xứ Đông (Hải Dương), Xứ Bắc (Kinh Bắc), Xứ Đoài (Sơn Tây), Xứ Nghệ (Nghệ An, Hà Tĩnh), Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Thanh Hóa nội, Thanh Hóa ngoại… Mỗi trấn đều có trấn thủ (võ quan) và hiệp trấn (văn quan), mỗi huyện đặt phân tri (văn), phân suất (võ), tả hữu quản lý. Ở cấp xã, thôn, tổng đều có xã trưởng, thôn trưởng, tổng trưởng để duy trì hành chính cơ sở. Quang Trung cũng cho lập sổ hộ khẩu, phân loại nhân khẩu theo độ tuổi và ban hành hệ thống thẻ bài “Thiên hạ đại tín” nhằm kiểm soát dân cư chặt chẽ.
Dụng hiền và thu phục nhân tâm
Sau chiến thắng, vua Quang Trung rất coi trọng việc thu dụng hiền tài. Ông ban “Chiếu cầu hiền”, bày tỏ nỗi lòng mong mỏi nhân tài đến giúp nước, với tinh thần trọng dụng cả các cựu thần nhà Lê. Nhiều trí thức, danh sĩ lớn thời đó như Nguyễn Thiếp, Bùi Dương Lịch, Nguyễn Huy Lượng, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Nễ, Vũ Huy Tấn… đã ra giúp nhà Tây Sơn, góp phần ổn định triều chính và xây dựng chế độ mới
Cải cách giáo dục, khuyến học và chấn hưng chữ Nôm
Quang Trung thực hiện cuộc cải cách giáo dục quy mô lớn nhằm gạt bỏ lối học sáo rỗng, học thuộc lòng. Ông ra chiếu lập học, yêu cầu mỗi xã phải có thầy giáo do địa phương lựa chọn. Năm 1791, thành lập “Sùng chính viện” chuyên dịch kinh sách từ chữ Hán sang chữ Nôm. Năm 1792, ông ra chỉ dụ quy định văn kiện hành chính, chiếu chỉ, bài thi, thơ phú trong các kỳ thi đều phải viết bằng chữ Nôm. Đây là một bước đi táo bạo trong việc xây dựng nền học thuật độc lập, chống lại chính sách đồng hóa Hán hóa và đề cao tiếng nói dân tộc.
Chính sách tôn giáo khoan dung và chống mê tín
Dù đề cao Nho giáo trong quản lý, vua Quang Trung vẫn duy trì sự khoan dung tôn giáo. Ông không cấm đạo Công giáo, cho phép các giáo sĩ truyền đạo, xây nhà thờ. Tuy nhiên, ông kiên quyết bài trừ mê tín dị đoan. Quang Trung cho phá bỏ các chùa làng lạm dụng tín ngưỡng, chỉ cho phép mỗi huyện có một ngôi chùa chính thức. Những người tu hành không đạo hạnh, lười biếng, lưu manh phải hoàn tục trở về sản xuất.
Phát triển nông nghiệp và cải cách thuế khóa
Trong lĩnh vực kinh tế, vua Quang Trung áp dụng chính sách thuế khóa hợp lý và khuyến khích khai hoang. Ông chia ruộng đất thành ba hạng để đánh thuế: nhất đẳng (150 bát thóc/mẫu), nhị đẳng (80 bát), tam đẳng (50 bát). Tư điền cũng bị đánh thuế, nhưng nhẹ hơn. Ngoài ra còn có thuế khoán khố, thuế thập vật, nhưng giảm các loại thuế nhân đinh và thuế điệu để giảm gánh nặng cho dân. Ông cũng ra lệnh xử lý các xã không khai hoang ruộng đất đúng thời hạn, biến ruộng tư thành công điền nếu bị bỏ hoang lâu.
Khuyến khích thủ công nghiệp và ngoại thương
Khác với quan niệm “trọng nông ức thương” của các triều trước, Quang Trung chủ trương phát triển thủ công nghiệp và ngoại thương. Ông mở lại các xưởng đúc tiền, vũ khí, đóng thuyền chiến. Các thuyền chiến lớn của Tây Sơn thời đó có thể chở được voi và đại bác. Trong nội thương, ông bãi bỏ các chính sách ức chế thương mại của Lê-Trịnh, tạo điều kiện lưu thông hàng hóa. Ngoại thương được khuyến khích, đặc biệt là buôn bán với Trung Quốc. Ông từng thương lượng mở thương điếm tại Nam Ninh (Quảng Tây), thúc đẩy giao thương qua biên giới.
Ngoại giao với nhà Thanh – Vừa mềm dẻo, vừa chuẩn bị binh bị
Sau khi đánh tan quân Thanh năm 1789, Quang Trung không chọn đối đầu trực diện ngay mà sử dụng chiến lược ngoại giao mềm dẻo, nhằm củng cố lực lượng và tranh thủ thời gian. Ông sai sứ bộ sang Yên Kinh triều kiến, trong đó có cả việc cử người đóng giả mình. Mối quan hệ hòa hiếu tạm thời được thiết lập, nhà Thanh phong cho ông tước An Nam quốc vương. Tuy nhiên, trong nước, vua vẫn tiếp tục chuẩn bị chiến tranh, như ban hành chính sách điều tra nhân khẩu để tuyển binh, in thẻ bài “Thiên hạ đại tín”, lên kế hoạch chiếm lại Lưỡng Quảng, và giao nhiệm vụ thăm dò tình hình Trung Hoa cho các sứ thần.
Mặc dù qua đời sớm năm 1792, vua Quang Trung đã kịp đặt nền móng cho một nhà nước độc lập, thống nhất và cải cách. Các chính sách của ông thể hiện một tư duy tiến bộ vượt thời đại: tự chủ về văn hóa, tinh giản bộ máy hành chính, tôn vinh tiếng nói dân tộc, bảo hộ tín ngưỡng có chọn lọc và khuyến khích sản xuất – thương nghiệp. Nhiều chính sách đó sau này bị nhà Nguyễn bãi bỏ, dẫn đến sự trì trệ, nhưng cũng khiến dân chúng nhớ về triều Tây Sơn với sự tiếc nuối sâu sắc. Quang Trung xứng đáng là một trong những vị vua cải cách vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam.
Gia quyến
Cha: Nguyễn Phúc (có tài liệu ghi là Hồ Phi Phúc, quê ở Tây Sơn, Bình Định).
Mẹ: Nguyễn Thị Đồng (người gốc ấp Tây Sơn, Bình Định).
Anh chị em: Nguyễn Huệ là con thứ ba trong gia đình 5 anh em:
- Nguyễn Nhạc (anh cả) – xưng Tây Sơn Vương, giữ đất Quy Nhơn.
- Nguyễn Lữ (anh hai) – xưng Đông Định Vương, trấn thủ Gia Định.
- Nguyễn Huệ (em ba) – tức Quang Trung Hoàng đế.
- Nguyễn Thị Ngọc Dung (chị/em gái).
- không được ghi rõ.
Nguyên phối
- Phạm Thị Liên: Chính cung hoàng hậu đầu tiên.
- Bùi Thị Nhạn: Chính cung hoàng hậu sau khi Phạm thị mất.
- Lê Ngọc Hân: Công chúa nhà Lê, bà là Bắc Cung Hoàng hậu của vua Quang Trung.
- Phi họ Lê (người Quảng Ngãi).
- Trần Thị Quỵ (người Quảng Nam).
- Nguyễn Thị Bích (người Quảng Trị).
Ngoài ra, còn có các cung nhân, thiếp thất khác, kể cả kế hoạch cầu hôn công chúa nhà Thanh nhưng chưa thành.
