Trần Thừa (1184-1234)

Trần Thừa (1184-1234)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Trần Thừa là con trưởng của Trần Lý và Tô phu nhân, đồng thời là anh ruột của Trần Tự Khánh và Linh Từ quốc mẫu. Ông cũng là anh họ của Trần Thủ Độ và cháu gọi Tô Trung Từ bằng cậu.

Tổ tiên của Trần Thừa là Trần Kinh, người gốc đất Mân Việt. Sau này, dòng họ chuyển đến hương Tức Mặc thuộc phủ Thiên Trường (nay là khu vực Nam Định, Ninh Bình). Đến đời Trần Hấp, toàn bộ mộ phần và gia quyến được dời về gò Tinh Cương, thuộc phủ Long Hưng (nay là phường Long Hưng, tỉnh Hưng Yên). Gia đình họ Trần vốn làm nghề đánh cá và dần trở nên sung túc, tạo nền tảng cho sự thăng tiến sau này.

Trần Thừa trưởng thành trong bối cảnh triều Lý suy yếu. Dưới thời Lý Cao Tông, triều đình rối ren vì hoàng đế bỏ bê chính sự, khiến đất nước lâm vào khủng hoảng. Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, một số thế lực địa phương dần cát cứ. Khi Thái tử Sảm phải chạy loạn Quách Bốc, ông đã được gia đình Trần Lý che chở tại đây. Từ sự kiện này, cơ nghiệp của nhà Trần bắt đầu hình thành và từng bước phát triển.

Sự nghiệp chính trị

Đại thần triều Lý

Năm Kỷ Tỵ, Trị Bình Long Ứng thứ năm (1209), xảy ra loạn Quách Bốc khiến triều đình nhà Lý rối loạn. Vua Lý Cao Tông cùng An Toàn hoàng hậu và triều thần chạy lên Quy Hóa. Thái tử Lý Hạo Sảm lánh về Hải Ấp nơi gia đình Trần Lý ở. Tại đây, Thái tử kết hôn với Trần trọng nữ (dã sử chép là Trần Thị Dung), con gái Trần Lý và em gái Trần Thừa.

Lấy danh nghĩa ủng hộ của Thái tử cùng sự hậu thuẫn của em vợ là Tô Trung Từ, Trần Lý có điều kiện tập hợp lực lượng nhằm dẹp loạn Quách Bốc. Trần Thừa và Trần Tự Khánh phối hợp cùng cha và cậu tiến hành khởi binh. Năm 1210, Tô Trung Từ và Trần Lý đánh bại Quách Bốc, song Trần Lý tử trận. Không lâu sau Lý Cao Tông qua đời, Thái tử Sảm lên ngôi, tức Lý Huệ Tông, phong Trần Thị Dung làm Nguyên phi. Tô Trung Từ nắm quyền điều hành triều chính.

Đến năm Tân Mùi, Kiến Gia nguyên niên (1211), Tô Trung Từ tư thông với Thiên Cực công chúa và bị sát hại. Sau biến cố này, triều đình thêm rối ren. Năm 1213, Lý Huệ Tông không chịu sự thao túng của Trần Tự Khánh nên cùng Thái sư Đàm Dĩ Mông tự chỉ huy quân đội, liên kết với lực lượng họ Đoàn ở Hồng Châu tấn công họ Trần. Quân triều đình chia làm hai hướng: Đàm Dĩ Mông bị Trần Thừa chặn đánh ở bến An Diên, còn Lý Huệ Tông bị Trần Tự Khánh đánh bại tại Mễ Sở, buộc phải rút lên Lạng Châu. Những năm sau đó, nhờ tài thao lược của Trần Tự Khánh và Trần Thừa, lực lượng họ Trần dần chiếm ưu thế trong cuộc chiến với các thế lực địa phương, kiểm soát triều đình nhà Lý. Năm Bính Tý (1216), Lý Huệ Tông phong Trần Thừa chức Nội thị phán thủ để ghi nhận công lao phò tá.

Đến năm Quý Mùi, Kiến Gia thứ mười ba (1223), sau khi Trần Tự Khánh qua đời, Trần Thừa được phong Thái úy Phụ chính, cùng em họ là Trần Thủ Độ nắm giữ quyền lực tối cao trong triều đình nhà Lý.

