Hồ Nguyên Trừng (1374–1446)

Hồ Nguyên Trừng (1374–1446)

Thông tin cơ bản

Xuất thân  

Hồ Nguyên Trừng, ban đầu mang họ Lê, quê huyện Vĩnh Phúc, lộ Thanh Hoa (nay thuộc Thanh Hóa). Ông là con trai trưởng của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương và Hồ Thánh Ngâu. Mẹ ông nhiều khả năng là một người thiếp; trong Nam Ông mộng lục, Nguyên Trừng nhắc đến ngoại tổ Nguyễn Thánh Huấn, một người giỏi thơ đời Trần, song mối quan hệ huyết thống này vẫn còn điểm chưa thật rõ ràng.

Nhờ quan hệ ngoại thích với vua Trần Nghệ Tông, Hồ Quý Ly được trọng dụng và thăng tiến nhanh, đến năm 1387 giữ chức Đồng bình chương sự, nắm quyền gần như tuyệt đối trong triều. Những lực lượng trung thành với nhà Trần nhiều lần chống đối nhưng đều thất bại; năm 1388, Trần Phế Đế bị giết, Trần Thuận Tông lên ngôi song quyền lực vẫn nằm trong tay Quý Ly.

Sự nghiệp chính trị

Trong bối cảnh ấy, Hồ Nguyên Trừng được giao nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1394, ông làm Phán tự sự Thượng lâm tự. Sau khi Thượng hoàng Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly càng siết chặt quyền hành; đến năm 1399 giết Trần Thuận Tông, lập Trần Thiếu Đế còn nhỏ tuổi. Cùng năm, Quý Ly phong Nguyên Trừng làm Tư đồ, Hán Thương làm Nhiếp thái phó.

Năm 1400, Hồ Quý Ly ép Trần Thiếu Đế nhường ngôi, đổi họ Lê sang họ Hồ, xưng đế, lập nhà Hồ, đặt quốc hiệu Đại Ngu. Hồ Nguyên Trừng được phong Tả Tướng quốc, tước Vệ vương. Năm 1401, Quý Ly nhường ngôi cho Hồ Hán Thương, còn Nguyên Trừng tiếp tục giữ chức Tả Tướng quốc, cùng Hồ Quý Tỳ điều hành triều chính.

Chiến tranh Đại Ngu và nhà Minh

Lần thứ nhất

Tháng 4 âm lịch năm 1406, Minh Thành Tổ viện cớ phục ngôi cho Trần Thiêm Bình (tên thật Nguyễn Khang, giả mạo làm con thứ ba của Trần Nghệ Tông), sai Chinh Nam tướng quân Hữu quân đô đốc đồng tri Hàn Quan và Tham tướng đô đốc đồng tri Hoàng Trung mang 10 vạn quân từ Quảng Tây đánh Đại Ngu. Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đem đại quân đón đánh ở ải Lãnh Kinh. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, quân Đại Ngu thấy địch ít quân nên khinh suất, để bị thảm bại. Bốn đại tướng Đại Ngu là Phạm Nguyên Khôi (nhị vệ đại tướng), Chu Bỉnh Trung (chỉ huy quân Chấn Cương), Trần Huyên Huyên (chỉ huy quân Tam Phụ) và Trần Thái Bộc (chỉ huy quân Tả Thần Dực) đều chết trận. Hồ Nguyên Trừng bỏ thuyền lên bờ, suýt bị quân Minh bắt, có người thấy vậy liền dìu ông xuống thuyền, nhờ vậy ông thoát. Sau tướng Hồ Vấn bất ngờ đem quân Tả Thánh Dực từ Vũ Cao tới, đánh quân Minh thua to. Hoàng Trung đợi đến trống canh hai nửa đêm thì bỏ chạy. Vua Hồ Hán Thương đã sai tướng Hồ Xạ chỉ huy quân Hữu Thánh Dực, tướng Trần Đĩnh chỉ huy quân Thánh Dực Bắc Giang khóa chân địch tại cửa ải Chi Lăng. Quân Minh đành giao nộp Trần Thiêm Bình cho Đại Ngu để được rút về nước. Sau vua Hồ xử lăng trì Trần Thiêm Bình.