Hậu duệ
- Nguyễn Quang Toản (Cảnh Thịnh Đế).
- Nguyễn Quang Bàn.
- Nguyễn Quang Thiệu.
- Nguyễn Quang Thùy (có thuyết là con cung nhân).
- Nguyễn Quang Khanh (có thuyết là con Bùi Thị Nhạn).
- 2 công chúa (một gả cho Nguyễn Văn Trị).
- Nguyễn Quang Đức.
- Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Bảo.
- Một hoàng tử (không rõ tên, bị giết 1801).
- Một hoàng tử (không rõ tên).
- Nguyễn Quang Cương, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Điện, Nguyễn Quốc Thất, Nguyễn Quốc Duy.
- 5 công chúa khác (bị bắt cùng phò mã Nguyễn Văn Trị).
Cuối đời – thờ phụng
Khoảng giữa năm 1792, Quang Trung bất ngờ lâm bệnh nặng. Các sử liệu chính thống như Đại Nam chính biên liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chỉ ghi vắn tắt rằng vua “có bệnh nặng rồi mất”. Nguyên nhân thực sự không được xác định rõ ràng. Một số nhà nghiên cứu hiện đại đưa ra giả thuyết ông bị xuất huyết não, tai biến mạch máu não do lao lực, hoặc cũng có thể là bệnh hiểm nghèo kéo dài.
Trước lúc băng hà, Quang Trung còn kịp triệu tập các đại thần, căn dặn việc nước và trăng trối phò tá Thái tử Nguyễn Quang Toản. Ông cũng bày tỏ mong muốn sớm hoàn thành Phượng Hoàng Trung Đô, nhưng ý định lớn lao ấy mãi mãi chỉ dừng lại ở kế hoạch.
Đêm 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (tức 16/9/1792), vua Quang Trung băng hà tại Phú Xuân, hưởng dương 40 tuổi, trị vì được 4 năm. Sự ra đi đột ngột này khiến triều Tây Sơn rơi vào khủng hoảng, bởi triều đại còn non trẻ, nội bộ chưa thật sự vững chắc, các công cuộc cải cách chưa kịp thành hình.
Công chúa Ngọc Hân, người gắn bó sâu nặng với Quang Trung, đã để lại những bài văn tế như “Ai tư vãn”, “Văn tế vua Quang Trung”, với lời lẽ thống thiết, đau thương. Đây là những áng văn bất hủ, phản ánh tâm trạng bi thương của hậu cung và cả thần dân trước sự mất mát quá lớn.
An táng và điếu tế
Thi hài Quang Trung được an táng tại cung điện Đan Dương ở Phú Xuân. Con trai ông là Nguyễn Quang Toản nối ngôi, tức vua Cảnh Thịnh, đã sai sứ báo tang sang nhà Thanh.
Triều đình nhà Thanh, vốn vừa bại trận dưới tay Quang Trung, vẫn dành cho ông sự kính trọng. Vua Càn Long nghe tin vô cùng thương tiếc, đã truy phong ông thụy hiệu Trung Thuần (忠純), làm thơ điếu, ban bạc giúp chi phí tang lễ và cử sứ sang điếu tế. Đây là một hiện tượng đặc biệt trong bang giao, cho thấy ngay cả kẻ từng là đối thủ cũng phải kính phục tài năng và uy danh của Quang Trung.
Phá hủy lăng mộ
Đến năm 1802, khi Nguyễn Ánh tiêu diệt Tây Sơn và lập ra triều Nguyễn, ông đã trả thù quyết liệt. Mộ phần Quang Trung tại Đan Dương bị đào phá, hài cốt bị xử lý tàn khốc, điện thờ bị san phẳng, không để lại dấu vết. Do đó, vị trí mộ thực sự của Quang Trung đến nay vẫn còn là ẩn số lớn. Có nhiều giả thuyết cho rằng lăng nằm ở vùng gò Dương Xuân Thượng (Huế), song chưa được chứng minh chắc chắn.
Sau khi bị triều Nguyễn hủy diệt dấu tích, trong dân gian vẫn tồn tại ký ức về ông. Người dân gọi Quang Trung bằng cái tên dân dã là “Ông Vò”, ngụ ý chỉ một nhân vật phi thường, nhưng vì số phận éo le mà bị đối xử tàn nhẫn sau khi mất.
Thờ phụng
Mặc dù mộ phần bị triệt phá, nhân dân nhiều nơi vẫn tôn thờ và tưởng niệm Quang Trung. Các đền thờ chính có thể kể đến:
Điện Tây Sơn (Bình Định): nơi gắn liền với quê hương và sự nghiệp dựng cờ khởi nghĩa của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ.
Đền thờ Quang Trung ở Nghệ An: gắn với ý định thiên đô ra Phượng Hoàng Trung Đô, thể hiện khát vọng còn dang dở của nhà vua.
Đền thờ tại Gò Đống Đa (Hà Nội): nơi ghi dấu chiến thắng hiển hách đánh bại quân Thanh năm 1789, hằng năm vào mùng 5 Tết, nhân dân tổ chức lễ hội lớn tưởng nhớ công lao.
Đền thờ tại Huế và nhiều địa phương khác: đều được nhân dân tự nguyện lập nên, bất chấp sự cấm đoán của triều Nguyễn trước đây.
Ngày nay, Quang Trung- Nguyễn Huệ được tôn vinh là một trong những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhất của lịch sử Việt Nam. Cái chết của ông khi sự nghiệp còn dang dở để lại nhiều nuối tiếc, dù triều đại Tây Sơn không tồn tại lâu dài, nhưng Quang Trung đã để lại tầm vóc bất tử trong ký ức dân tộc.
Nhận định – đánh giá
Vua Quang Trung là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của lịch sử Việt Nam. Dù chỉ trị vì trong thời gian ngắn ngủi (1788 – 1792), song ông đã để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm về cả quân sự, chính trị, đối nội, đối ngoại và cải cách xã hội.
Trước hết, về công lao thống nhất đất nước, nhiều học giả đều khẳng định vai trò to lớn của Nguyễn Huệ. Giáo sư Văn Tạo cho rằng ông là người đã thống nhất đất nước về cơ bản, bởi bằng những chiến công dẹp Trịnh – Nguyễn, đánh tan quân Thanh, Nguyễn Huệ đã chấm dứt tình trạng chia cắt kéo dài suốt hơn 200 năm, tạo nền móng cho sự thống nhất hoàn toàn về sau. Tạ Chí Đại Trường cũng thừa nhận rằng ngay cả kẻ thù của Nguyễn Huệ cũng không thể phủ nhận tài năng và đức độ của ông.
Nhà sử học Trần Trọng Kim, trong Việt Nam sử lược, nhìn nhận công lao của Quang Trung không chỉ ở chỗ “phù Lê diệt Trịnh”, mà còn ở chỗ đã biết đặt việc nghĩa lên trên, ra tay cứu nước khi “nước đã mất về tay người Tàu”, đại phá 20 vạn quân Thanh trong trận Ngọc Hồi – Đống Đa, trả lại nền độc lập cho dân tộc. Với Trần Trọng Kim, nếu xét về đạo nghĩa và công lao, vua Quang Trung hoàn toàn xứng đáng đứng ngang hàng với Đinh Tiên Hoàng và Lê Thái Tổ – những bậc đế vương khai sáng, thống nhất sơn hà.