Thái thượng hoàng triều Trần

Năm Ất Dậu (1225) niên hiệu Thiên Chương Hữu Đạo thứ hai vào mùa đông, Trần Cảnh được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi trở thành Thiên tử, mở đầu triều đại nhà Trần. Sau khi con trai lên ngôi ông được tôn là Thái thượng hoàng, Thái Tông Trần Cảnh còn nhỏ nên ông là người trực tiếp điều hành đất nước cùng với Trần Thủ Độ.

Năm Giáp Ngọ (1234), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ ba, ngày 18 tháng Giêng (tức ngày 17 tháng 2 dương lịch), Thái thượng hoàng Trần Thừa qua đời, thọ 51 tuổi. Thi hài ông được an táng tại Thọ Lăng, thuộc phủ Long Hưng (nay là xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên). Ông được truy tôn miếu hiệu là Huy Tông, thụy hiệu Khai Vận Lập Cực Hoằng Nhân Ứng Đạo Thuần Chân Chí Đức Thần Vũ Thánh Văn Thùy Dụ Chí Hiếu Hoàng Đế.

Đến tháng Giêng năm Mậu Thân (1248), vua Trần Thái Tông đổi miếu hiệu của ông từ Huy Tông thành Thái Tổ, đồng thời đổi tên Thọ Lăng thành Huy Lăng.

Gia đình

Các con trai ông gồm:

Khâm Minh đại vương Trần Liễu, cha của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Trần Cảnh, tức Thái Tông Nguyên Hiếu hoàng đế

Khâm Thiên đại vương Trần Nhật Hiệu.

Hoài Đức vương Trần Bà Liệt,con ngoài giá thú.

Các con gái gồm:

Thụy Bà công chúa (瑞婆公主), chị ruột Trần Thái Tông, cô Trần Quốc Tuấn, nuôi Trần Quốc Tuấn làm con.

Thiên Thành công chúa (天城公主). Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tuy nhiên điều này có nghi vấn, có những phân tích khác cho rằng Thiên Thành công chúa là con Trần Thái Tông.

Ngoạn Thiềm Công chúa, được Trần Thủ Độ gả cho Nguyễn Nộn với mục đích giảng hoà và thăm dò nội tình của vùng Nộn chiếm cứ.

Thờ tự

Hiện nay Trần Thừa được thờ ở tương đối nhiều nơi, có thể kể đến một số nơi như:

Đền Trần – Nam Định, tỉnh Ninh Bình(Trước là phường Lộc Vương,tỉnh Nam Định cũ). Đền là nơi thờ các vua Trần cùng các quan lại có công phù tá nhà Trần. Đền Trần được xây dựng từ năm 1695, trên nền Thái miếu cũ của nhà Trần đã bị quân Minh phá hủy vào thế kỷ XV.

Đền Vạn Khoảnh nằm ở ven sông Châu Giang có cảnh đẹp tự nhiên nơi thờ tự Thái Tổ Thái Thượng Hoàng Trần Thừa ở làng Vạn Khoảnh, thuộc xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Duy Hinh (2005), Văn minh Đại Việt, Nxb Văn hóa thông tin.
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  5. Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương, Nxb Thanh niên.
  6. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
  7. Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Tran Thua (1184–1234)

Background

Tran Thua was the eldest son of Tran Ly and Lady To, and the elder brother of Tran Tu Khanh and Linh Tu Quoc mau. He was also the cousin of Tran Thu Do and a nephew of To Trung Tu.

His ancestor was Tran Kinh, originally from the region of Min Yue. Later, the family migrated to Tuc Mac village in Thien Truong prefecture (present-day Nam Dinh and Ninh Binh). By the time of Tran Hap, all ancestral tombs and family members were relocated to Tinh Cuong mound in Long Hung prefecture (now Long Hung ward, Hung Yen province). The Tran family traditionally engaged in fishing and gradually became prosperous, forming the economic foundation for their later rise to power.

Tran Thua grew up during the decline of the Ly dynasty. Under Ly Cao Tong, the court fell into disorder as the emperor neglected governance, plunging the country into crisis. Numerous peasant uprisings erupted, and several regional powers emerged. When Crown Prince Sam fled the rebellion of Quach Boc, he found refuge with the family of Tran Ly. This event marked the beginning of the Tran clan’s ascent toward political dominance.