Lần thứ hai

Tháng 9 âm lịch năm 1406, Minh Thành Tổ huy động hai đạo quân lớn do Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ huy, tổng cộng khoảng 80 vạn quân, tiến đánh Đại Ngu qua các ải phía bắc. Đến tháng 11, quân Minh hội quân tại Bạch Hạc, lập doanh trại dọc sông Cái – Trú Giang. Phía Đại Ngu, Hồ Nguyên Trừng chỉ huy phòng tuyến lớn, lấy Đa Bang làm trọng điểm, kéo dài hơn 400 km dọc các hệ thống sông lớn. Ông cho chăng xích sắt trên sông, lập mai phục và chế tạo nhiều hỏa khí, trong đó có súng “thần cơ”.

Quân Minh tung bảng văn tuyên truyền “phục Trần”, khiến tinh thần quân Đại Ngu sa sút; nhiều tướng đầu hàng. Tháng 12 năm 1406, Trương Phụ và Mộc Thạnh tập trung đánh Đa Bang, dùng đại bác phá voi chiến, chiếm được thành. Phòng tuyến sông bị vỡ, Đông Đô thất thủ, Hồ Nguyên Trừng rút về Hoàng Giang.

Đầu năm 1407, quân Minh tiếp tục tiến công. Hồ Nguyên Trừng nhiều lần phản kích bằng thủy quân nhưng đều thất bại, phải lui dần về cửa Muộn rồi cửa Đại An. Tháng 3 năm 1407, ông tổ chức một cuộc phản công lớn ở Hàm Tử, song rơi vào mai phục, quân Đại Ngu đại bại, lương thuyền bị phá hủy.

Sau đó, hai vua Hồ cùng Hồ Nguyên Trừng rút vào Thanh Hóa rồi Nghệ An. Tháng 5 năm 1407, cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương và Hồ Nguyên Trừng lần lượt bị bắt, giải về Kim Lăng. Nhà Hồ sụp đổ, nước Đại Ngu bị nhà Minh sáp nhập làm quận Giao Chỉ; riêng Hồ Nguyên Trừng được tha chết.

Làm quan nhà Minh

Năm 1409, tôn thất nhà Trần là Trần Quý Khoáng xưng đế ở Chi La, lấy niên hiệu Trùng Quang, nhiều lần khởi binh chống Minh. Năm 1411, ông sai Hồ Ngạn Thần và Bùi Nột Ngôn sang Minh cầu phong. Tại Yên Kinh, Hồ Nguyên Trừng (đang làm việc cho nhà Minh) được lệnh dò xét tình hình Đại Việt; Ngạn Thần tiết lộ nhiều việc, còn Nột Ngôn giữ kín. Sau khi về nước, Nột Ngôn tố cáo Ngạn Thần nhận chức tước của Minh, vua Trùng Quang xử tử Ngạn Thần.

Sau khi được tha, Hồ Nguyên Trừng đổi tên là Lê Trừng, làm quan cho Bộ Công nhà Minh. Dưới thời Minh Tuyên Tông, ông từng bị xét hỏi vì không khai lý lịch, nhưng được miễn truy cứu vì đã được Minh Thành Tổ xá tội. Từ năm 1426–1428, ông lần lượt được thăng từ Chủ sự, Lang trung đến Hữu rồi Tả Thị lang Bộ Công, hưởng bổng lộc bằng gạo.

Dưới thời Minh Thành Tổ, kỹ thuật súng đạn Trung Quốc được cải tiến đáng kể nhờ tiếp thu kỹ thuật từ Đại Việt, như “thần tiễn”, cải tiến lẫy cò chống ẩm, và đặc biệt là súng thần cơ. Vì công lao này, Hồ Nguyên Trừng được làm quan Bộ Công, thăng dần đến Tả Thị lang, và được nhắc đến trong nghi lễ tế binh khí của nhà Minh.