Thành công lớn nhất của ông chính là tài năng quân sự phi thường. Từ một viên tướng “áo vải” xuất thân dân dã, ông đã trở thành một bậc thống soái bách chiến bách thắng, chưa từng thất bại trong trận nào lớn. Những chiến công lẫy lừng như đánh bại 5 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (1785), hạ thành Phú Xuân và tiến ra Thăng Long (1786), đặc biệt là đại phá quân Thanh năm 1789 đã đưa tên tuổi Quang Trung sánh ngang với những thiên tài quân sự thế giới. Chính sử triều Nguyễn, dù là đối thủ, cũng phải thừa nhận rằng quân Xiêm, sau trận thảm bại, “tuy ngoài miệng khoác lác nhưng trong bụng thì sợ Nguyễn Huệ như sợ cọp”.
Tuy nhiên, Nguyễn Huệ không chỉ là một nhà quân sự, mà còn là một nhà chính trị, cải cách đầy viễn kiến. Trong thời gian trị vì ngắn ngủi, ông đã tiến hành nhiều cải cách mạnh mẽ: bãi bỏ thuế ruộng để phục hồi nông nghiệp, khuyến khích ngoại thương và thủ công nghiệp, thực thi chính sách “khuyến học” với việc dùng chữ Nôm trong thi cử, cải cách lại bộ máy hành chính, tinh giản tăng ni, hạn chế mê tín. Những cải cách này, theo sử gia Phan Huy Lê, nếu được thực hiện lâu dài, sẽ mở ra cơ hội phát triển mới, đưa đất nước thoát khỏi trì trệ của chế độ phong kiến.
Về đối ngoại, ông vừa cứng rắn vừa khôn khéo. Sau khi đánh tan quân Thanh, thay vì nuôi hận, ông đã chủ động hòa hiếu, nuôi dưỡng tù binh, tế lễ cho vong linh đối phương, rồi khéo léo cầu phong, để chính thức hóa tính chính danh của triều Tây Sơn. Điều đó cho thấy Quang Trung không chỉ giỏi cầm quân, mà còn là một nhà ngoại giao bản lĩnh, biết đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu.
Song, sự nghiệp của Quang Trung bị dở dang vì cái chết đột ngột năm 1792. Nhiều nhà nghiên cứu, như Trần Trọng Kim hay K.W. Taylor, đều chung một nhận định: nếu ông sống thêm một thập niên, cục diện lịch sử Việt Nam có thể đã thay đổi hẳn – nhà Tây Sơn sẽ đủ thời gian củng cố, và Nguyễn Ánh khó có cơ hội phục quốc.
So với Nguyễn Ánh, đối thủ cùng thời, Quang Trung đại diện cho sức mạnh của nhân dân, khởi nghĩa từ tầng lớp áo vải, chiến đấu vì lợi ích dân tộc và sự thống nhất giang sơn. Ngược lại, Nguyễn Ánh đại diện cho dòng quý tộc Đàng Trong, chủ yếu dựa vào thế lực ngoại bang để khôi phục cơ nghiệp. Dù cuối cùng Nguyễn Ánh thành công trong việc nhất thống đất nước, nhưng về khí phách và tầm vóc, Nguyễn Huệ vẫn được đánh giá như một bậc anh hùng dân tộc, “ngang vai cùng Đinh Tiên Hoàng và Lê Thái Tổ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gọi Nguyễn Huệ là “kẻ phi thường”, và dân gian thì tiếc nuối rằng “trời chẳng thương dòng Âu Lạc” để ông phải yểu mệnh. Dẫu vậy, trong lịch sử, Quang Trung mãi mãi là một tượng đài sáng chói của ý chí độc lập dân tộc, tài năng quân sự và khát vọng canh tân đất nước.
Tài liệu tham khảo
- Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Phan Quang (2005), Theo dòng Lịch sử Dân tộc, quyển 1, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhiều tác giả (2007), Quang Trung Nguyễn Huệ, Nxb Văn hoá Sài Gòn.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2001), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục.
- Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch sử Nội Chiến Việt Nam 1771–1802, Nxb Văn Sử Học.
- Tạ Chí Đại Trường (2007), Việt Nam Thời Tây Sơn: Lịch sử Nội Chiến (1771–1802), Nxb Công an Nhân dân.
- Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
- Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (1997), Đại cương lịch sử Việt Nam, quyển 1, Nxb Giáo dục.
_________________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Biography
Quang Trung Emperor (1753 – September 16, 1792), whose real name was Nguyen Hue (阮惠), was called Ho Thom in his childhood and also bore other names such as Quang Binh and Van Hue. He was born in the year Quy Dau 1753, during the 13th year of Canh Hung under King Le Hien Tong.
His ancestral home was in Hung Nguyen District, Nghe An. Around the mid-17th century, his forebears followed the Nguyen Lords southward and settled in the Tay Son region of Quy Nhon prefecture (now Tay Son District, Binh Dinh Province). His great-grandfather, Ho Phi Long, married a woman of the Dinh family in Bang Chau village and had a son, Ho Phi Tien. In Ho Phi Tien’s generation, the family name was changed to Nguyen through his mother Nguyen Thi. Among his descendants was Nguyen Phi Phuc, father of Nguyen Hue, who traded areca nuts and became prosperous. His mother was Nguyen Thi Dong. The family had eight children, of whom the three brothers Nguyen Nhac, Nguyen Hue, and Nguyen Lu came to be remembered as the “Three Heroes of Tay Son.”
As a child, Nguyen Hue was famed for his intelligence, physical strength, martial prowess, and unusual appearance: curly hair, coarse skin, eyes that shone like lightning, and a resonant voice. Folklore recounts that his eyes could glow in the dark, illuminating a mat. The people of Quy Nhon commonly referred to him as “Duc Ong Tam” to distinguish his position among the siblings.
The exact birth order of the brothers remains disputed in historical records. Official chronicles such as Dai Nam thuc luc, Dai Nam chinh bien liet truyen, and Tay Son thuy mat khao list Nguyen Nhac as the eldest, followed by Nguyen Lu, then Nguyen Hue. However, certain Western sources and folk traditions hold that Nguyen Hue was younger than Nguyen Lu.
The three brothers studied under Truong Van Hien, a learned scholar and strategist, formerly a retainer of Truong Van Hanh (tutor of Nguyen Anh’s father). Truong Van Hien was the one who inspired the Tay Son brothers to take up arms, linking their mission with the famous prophecy: “The West rises in rebellion, the North reaps the fruits.”
In his youth, Nguyen Hue excelled in martial arts and was credited with founding the martial form Yen Phi Quyen. Nguyen Lu created Hung Ke Quyen, while together the Tay Son brothers were considered originators of many distinctive styles and weapons of the Tay Son-Binh Dinh martial school. These traditions later formed the basis of their military strength and legendary reputation.
Historical Context
In the latter half of the 18th century, Dai Viet was divided by the Gianh River: the North ruled by the Le kings and Trinh lords, the South by the Nguyen lords. While Dang Ngoai (the North) declined due to internal strife and arrogant soldiers, Dang Trong (the South) was plunged into chaos under the tyranny of Truong Phuc Loan, the powerful minister who usurped authority after the death of Lord Nguyen Phuc Khoat.
In 1771, taking advantage of the turmoil, the three brothers Nguyen Nhac, Nguyen Hue, and Nguyen Lu launched an uprising in Tay Son (Binh Dinh), calling for the elimination of Truong Phuc Loan and support for the Le dynasty. With policies of social justice, anti-corruption, and equality, the Tay Son forces grew rapidly, defeated the Nguyen troops, captured Quy Nhon, and expanded their control as far as Gia Dinh.