Political Career

High Official of the Ly Dynasty

In the year Ky Ty, the fifth year of Tri Binh Long Ung (1209), the rebellion of Quach Boc caused severe turmoil in the Ly court. King Ly Cao Tong, together with Queen An Toan and his ministers, fled to Quy Hoa. Crown Prince Ly Hao Sam escaped to Hai Ap, the residence of the Tran family. There, the Crown Prince married Tran Trong Nu (identified in unofficial records as Tran Thi Dung), daughter of Tran Ly and younger sister of Tran Thua.

With the Crown Prince’s endorsement and the support of his brother-in-law To Trung Tu, Tran Ly was able to assemble forces to suppress Quach Boc’s rebellion. Tran Thua and Tran Tu Khanh cooperated with their father and uncle to launch the uprising. In 1210, To Trung Tu and Tran Ly defeated Quach Boc, although Tran Ly was killed in action. Soon after, Ly Cao Tong died, and Crown Prince Sam ascended the throne as Ly Hue Tong and granted Tran Thi Dung the title of Imperial Consort (Nguyen phi). To Trung Tu then became the de facto ruler of the court.

In the year Tan Mui, the first year of Kien Gia (1211), To Trung Tu engaged in an affair with Princess Thien Cuc and was assassinated. After this incident, the court became even more unstable. In 1213, Ly Hue Tong, unwilling to accept Tran Tu Khanh’s control, personally led troops together with Grand Preceptor Dam Di Mong and allied with the Doan clan of Hong Chau to attack the Tran forces. The royal army attacked from two directions: Dam Di Mong was intercepted and defeated by Tran Thua at the An Dien ford, while Ly Hue Tong was defeated by Tran Tu Khanh at Me So and forced to withdraw to Lang Chau.

In the following years, thanks to the military skill of Tran Tu Khanh and Tran Thua, the Tran faction gradually gained the upper hand over rival local forces and effectively controlled the Ly court. In the year Binh Ty (1216), Ly Hue Tong appointed Tran Thua as Chief Palace Supervisor (Noi thi phan thu) in recognition of his service.

By the year Quy Mui, the thirteenth year of Kien Gia (1223), after the death of Tran Tu Khanh, Tran Thua was promoted to Grand Commandant and Regent (Thai uy Phu chinh), sharing supreme authority with his cousin Tran Thu Do.

Retired Emperor of the Tran Dynasty

In the year At Dau (1225), during the second year of Thien Chuong Huu Dao, in winter, Tran Canh was granted the throne by Ly Chieu Hoang and became emperor, marking the beginning of the Tran dynasty. After his son’s accession, Tran Thua was honored as Retired Emperor (Thai thuong hoang). Since Emperor Tran Thai Tong (Tran Canh) was still young, Tran Thua directly governed the country alongside Tran Thu Do.

In the year Giap Ngo (1234), during the third year of Thien Ung Chinh Binh, on the 18th day of the first lunar month (February 17 on the solar calendar), Retired Emperor Tran Thua passed away at the age of 51. His remains were buried in Tho Lang, Long Hung prefecture (now Long Hung commune, Hung Yen province). He was posthumously granted the temple name Huy Tong and the posthumous title:

Khai Van Lap Cuc Hoang Nhan Ung Dao Thuan Chan Chi Duc Than Vu Thanh Van Thuy Du Chi Hieu Emperor.

In the first lunar month of the year Mau Than (1248), Emperor Tran Thai Tong changed his temple name from Huy Tong to Thai To and renamed his tomb from Tho Lang to Huy Lang.

Family

Sons

  • Kham Minh Dai vuong Tran Lieu, father of Hung Dao Dai vuong Tran Quoc Tuan.

  • Tran Canh, Emperor Thai Tong Nguyen Hieu.

  • Kham Thien Dai vuong Tran Nhat Hieu.

  • Hoai Duc vuong Tran Ba Liet, born out of wedlock.

Daughters

  • Thuy Ba Princess, elder sister of Tran Thai Tong, aunt of Tran Quoc Tuan, and adoptive mother of Tran Quoc Tuan.

  • Thien Thanh Princess. According to Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, though some analyses question this and argue she was the daughter of Tran Thai Tong.

  • Ngoan Thiem Princess, who was married by Tran Thu Do to Nguyen Non for the purpose of reconciliation and intelligence gathering in the region he controlled.

  • Worship

Tran Thua is currently worshipped in several locations, including:

  • Tran Temple – Nam Dinh, Ninh Binh province (formerly Loc Vuong ward, old Nam Dinh). The temple venerates the Tran emperors and officials who contributed to the rise of the dynasty. It was built in 1695 on the former site of the Tran ancestral temple, which had been destroyed by the Ming in the 15th century.

  • Van Khoanh Temple, located by the Chau Giang River, a scenic place of worship dedicated to Thai To Thai Thuong Hoang Tran Thua in Van Khoanh village, My Phuc commune, My Loc district.

References

  1. Nguyễn Duy Hinh (2005), Văn minh Đại Việt, Nxb Văn hóa thông tin.
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  5. Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương, Nxb Thanh niên.
  6. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
  7. Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Pháp

Tran Thua (1184–1234)

Origines familiales

Tran Thua était le fils aîné de Tran Ly et de dame To, ainsi que le frère de Tran Tu Khanh et de Linh Tu Quoc Mau. Il était également le cousin de Tran Thu Do et le neveu maternel de To Trung Tu.

L’ancêtre de Tran Thua était Tran Kinh, originaire de la région de Man Viet. Par la suite, leur lignée s’installa au hameau Tuc Mac, relevant de la préfecture Thien Truong (correspondant aujourd’hui aux régions de Nam Dinh et Ninh Binh). Sous Tran Hap, tous les tombeaux familiaux et leurs proches furent déplacés vers la colline Tinh Cuong, appartenant à la préfecture Long Hung (actuellement le quartier Long Hung, province de Hung Yen). La famille Tran exerçait traditionnellement la pêche et prospéra progressivement, créant les fondations pour l’ascension ultérieure de la dynastie.

Tran Thua grandit à une époque où la dynastie Ly déclinait. Sous le règne de Ly Cao Tong, la cour fut plongée dans le désordre, l’empereur négligeant les affaires d’État, ce qui entraîna une crise généralisée. Plusieurs soulèvements paysans éclatèrent, tandis que diverses puissances locales se renforçaient. Lorsque le prince héritier Sam dut fuir la rébellion de Quach Boc, il fut accueilli par la famille de Tran Ly. C’est à partir de cet événement que le pouvoir de la famille Tran se constitua puis se développa progressivement.

Carrière politique

Grand dignitaire de la cour des Ly

En l’an Ky Ty, cinquième année de Tri Binh Long Ung (1209), la rébellion de Quach Boc plongea davantage la dynastie Ly dans le chaos. L’empereur Ly Cao Tong, l’impératrice An Toan et la cour se réfugièrent à Quy Hoa. Le prince héritier Ly Hao Sam se rendit à Hai Ap, lieu de résidence de la famille Tran Ly. Là, il épousa Tran trong nu (selon la tradition : Tran Thi Dung), fille de Tran Ly et sœur de Tran Thua.

Profitant du soutien officiel du prince héritier et s’appuyant sur l’influence de son beau-frère To Trung Tu, Tran Ly put rassembler des forces militaires dans l’objectif de réprimer la rébellion de Quach Boc. Tran Thua et Tran Tu Khanh coordonnèrent leurs troupes avec celles de leur père et de leur oncle. En 1210, To Trung Tu et Tran Ly vainquirent Quach Boc, mais Tran Ly fut tué au combat. Peu après, Ly Cao Tong mourut et le prince Sam monta sur le trône sous le nom de Ly Hue Tong, nommant Tran Thi Dung au rang de concubine impériale. To Trung Tu prit alors le contrôle des affaires de l’État.

En l’année Tan Mui, première année de Kien Gia (1211), To Trung Tu fut assassiné à la suite d’une liaison avec la princesse Thien Cuc. La cour sombra de nouveau dans le désordre. En 1213, refusant d’être contrôlé par Tran Tu Khanh, Ly Hue Tong prit personnellement la tête de l’armée, s’alliant à la famille Doan de Hong Chau pour attaquer les Tran. L’armée impériale mena une offensive en deux directions : Dam Di Mong fut battu par Tran Thua à la passe d’An Dien, tandis que Ly Hue Tong fut vaincu à Me So par Tran Tu Khanh et dut se replier vers Lang Chau. Dans les années suivantes, grâce aux talents militaires de Tran Tu Khanh et de Tran Thua, la famille Tran prit le dessus face aux puissances locales et exerça progressivement son contrôle sur la cour Ly. En l’an Binh Ty (1216), Ly Hue Tong décerna à Tran Thua le titre de Noi thi phan thu en reconnaissance de ses services.