From 1773 to 1777, under Nguyen Hue’s command, the Tay Son army won continuous victories, eliminating both Lord Nguyen Phuc Duong and Lord Nguyen Phuc Thuan, nearly erasing the Nguyen regime in the South. Nguyen Nhac declared himself emperor in 1778, establishing his court in Quy Nhon. However, Nguyen Anh – the sole surviving heir of the Nguyen house – escaped and gradually sought restoration with aid from Siam and Western powers.
In 1785, Nguyen Hue annihilated 20,000 Siamese troops at Rach Gam – Xoai Mut, saving the nation from invasion. This victory established him as the military pillar of the Tay Son movement. Meanwhile, in the North, the Trinh lords collapsed, leaving the Le dynasty nominally restored but powerless. In 1786, Nguyen Hue marched north, destroyed the Trinh regime, restored autonomy to the Le king, married Princess Ngoc Han, and was appointed Commander-in-Chief.
Internal conflict between Nguyen Nhac and Nguyen Hue soon broke out, weakening the Tay Son leadership. Meanwhile, King Le Chieu Thong appealed to the Qing dynasty, leading to the invasion of 290,000 Qing troops at the end of 1788. Faced with national peril, Nguyen Hue mobilized his forces from Phu Xuan, declared himself emperor in early 1789 with the reign title Quang Trung, and prepared for a decisive confrontation.
Immediately after his coronation, Quang Trung launched a lightning northern campaign. Recruiting troops in Nghe An, he reorganized his army into 100,000 men and 200 war elephants, divided into five corps, marching at unprecedented speed. On Lunar New Year’s Eve of 1789, the Tay Son army struck the Qing camps by surprise, crushing their defenses at Ha Hoi, Ngoc Hoi, and Dong Da. General Sam Nghi Dong committed suicide, Ton Si Nghi fled in panic, and Le Chieu Thong followed him to China. In just six days, Quang Trung annihilated the Qing army, liberated Thang Long, elevated the Tay Son regime to its zenith, and saved the nation from foreign domination. On the fifth day of Tet, Quang Trung entered Thang Long in triumph, welcomed by the populace.
Governance and Reforms
After ascending the throne in late 1788, Emperor Quang Trung was not only an outstanding military strategist but also a reformist ruler with advanced political thought and far-reaching strategic vision. During his short reign, he implemented a series of major policies aimed at consolidating governance, promoting economic and cultural development, safeguarding sovereignty, and building a unified, independent state.
Political Consolidation and Administrative Organization
Although recognized by the Qing court with the title King of Annam, Quang Trung in reality regarded himself as the independent Emperor of Dai Viet. He installed Princess Ngoc Han, daughter of King Le Hien Tong, as his Empress of the Northern Palace, and appointed his son Quang Toan as Crown Prince. He ordered the construction of a new capital in Nghe An, named Phuong Hoang Trung Do (“Phoenix Central Capital”), both as a symbol of the new authority and as a marker of his family’s ancestral homeland.
He reorganized the administrative system nationwide. The country was divided into xu (provinces) such as Xu Dong (Hai Duong), Xu Bac (Kinh Bac), Xu Doai (Son Tay), Xu Nghe (Nghe An, Ha Tinh), Son Nam Thuong, Son Nam Ha, Thanh Hoa Noi, and Thanh Hoa Ngoai. Each province was overseen by a tran thu (military governor) and a hiep tran (civil administrator). At the district level, civil and military deputies (phan tri and phan suat) were appointed, assisted by left- and right-hand supervisors. At the grassroots level, villages and communes were managed by xa truong, thon truong, and tong truong. Quang Trung also introduced household registration, classifying population by age, and issued “Thien ha dai tin” identity tokens to strictly manage residents.
Employment of Talents and Winning Popular Support
Following his victory, Emperor Quang Trung attached great importance to attracting capable men. He issued the “Edict to Seek the Talented” (Chieu cau hien), expressing his earnest desire for men of learning and ability to serve the country, including former officials of the Le dynasty. Prominent scholars and literati such as Nguyen Thiep, Bui Duong Lich, Nguyen Huy Luong, Doan Nguyen Tuan, Nguyen Ne, Vu Huy Tan and others entered service, contributing to political stability and the consolidation of the new regime.
Educational Reform, Promotion of Learning, and the Advancement of Chu Nom
Quang Trung carried out sweeping educational reforms aimed at eliminating rote memorization and empty learning. He decreed the establishment of schools, requiring every commune to appoint a teacher chosen locally. In 1791, he founded the Sung chinh vien (Institute for Rectification), dedicated to translating Confucian classics from Chinese into chu Nom. In 1792, he mandated that all official documents, edicts, examination essays, and poetry be written in chu Nom. This was a bold step toward creating an independent scholarly tradition, resisting sinicization, and elevating the national language.
Religious Tolerance and Opposition to Superstition
Although Confucianism was upheld in governance, Quang Trung maintained religious tolerance. He did not ban Catholicism, allowing missionaries to preach and churches to be built. However, he strictly opposed superstition. He ordered the demolition of redundant village pagodas that exploited local cults, limiting each district to one official temple. Monks and nuns without moral conduct, or who were idle and disorderly, were forced to return to secular life and labor.
Agricultural Development and Tax Reform
In economic affairs, Quang Trung applied a rational taxation system and encouraged land reclamation. Farmlands were categorized into three grades for taxation: first-class (150 bowls of rice per mau), second-class (80 bowls), and third-class (50 bowls). Private land was also taxed, though at a lighter rate. Other taxes included levies on treasury quotas and various goods, but the poll tax and head tax were reduced to ease burdens on the people. Villages failing to reclaim land on schedule faced penalties, and abandoned private fields could be confiscated as public land.
Promotion of Handicrafts and Foreign Trade
In contrast with the agrarian bias of earlier dynasties, Quang Trung advocated the development of handicrafts and commerce. He reopened foundries for minting coins, casting weapons, and building warships. The Tay Son navy possessed large ships capable of transporting elephants and cannons. In domestic trade, he abolished restrictive policies of the Le–Trinh regime, facilitating the free flow of goods. Foreign trade was encouraged, especially with China. He even negotiated the opening of a trading post in Nanning (Guangxi), enhancing cross-border commerce.
Diplomacy with the Qing: Flexibility with Military Preparedness
After defeating the Qing army in 1789, Quang Trung did not pursue open confrontation but instead adopted a conciliatory diplomatic strategy to gain time for internal consolidation. He dispatched embassies to Beijing, even sending a substitute impersonating himself. A temporary peaceful relationship was established, and the Qing court conferred on him the title “King of Annam.” Yet at home, Quang Trung continued preparations for war: enforcing population surveys for conscription, issuing “Thien ha dai tin” tokens, planning to reclaim Liangguang (Guangdong–Guangxi), and instructing envoys to gather intelligence on China.
Although his reign was cut short by his death in 1792, Emperor Quang Trung laid the foundations for an independent, unified, and reformist state. His policies reflected a vision far ahead of his time: cultural autonomy, streamlined administration, promotion of the national script, selective protection of religious practices, and encouragement of production and trade. Many of these reforms were later abolished by the Nguyen dynasty, leading to stagnation, yet they left lasting memories of the Tay Son regime as a time of great promise. Quang Trung is rightly honored as one of Vietnam’s greatest reformist monarchs.
Family
Parents
Father: Nguyen Phuc (some sources record his name as Ho Phi Phuc, originally from Tay Son, Binh Dinh).
Mother: Nguyen Thi Dong (native of Tay Son hamlet, Binh Dinh).
Siblings
Nguyen Hue was the third child in a family of five siblings:
Nguyen Nhac (eldest brother) – proclaimed himself Tay Son Vuong (King of Tay Son), ruling over Quy Nhon.