En l’année Quy Mui, treizième année de Kien Gia (1223), après la mort de Tran Tu Khanh, Tran Thua fut nommé Thai uy Phu chinh, partageant ainsi le pouvoir suprême avec son cousin Tran Thu Do.

Empereur retraité de la dynastie Tran

En l’an At Dau (1225), deuxième année de Thien Chuong Huu Dao, durant l’hiver, Tran Canh fut cédé le trône par Ly Chieu Hoang, devenant ainsi l’empereur fondateur de la dynastie Tran. Après l’accession au trône de son fils, Tran Thua reçut le titre de « Thai thuong hoang ». Le jeune Tran Canh (Tran Thai Tong) étant encore mineur, Tran Thua assuma directement la gouvernance du pays aux côtés de Tran Thu Do.

En l’an Giap Ngo (1234), troisième année de Thien Ung Chinh Binh, le 18e jour du premier mois (soit le 17 février du calendrier grégorien), Tran Thua mourut à l’âge de 51 ans. Il fut inhumé au Tho Lang, relevant de Long Hung (aujourd’hui commune Long Hung, province de Hung Yen). Il reçut le temple posthume « Huy Tong » et le titre honorifique complet Khai Van Lap Cuc Hoang Nhan Ung Dao Thuan Chan Chi Duc Than Vu Thanh Van Thuy Du Chi Hieu Hoang De.

En janvier de l’année Mau Than (1248), l’empereur Tran Thai Tong changea son temple posthume de « Huy Tong » en « Thai To », et rebaptisa Tho Lang en Huy Lang.

Famille

Ses fils comprenaient :

  • Kham Minh dai vuong Tran Lieu, père du célèbre général Tran Quoc Tuan (Hưng Đạo Vương).

  • Tran Canh, c’est-à-dire l’empereur Thai Tong Nguyen Hieu.

  • Kham Thien dai vuong Tran Nhat Hieu.

  • Hoai Duc vuong Tran Ba Liet, fils naturel.

Ses filles comprenaient :

  • Thuy Ba cong chua, sœur aînée de Tran Thai Tong, tante de Tran Quoc Tuan et mère adoptive de ce dernier.

  • Thien Thanh cong chua. Selon le Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, elle était sa fille, mais d’autres analyses soutiennent qu’elle serait plutôt la fille de Tran Thai Tong.

  • Ngoan Thiem cong chua, mariée à Nguyen Non par Tran Thu Do pour des raisons politiques et diplomatiques.

Culte

Aujourd’hui, Tran Thua est vénéré dans de nombreux lieux, notamment :

  • Den Tran (Nam Dinh / Ninh Binh), ancien lieu dédié aux rois Tran et aux dignitaires ayant servi la dynastie. Le temple fut édifié en 1695 sur l’emplacement de l’ancien sanctuaire ancestral détruit par les Ming au XVe siècle.

  • Den Van Khoanh, situé au bord de la rivière Chau Giang, dans le village Van Khoanh (commune My Phuc, district My Loc), lieu de culte dédié à Thai To Thai Thuong Hoang Tran Thua.

Références 

  1. Nguyễn Duy Hinh (2005), Văn minh Đại Việt, Nxb Văn hóa thông tin.
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  5. Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương, Nxb Thanh niên.
  6. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
  7. Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội.