Nguyen Lu (second brother) – proclaimed himself Dong Dinh Vuong (Prince of the East), governing Gia Dinh.
Nguyen Hue (third brother) – later Emperor Quang Trung.
Nguyen Thi Ngoc Dung (sister, though records are not precise regarding her exact place among the siblings).
Principal Consorts
Pham Thi Lien: The first Empress Consort.
Bui Thi Nhan: Became principal Empress after Pham Thi Lien’s death.
Le Ngoc Han: Princess of the Le dynasty, honored as Bac Cung Hoang hau (Empress of the Northern Palace), a celebrated figure in Vietnamese history.
A consort from the Le family (originating from Quang Ngai).
Tran Thi Quy (from Quang Nam).
Nguyen Thi Bich (from Quang Tri).
In addition, Quang Trung had numerous concubines and secondary consorts. There were even plans for him to marry a princess of the Qing imperial family, though this never came to fruition.
Children
Nguyen Quang Toan – enthroned as Emperor Canh Thinh.
Nguyen Quang Ban.
Nguyen Quang Thieu.
Nguyen Quang Thuy (some sources claim he was the son of a concubine).
Nguyen Quang Khanh (possibly the son of Bui Thi Nhan).
Two unnamed princesses (one was married to Nguyen Van Tri).
Nguyen Quang Duc.
Princess Nguyen Thi Ngoc Bao.
One prince (unnamed, executed in 1801).
One prince (unnamed).
Nguyen Quang Cuong, Nguyen Quang Tu, Nguyen Quang Dien, Nguyen Quoc That, Nguyen Quoc Duy.
Five other princesses (captured along with their husband Nguyen Van Tri).
Final Years and Death
In mid-1792, Quang Trung suddenly fell seriously ill. Official chronicles such as Dai Nam chinh bien liet truyen and Kham dinh Viet su thong giam cuong muc merely record briefly that the emperor “was gravely ill and then passed away.” The actual cause of death remains uncertain. Modern scholars have suggested possibilities such as cerebral hemorrhage, stroke caused by overexertion, or perhaps a chronic fatal illness.
Before his passing, Quang Trung managed to summon his senior officials, entrusted them with matters of state, and instructed them to support Crown Prince Nguyen Quang Toan. He also expressed his desire to complete the new capital, Phuong Hoang Trung Do, but this grand ambition was never realized.
On the night of the 29th day of the 7th lunar month, Year of Nham Ty (September 16, 1792), Emperor Quang Trung died in Phu Xuan at the age of 40, after a reign of only four years. His sudden death threw the Tay Son dynasty into crisis, as it was still young and unstable, with many reforms left unfinished.
Princess Ngoc Han, deeply devoted to Quang Trung, composed heart-rending funeral orations such as Ai tu van and Van te vua Quang Trung, masterpieces of Vietnamese literature that convey the grief of the royal household and the people at the immense loss.
Burial and Qing Condolences
Quang Trung’s remains were interred at the Dan Duong Palace in Phu Xuan. His son Nguyen Quang Toan ascended the throne as Emperor Canh Thinh and dispatched envoys to inform the Qing court of his father’s death.
Although recently defeated by Quang Trung, the Qing dynasty still showed respect. Emperor Qianlong, upon hearing the news, expressed deep sorrow, posthumously conferred on him the title Zhong Chun (忠純, “Loyal and Pure”), composed a mourning poem, granted silver for funeral expenses, and sent envoys to pay tribute. This was an extraordinary gesture in diplomatic history, reflecting the admiration even a former adversary held for Quang Trung’s talent and prestige.
Destruction of the Tomb
In 1802, when Nguyen Anh defeated the Tay Son and founded the Nguyen dynasty, he exacted brutal revenge. Quang Trung’s tomb at Dan Duong was desecrated, his remains cruelly destroyed, and his shrine completely razed. As a result, the actual burial site of Quang Trung remains a mystery. Many theories point to the Dương Xuan Thuong hill area (in present-day Hue), but none have been definitively proven.
Despite the destruction by the Nguyen court, popular memory of him endured. The people referred to Quang Trung with the familiar name “Ong Vo,” meaning a figure of extraordinary might who, despite his greatness, suffered a tragic fate and harsh treatment after death.
Veneration
Although his tomb was obliterated, people across Vietnam continued to worship and commemorate Quang Trung. Major temples include:
Tay Son Shrine (Binh Dinh): associated with his homeland and the uprising of the three Tay Son brothers.
Quang Trung Temple in Nghe An: linked to his unfinished ambition of relocating the capital to Phuong Hoang Trung Do.
Temple at Dong Da Mound (Hanoi): commemorating the great victory over the Qing in 1789; annual festivals are held on the fifth day of Tet.
Temples in Hue and other localities: erected voluntarily by the people despite former prohibitions by the Nguyen dynasty.
Today, Quang Trung – Nguyen Hue is honored as one of Vietnam’s greatest national heroes. His untimely death left deep regret, and though the Tay Son dynasty did not last long, Quang Trung remains immortal in the nation’s memory for his indomitable spirit, military genius, and reformist vision.
Evaluation and Historical Assessments
Emperor Quang Trung is regarded as one of the most outstanding figures in Vietnamese history. Although he reigned for only a brief period (1788–1792), his legacy was profoundly significant in military, political, diplomatic, and reformist domains.
Many scholars affirm Nguyen Hue’s monumental role in national unification. Professor Van Tao argued that he essentially achieved reunification, for by defeating both the Trinh and Nguyen factions and crushing the Qing invasion, Nguyen Hue ended more than two centuries of division and laid the foundation for full unity. Historian Ta Chi Dai Truong likewise acknowledged that even Nguyen Hue’s enemies could not deny his brilliance and virtue.
Historian Tran Trong Kim, in Viet Nam su luoc, noted that Quang Trung’s achievements lay not only in “supporting the Le and destroying the Trinh,” but in placing righteousness above all else, rescuing the nation when “the country had fallen into the hands of the Chinese,” and defeating 200,000 Qing troops at Ngoc Hoi – Dong Da, restoring independence to the people. For Tran Trong Kim, in terms of both moral righteousness and accomplishment, Emperor Quang Trung deserved to stand on par with Dinh Tien Hoang and Le Thai To – the founding monarchs who unified the realm.
Quang Trung’s greatest triumph lay in his extraordinary military talent. From a commoner-turned-general, he became an undefeated commander whose victories earned him a place among the world’s great strategists. Notable campaigns included:
Defeating 50,000 Siamese troops at Rach Gam – Xoai Mut (1785).
Capturing Phu Xuan and advancing to Thang Long (1786).
The decisive annihilation of Qing forces in 1789.
Even the Nguyen dynasty’s chronicles, despite enmity, admitted that the Siamese, after their catastrophic defeat, “boasted outwardly but inwardly feared Nguyen Hue as one fears a tiger.”
Beyond his military prowess, Nguyen Hue was also a political leader of foresight. In his short reign, he enacted major reforms: abolishing burdensome land taxes to revive agriculture, promoting commerce and handicrafts, instituting educational reform with chu Nom as the official script, streamlining the bureaucracy, reducing the clergy, and combating superstition. Historian Phan Huy Le observed that had these reforms been sustained, they could have opened a new path of development and lifted the nation from the stagnation of feudal rule.
In foreign affairs, Quang Trung was both firm and tactful. After defeating the Qing, instead of harboring vengeance, he treated prisoners humanely, honored enemy dead, and cleverly sought investiture to legitimize the Tay Son regime. This demonstrated not only his military leadership but also his diplomatic skill, prioritizing national interest above personal pride.
Quang Trung’s career was tragically cut short by his sudden death in 1792. Historians such as Tran Trong Kim and K.W. Taylor concur that had he lived another decade, Vietnam’s historical trajectory might have been entirely different — the Tay Son dynasty would have had time to consolidate, and Nguyen Anh would likely have failed in his restoration efforts.
While Nguyen Anh (later Emperor Gia Long) ultimately succeeded in unifying the country, his path relied heavily on foreign powers. In contrast, Quang Trung embodied the strength of the people, rising from common origins, fighting for national unity and independence. Though Gia Long founded a dynasty, Nguyen Hue is remembered with greater admiration as a heroic figure of national stature, “standing alongside Dinh Tien Hoang and Le Thai To.”
President Ho Chi Minh once referred to Nguyen Hue as a “man of extraordinary greatness,” while folk memory laments that “Heaven did not favor the Au Lac line,” cutting short his life. Yet in history, Quang Trung endures as a radiant monument of national independence, military genius, and the aspiration for reform.
References
- Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Phan Quang (2005), Theo dòng Lịch sử Dân tộc, quyển 1, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhiều tác giả (2007), Quang Trung Nguyễn Huệ, Nxb Văn hoá Sài Gòn.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2001), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục.
- Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch sử Nội Chiến Việt Nam 1771–1802, Nxb Văn Sử Học.
- Tạ Chí Đại Trường (2007), Việt Nam Thời Tây Sơn: Lịch sử Nội Chiến (1771–1802), Nxb Công an Nhân dân.
- Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
- Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (1997), Đại cương lịch sử Việt Nam, quyển 1, Nxb Giáo dục.
________________
Tiếng Pháp (français’)
Origines
L’Empereur Quang Trung (1753 – 16 septembre 1792), de son vrai nom Nguyen Hue (阮惠), appelé dans son enfance Ho Thom, et aussi connu sous les noms de Quang Binh et Van Hue, naquit en l’an Quý Dậu 1753, sous le règne de l’empereur Lê Hiên Tông (ère Canh Hung).
La famille était originaire du district de Hung Nguyen, province de Nghê An. Vers le milieu du XVIIᵉ siècle, ses ancêtres suivirent les seigneurs Nguyen vers le Sud et s’établirent dans la région de Tây Son, province de Quy Nhon (aujourd’hui district de Tây Son, province de Binh Dinh). Son arrière-grand-père, Ho Phi Long, épousa une femme du clan Dinh de Bang Chau, donnant naissance à Ho Phi Tien. À cette génération, la famille adopta le nom Nguyen par l’intermédiaire de la mère. Le père de Nguyen Hue, Nguyen Phi Phuc, prospérait dans le commerce du bétel. Sa mère se nommait Nguyen Thi Dong. La fratrie comprenait huit enfants, dont trois fils illustres : Nguyen Nhac, Nguyen Hue et Nguyen Lu, connus sous le nom des trois héros de Tây Son (Tây Son tam kiệt).
Dès son enfance, Nguyen Hue se distingua par son intelligence, sa force, son habileté martiale et son apparence singulière : cheveux frisés, peau rugueuse, regard étincelant et voix retentissante. On racontait que ses yeux pouvaient briller dans l’obscurité. À Quy Nhon, le peuple l’appelait respectueusement Duc Ong Tam.
Les sources divergent quant à son rang dans la fratrie : selon les chroniques officielles vietnamiennes, Nguyen Nhac était l’aîné, suivi de Nguyen Lu, puis de Nguyen Hue. Toutefois, certaines traditions orales et documents occidentaux affirment que Nguyen Hue était cadet de Nguyen Lu.
Les trois frères furent instruits par le maître Truong Van Hien, lettré et stratège, ancien disciple de Truong Van Hanh (précepteur du père de Nguyen Anh). C’est lui qui inspira aux frères Tây Son leur idéal de révolte et leur transmit la prophétie fameuse : « L’Ouest se soulèvera, le Nord sera conquis ».
On attribue à Nguyen Hue la fondation du style martial Yen phi quyen, à Nguyen Lu la création du Hung kê quyen, et aux trois frères la transmission de nombreuses techniques d’arts martiaux Tây Son – socle militaire qui permit l’essor de leur insurrection.
Contexte historique
Au XVIIIᵉ siècle, le Đại Việt était divisé par la rivière Gianh : au Nord régnaient les rois Lê sous la tutelle des Trinh, au Sud dominaient les seigneurs Nguyen. Tandis que le Tonkin se consumait dans la corruption et les mutineries, la Cochinchine sombrait sous la tyrannie du mandarin Truong Phuc Loan après la mort du seigneur Nguyen Phuc Khoat.
En 1771, les trois frères Tây Son se révoltèrent, appelant à renverser Truong Phuc Loan et à restaurer la dynastie Lê. Grâce à une politique populaire et égalitaire, leur armée grandit rapidement, s’empara de Quy Nhon, puis de Gia Dinh.
De 1773 à 1777, sous le commandement de Nguyen Hue, les Tây Son écrasèrent les forces Nguyen et éliminèrent deux seigneurs successifs. Nguyen Nhac se proclama empereur en 1778 à Quy Nhon. Toutefois, le prince Nguyen Anh, unique survivant de la lignée, poursuivit la lutte avec l’appui du Siam et de conseillers occidentaux.
En 1785, Nguyen Hue remporta la victoire décisive de Rach Gam – Xoai Mut contre 20 000 Siamois. En 1786, il marcha vers le Nord, renversa les Trinh et rétablit nominalement l’autorité des Lê. Il épousa la princesse Ngoc Han et reçut le titre de grand maréchal.
Mais les divisions internes et l’appel à l’aide des Lê auprès de la Chine entraînèrent l’invasion de 290 000 soldats Qing en 1788. Devant cette menace, Nguyen Hue fut proclamé empereur sous le nom de règne Quang Trung.
En six jours, lors du Tết Kỷ Dậu (1789), son armée fulgurante anéantit les Qing à Ha Hoi – Ngoc Hoi – Dong Da, libérant Thang Long et sauvant la nation.
Gouvernement et réformes
Quang Trung ne fut pas seulement un stratège militaire, mais aussi un réformateur visionnaire.
Administration : création d’un système provincial efficace, recensements, cartes d’identité (Thien ha dai tin).
Éducation : promotion de l’écriture Nôm (au lieu du chinois classique), réforme des concours, fondation de l’Institut Sung Chinh pour traduire les classiques.
Religion : tolérance envers le catholicisme, mais lutte contre la superstition ; réduction du nombre de temples, exigence de vertu pour le clergé.
Économie : réforme fiscale équitable, encouragement de l’agriculture, du commerce et de l’artisanat ; développement de la flotte militaire et du commerce frontalier avec la Chine.
Diplomatie : après la victoire de 1789, il adopta une politique de conciliation avec la dynastie Qing, tout en préparant discrètement de futures campagnes.
Ces mesures audacieuses posèrent les bases d’un État centralisé et moderne, mais furent interrompues par sa mort prématurée.
Familiale
Père : Nguyen Phi Phuc (ou Ho Phi Phuc).
Mère : Nguyen Thi Dong.
Fratrie : Nguyen Nhac (aîné), Nguyen Lu, Nguyen Hue, et une sœur (Nguyen Thi Ngoc Dung).
Épouses principales
Pham Thi Lien (première impératrice).
Bui Thi Nhan (épouse après le décès de Pham Thi Lien).
Princesse Lê Ngoc Han (fille de l’empereur Lê Hiên Tông).
D’autres épouses et concubines, dont Tran Thi Quy, Nguyen Thi Bich.