Tiếng Trung

陳承(Tran Thua) (1184–1234)

身世

陳承(Tran Thua)為陳黎(Tran Ly)與蘇夫人(To phu nhan)之長子,同時是陳嗣慶(Tran Tu Khanh)與靈慈國母(Linh Tu quoc mau)之胞兄。他亦是陳守度(Tran Thu Do)之堂兄,並稱蘇忠慈(To Trung Tu)為舅。

陳承之先祖為陳京(Tran Kinh),原籍閩越。後其家族遷居至天長府(phu Thien Truong)息莫鄉(huong Tuc Mac,今南定、寧平一帶)。至陳吸(Tran Hap)時,家族墓域與親族均遷往龍興府(phu Long Hung)精岡丘(go Tinh Cuong,今興安省龍興坊)。陳氏世為漁戶,逐漸富裕,為後來的興盛奠定基礎。

陳承成長於李朝衰退時期。高宗(Ly Cao Tong)荒廢政事,使國家陷入危機,各地農民起義與割據勢力此起彼伏。太子晛(Ly Hao Sam)在郭卜(Quach Boc)之亂中避難至海邑(Hai Ap),為陳黎之家所庇護,由此奠定陳氏崛起之端緒。

政治生涯

李朝大臣

己巳治平龍應五年(1209),郭卜作亂,李朝大亂。高宗攜安全皇后及朝臣北上歸化(Quy Hoa)。太子晛避至海邑,並於此與陳重女(Tran trong nu,俗稱陳氏瑜 Tran Thi Dung)成婚,即陳承之妹。

在太子與蘇忠慈的支持下,陳黎得以集結兵力討伐郭卜。陳承與陳嗣慶協同父舅興兵。1210年,蘇忠慈與陳黎擊敗郭卜,但陳黎戰死。不久,高宗崩,太子晛即位為惠宗(Ly Hue Tong),封陳氏瑜為元妃,由蘇忠慈專理朝政。

建嘉元年辛未(1211),蘇忠慈因與天極公主通奸遭殺。朝廷再陷混亂。1213年,惠宗不願受陳嗣慶挾制,乃與太師覃以蒙(Dam Di Mong)自行率軍會合紅州段氏攻陳家。朝軍兩路進兵:覃以蒙於安延津(An Dien)被陳承擊敗,惠宗於米舍(Me So)被陳嗣慶擊潰,只得逃往諒州。其後數年,憑藉陳嗣慶、陳承之謀略,陳氏勢力逐步壓倒群雄,控制李朝朝局。丙子年(1216),惠宗授陳承「內侍判首」以褒其功。

建嘉十三年癸未(1223),陳嗣慶卒,陳承受封太尉輔政,與堂弟陳守度共掌朝權。

陳朝太上皇

乙酉(1225)冬,天彰有道二年,李昭皇禪位於陳煚(Tran Canh),開創陳朝。陳煚即位後,尊其父陳承為太上皇。太宗年幼,由陳承與陳守度共同處理國政。

甲午(1234)天應政平三年正月十八日(2月17日),太上皇陳承崩,享年五十一。葬於壽陵(Tho Lang),在龍興府(今興安省龍興社)。諡號為:

開運立極弘仁應道純真至德神武聖文垂裕至孝皇帝,廟號「徽宗」。

至戊申(1248)正月,太宗改其廟號為太祖,並改壽陵為徽陵。

家庭

子嗣

  • 欽明大王陳柳(Tran Lieu),即興道大王陳國峻(Tran Quoc Tuan)之父。

  • 陳煚(Tran Canh),即太宗元孝皇帝。

  • 欽天大王陳日曉(Tran Nhat Hieu)。

  • 懷德王陳婆烈(Tran Ba Liet),庶子。

女嗣

  • 瑞婆公主(Thuy Ba cong chua),太宗之姊,國峻之姑,曾撫育陳國峻。

  • 天城公主(Thien Thanh cong chua)。據《欽定越史通鑑綱目》記載,但亦有說法認為天城公主乃太宗之女。

  • 卧蟾公主(Ngoan Them cong chua),為講和與偵察佔據地區之目的,被陳守度嫁予阮嫩(Nguyen Non)。

祭祀

今日陳承於多地受祀,其中包括:

  • 陳廟(Den Tran,南定—寧平)。建於1695年,位於被明軍毀於15世紀的舊太廟遺址上,奉祀陳朝諸帝及功臣。

  • 萬頃殿(Den Van Khoanh),位於洲江河畔(Chau Giang),景色秀麗,為萬頃村(Van Khoanh,今美祿縣美福社)奉祀太祖太上皇陳承之地。

参考

  1. Nguyễn Duy Hinh (2005), Văn minh Đại Việt, Nxb Văn hóa thông tin.
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  5. Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương, Nxb Thanh niên.
  6. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
  7. Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội.
Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (15)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)