Descendance
Nguyen Quang Toan (empereur Canh Thinh).
Plusieurs autres princes et princesses, dont certains furent exécutés ou réduits en captivité après la chute des Tây Son.
Fin de vie et mort
En 1792, Quang Trung tomba soudainement malade et mourut à Phu Xuan à l’âge de 40 ans, après seulement quatre années de règne. Les causes restent incertaines : apoplexie, surmenage, ou maladie chronique.
Son corps fut inhumé au palais Dan Duong. L’empereur Qianlong de Chine, bien qu’ayant été son adversaire, rendit hommage par un titre posthume et un poème funéraire.
En 1802, après la victoire de Nguyen Anh (empereur Gia Long), son tombeau fut profané et rasé, laissant son lieu de sépulture exact inconnu jusqu’à aujourd’hui.
Mémoire et culte
Malgré la destruction de son tombeau, Quang Trung continua d’être vénéré par le peuple. Des temples lui sont dédiés à Binh Dinh (Tây Son), Nghe An, Dong Da (Hanoï), et ailleurs.
Jugements historiques
Quang Trung est considéré comme l’un des plus grands héros du Vietnam :
Il mit fin à plus de 200 ans de division, battit des armées étrangères supérieures, et affirma l’indépendance nationale.
Il fut un réformateur éclairé : modernisation de l’administration, promotion de la langue nationale, encouragement du commerce.
Sa mort prématurée fut une perte immense ; selon plusieurs historiens, s’il avait vécu une décennie de plus, le destin du Vietnam aurait été profondément différent.
Le président Ho Chi Minh l’a qualifié d’« homme extraordinaire ». Pour la mémoire nationale, Quang Trung demeure un symbole éclatant d’indépendance, de génie militaire et de volonté réformatrice.
Références
- Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Phan Quang (2005), Theo dòng Lịch sử Dân tộc, quyển 1, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhiều tác giả (2007), Quang Trung Nguyễn Huệ, Nxb Văn hoá Sài Gòn.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2001), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục.
- Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch sử Nội Chiến Việt Nam 1771–1802, Nxb Văn Sử Học.
- Tạ Chí Đại Trường (2007), Việt Nam Thời Tây Sơn: Lịch sử Nội Chiến (1771–1802), Nxb Công an Nhân dân.
- Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
- Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (1997), Đại cương lịch sử Việt Nam, quyển 1, Nxb Giáo dục.
__________________
Tiếng Trung (中文)
身世
光中皇帝(1753年-1792年9月16日),本名阮惠(Nguyen Hue),又名光平、文惠。生于癸酉年(1753),为黎显宗景兴十三年。
祖籍系于乂安省兴元县。十七世纪中叶,先祖随阮主南迁,定居于归仁府西山(今平定省西山县)。曾祖胡丕龙娶丁氏女于榜洲村,生胡丕踐。至胡丕踐时,因母阮氏而改姓阮。子孙继嗣,其中阮丕福即阮惠之父,本业为槟榔商,颇为殷实。母为阮氏 đồng。家有八子女,其中三子阮岳、阮惠、阮吕,被后世称为“西山三杰”。
少时阮惠聪慧强健,善武艺,仪貌奇特:发卷、肤粗、目光炯炯如电、声若洪钟。传说其目能于暗室发光,照耀一席。归仁百姓常呼之为“德翁八”,以别兄弟排行。
关于兄弟长幼,史料不一。《大南实录》《大南正编列传》《西山始末考》皆称:长为阮岳,次阮吕,三阮惠。然而西方文献及民间传说则谓阮惠为阮吕之弟。
阮惠与二兄皆从师于张文显——一位文武兼优之士,曾为张文亨(阮映之父师)门客。张文显激励西山兄弟立志创业,劝其举义,契合著名谶语:“西起义,北成功。”
阮惠少年已以武艺闻名,相传为“燕飞拳”创始人;阮吕创“雄鸡拳”;三兄弟皆为西山平定武派诸多拳术兵器之开山祖。此即其后建立义军、扬名天下之根基。
历史背景
十八世纪后半叶,大越国以江山江为界,南北分裂:北方为黎王—郑主所控,南方归阮主。北方因内乱与骄兵而衰,南方则为权臣张福Loan专政、暴虐,致政局混乱。
1771年,三兄弟阮岳、阮惠、阮吕于西山(平定)起义,号召诛张福Loan、扶黎室。因其平民政策、反腐倡廉、提倡公平,西山军势力迅速壮大,击败阮军,占据归仁,继而扩展至嘉定。
1773至1777年,阮惠率军连战连捷,歼灭阮福Dương与阮福Thuần两阮主,几乎荡平南方阮氏政权。1778年阮岳称帝,建朝于归仁。然而阮映——阮氏唯一幸存后嗣——逃脱,逐步在暹罗及西方援助下图复国。
1785年,阮惠于𣳸锦—槐没大破二万暹军,解国难。自此,阮惠成为西山运动军事支柱。北方方面,郑氏覆亡,黎氏虽复名义,然无实权。1786年,阮惠率军北进,灭郑势,复黎王自主,娶公主玉姻,受封元帅。
然阮岳与阮惠矛盾爆发,西山内部分裂。此际,黎昭统朝廷求援清廷,引发1788年末二十九万清军入侵。国难当头,阮惠决意北伐,于富春建大本营,1789年初即帝位,号光中,筹战清军。
登基后,光中发起神速北伐,于乂安募兵,重整十万军、二百战象,分五道行军,疾如风火。己酉除夕夜(1789),西山军突袭清营,破河回—玉回—董多防线。岑宜董自尽,孙士毅仓皇遁走,黎昭统奔清。仅六日,光中大破清军,解放昇龙,推西山政权至巅峰,救国于危。正月初五,光中凯旋入昇龙,万民夹道欢迎。
治国事业
光中皇帝自1788年底即位后,不仅是一位卓越的军事统帅,更是一位具有进步政治思想和远见卓识的改革君主。在其短暂的统治时期,推行了一系列重大政策,以巩固政权、发展经济文化、维护国家主权,并建设统一独立的国家。
巩固政治与行政体制
虽清廷册封其为“安南国王”,但光中自视为大越独立皇帝。立北宫皇后黎氏玉姻(黎显宗之女),并立子阮光纘为太子。于乂安营建新都——凤凰中都,既为新政权象征,又为行政中心。
他改革全国行政制度,将国家划为诸“处(镇)”,如东处(海阳)、北处(京北)、Đoài处(山西)、乂处(乂安、河静)、山南上、山南下、清化内、清化外等。各镇设镇守(武官)、协镇(文官);县设分治(文)、分率(武)、左右管理;社、村、总设社长、村长、总长。并设户籍,按年龄分类人口,颁行“天下大信”木牌制度,以严控民籍。
任用贤才,收揽人心
光中胜利后尤重贤才,颁布《求贤诏》,诚邀天下士人,无论前黎旧臣,皆加礼遇。于是阮协、裴阳历、阮辉亮、段阮俊、阮拟、武辉晋等名士相继出仕,协助稳定朝政,建设新制。
教育改革,推崇字喃
光中发动大规模教育改革,革除空疏死记之学。下诏各社必设教师,由地方选任。1791年设“崇政院”,专译经籍自汉字为喃字。1792年又令行政文书、敕令、科举、诗赋一律用喃字书写。这一大胆举措,开创独立学术传统,抗衡汉化,彰显民族语言。
宗教宽容与禁绝迷信
光中虽以儒治国,却宽容宗教。并不禁止天主教,允传教、建堂。然而坚决取缔迷信:拆毁乡村滥设寺庙,每县仅留一正寺;僧侣若无德、懒惰、游手好闲者,皆勒令还俗务农。
农业发展与赋税改革
在经济方面,光中推行合理税制,鼓励开荒。土地分三等征税:一等田每亩150碗稻,二等80,三等50。私田亦征税,但较轻。另有官库税、什物税,但减轻人丁、徭役之负。并下令荒田不及时开垦者,没收为公田。
鼓励手工业与对外贸易
不同于前代“重农抑商”,光中提倡手工业与外贸。重开铸钱、铸兵、造战船作坊。西山大舰可载象与火炮。国内废除黎郑时期限制贸易之政策,便利流通;对外尤重与中国贸易,曾议设南宁商站,以促进边贸。
对清外交——柔中带刚
1789年大破清军后,光中未即正面抗衡,而施柔性外交以争取时间。他遣使入燕京朝贡,甚至以假帝代行。暂时维持和好,清廷封其“安南国王”。然国内仍积极备战:普查人口以募兵,颁“天下大信”牌,筹谋夺取两广,遣使探清国情。
虽然1792年英年早逝,光中仍奠定独立统一与改革之基础。其政策展现超越时代的进步思想:文化自主、精简行政、推崇民族语言、精选宗教信仰、鼓励生产与商贸。然其后阮朝尽废,致国家再度停滞,民间因而长怀西山政权之遗恨。光中实为越史最伟大改革君主之一。
家族
父亲:阮福(有史料记载作胡丕福,籍贯平定西山)。
母亲:阮氏 đồng(平定西山邑人)。
兄弟姊妹:阮惠为五兄弟中第三子。
阮岳(长兄)——称西山王,守归仁。
阮吕(二兄)——称东定王,镇守嘉定。
阮惠(三弟)——即光中皇帝。
阮氏玉容(姊/妹)。
另有一人,史料未详。
元配与后宫:
范氏莲:第一任皇后。
裴氏燕:范氏逝世后继立皇后。
黎玉姻:黎朝公主,著名北宫皇后。
黎氏妃(广义人)。
陈氏Quỵ(广南人)。
阮氏碧(广治人)。
此外尚有宫人妾室,甚至曾计划向清朝求娶公主,未果。
后裔
阮光纘(景盛帝)。
阮光盘。
阮光绍。
阮光垂(或为宫人所出)。
阮光庆(或为裴氏燕之子)。
二公主(其中一人下嫁阮文治)。
阮光德。
公主阮氏玉保。
一王子(不详,1801年遇害)。
一王子(不详)。
阮光刚、阮光嗣、阮光奠、阮国七、阮国惟。
另有五公主(与驸马阮文治一同被俘)。
晚年与逝世
1792年中,光中皇帝骤然患重病。《大南正编列传》《钦定越史通鉴纲目》仅记“有疾而崩”。真实原因未详。今学者或谓脑溢血、脑卒中,亦或积劳成疾。
临终前,他召群臣托孤太子阮光纘,并寄望早成凤凰中都,但终成遗愿。
壬子年七月二十九日夜(1792年9月16日),光中崩于富春,年仅四十,在位四年。其骤逝使西山朝陷入危机,改革未及成形。
黎氏玉姻公主深哀痛,作《哀思挽》《祭文》,字字悲切,成为传世之文,反映后宫与百姓同悲之情。
安葬与吊祭
遗体葬于富春丹阳宫。子阮光纘继位(景盛帝),遣使告丧清廷。
清廷虽甫败于光中,仍致敬。乾隆帝深表哀悼,追谥“忠纯”,作诗吊祭,赐银以助丧费,并遣使赴安南致祭。此为邦交史中特殊现象,显示连宿敌亦钦佩其才略与声望。
陵墓被毁
1802年,阮映灭西山建阮朝,行严厉报复。丹阳宫墓遭掘毁,遗骨惨遭凌辱,祠殿夷为平地,踪迹尽绝。故光中皇帝墓葬迄今成谜。或谓陵在顺化阳春上丘陵地,但未证实。
阮朝虽尽毁痕迹,然民间犹存记忆。百姓称其为“翁 vò”,寓意人物非凡,但命途多舛,死后仍受不公对待。
祭祀与崇敬
虽陵墓被毁,然百姓各地仍奉祀光中皇帝。主要祠庙有:
西山殿(平定):起义发源地,三兄弟旧居。
乂安光中庙:与迁都凤凰中都之愿望相关。
昇龙董多丘祠(河内):纪念1789年大破清军胜利,每年正月初五举行盛大庙会。
顺化及各地庙祠:多为百姓自建,虽阮朝禁令,仍香火不断。
今光中—阮惠被尊为越史最伟大民族英雄之一。虽壮志未酬而早逝,但西山虽短命,其功业已成民族不灭丰碑。
评价
光中皇帝为越南史上最杰出人物之一。虽仅在位四年(1788—1792),但其军事、政治、内政、外交与改革之功,影响深远。
首先,他在统一国家方面功不可没。学者普遍认为阮惠基本完成统一:平定郑阮,击退清军,终结两百年分裂,奠定统一基础。历史学者范造谓其已实现“基本统一”。即使敌人亦不能否认其才略与德行。
历史学家陈仲金在《越南史略》中称其功在“扶黎灭郑”,尤在“救国于危亡”,大破清军二十万于玉回—董多,复民族独立。其功业可比丁先皇、黎太祖。
其最大成功在于卓绝军事才能:自平民布衣之将,成百战百胜统帅,从未败于大役。著名战功如1785年𣳸锦—槐没大破暹军五万,1786年取富春进昇龙,1789年歼清军二十九万,名列世界军事奇才。阮朝正史亦承认暹军“虽口夸,实惧阮惠如虎”。
然而阮惠不仅是军事家,亦是政治改革家。其改革包括:合理税制,振兴农业;鼓励工商业与外贸;推行教育改革,科举用喃字;整饬行政机构;削减僧尼,禁绝迷信。史家潘辉黎评曰:若持续施行,或能开创新局,摆脱封建停滞。
外交上,他既刚毅又机敏。大破清军后,未怀宿怨,反而优待俘虏,祭祀敌军亡灵,主动和好,以求册封,确立西山正统。此见其非但善战,亦为卓越外交家,国家利益为先。
然1792年骤逝,功业未竟。多学者如陈仲金、K.W. Taylor皆谓:若再生十年,历史格局将改,西山可固,阮映难复国。
与同时代对手阮映相比,光中代表人民力量,自布衣起义,为民族独立与统一而战;而阮映则依赖外援复辟。虽阮映终统一天下,但阮惠之气魄与声望,始终被视为民族英雄,与丁先皇、黎太祖并肩。
胡志明主席称阮惠为“非常之人”;民间则慨叹“天不佑瓯骆”,使其早殇。然历史上,光中皇帝永为民族独立意志、军事才能与革新理想之光辉丰碑。
参考资料
- Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội Nhân dân.
- Nguyễn Phan Quang (2005), Theo dòng Lịch sử Dân tộc, quyển 1, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhiều tác giả (2007), Quang Trung Nguyễn Huệ, Nxb Văn hoá Sài Gòn.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2001), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục.
- Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch sử Nội Chiến Việt Nam 1771–1802, Nxb Văn Sử Học.
- Tạ Chí Đại Trường (2007), Việt Nam Thời Tây Sơn: Lịch sử Nội Chiến (1771–1802), Nxb Công an Nhân dân.
- Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Nxb Tân Việt.
- Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (1997), Đại cương lịch sử Việt Nam, quyển 1, Nxb Giáo dục.