Các sách như Cô Thụ bao đàm, Hoàng Minh đại sự kýMinh thực lục đều ghi nhận vai trò của ông, tuy có sai khác về họ tên và chức tước. Một số sách chép ông được ban họ Trần, làm Hộ bộ Thượng thư, nhưng Minh thực lục xác nhận ông dùng tên Lê Trừng 黎澄, làm quan Bộ Công, không có việc bị giáng chức lớn như một số dã sử ghi.

Dưới thời Minh Anh Tông, Lê Trừng tiếp tục được thăng chức:

  • 1436: Tả Thị lang Bộ Công
  • 1445: Thượng thư Bộ Công

Dù đã cao tuổi, ông xin được lưu dụng và được triều đình chấp thuận. Năm 1446, Lê Trừng qua đời tại Trung Quốc, thọ khoảng 73 tuổi. Triều Minh sai quan làm lễ tế và lo việc mai táng, ghi nhận ông như một đại thần có công lớn về kỹ thuật quân sự.

Hậu duệ

Sau khi Lê Trừng mất, triều Minh cho con ông là Lê Thúc Lâm, trước đó đang làm Chuyển vận sứ ở Diêm vận ty tỉnh Sơn Đông, làm Trung thư xá nhân, tiếp tục lo việc chế tạo quân khí cho đến khi về hưu năm 1470. Cho mãi đến năm 1489, con cháu của những người này vẫn còn làm quan phục vụ trong triều Minh. Hiện mộ phần Lê Trừng (tức Hồ Nguyên Trừng), Lê Thúc Lâm và Lê Thế Vinh  con của Thúc Lâm, cũng làm quan cho triều Minh) đều ở tại thôn Nam An Hà, quận Hải Điến, ngoại thành thành phố Bắc Kinh.

Theo Minh thực lục, năm 1452 (Anh Tông), Lê Thúc Lâm được thăng chức từ Lang trung Bộ Công lên làm Hữu Thị lang của bộ này, đồng thời tiếp tục phụ trách việc quản lý xưởng quân khí. Năm 1461, vào năm Đinh Mão trước đây, Thượng thư Bộ Công tại Nam Kinh là Vương Vĩnh Thọ và Thị lang Bộ Công là Lê Thúc Lâm đều đã hoàn thành kỳ khảo hạch 9 năm. Hoàng thượng ra lệnh phục chức cho cả hai. Năm 1469 (Hiến Tông), Lê Thúc Lâm, Hữu Thị lang Bộ Công, có con là Lê Thế Vinh được bổ nhiệm làm Trung thư Xá nhân. Thúc Lâm là người Giao Chỉ , con của Lê Trừng. Lê Trừng là con của Lê Quý Ly và là em của Lê Thương. Cả bọn từng bị bắt làm tù binh.  

Di sản

Khi sống cuộc đời lưu vong ở Trung Quốc, Hồ Nguyên Trừng đã soạn ra cuốn Nam Ông mộng lục (Chép lại những giấc mộng của Nam Ông) gồm 31 thiên, nhưng hiện chỉ còn 28 thiên. Đây là tập hồi ký chữ Hán đầu tiên và là tác phẩm đầu tiên mở đường cho khuynh hướng viết về “người thực, việc thực” trong văn xuôi tự sự Việt Nam.

Tên Hồ Nguyên Trừng đã được đặt cho một con đường ở thị trấn Phong Điền (tỉnh Thừa Thiên – Huế) và ở hai quận Hải Châu, Cẩm Lệ (thành phố Đà Nẵng).

Tài liệu tham khảo

  1. Ngô Sĩ Liên. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (phiên dịch) (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển Nội các quan bản. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội
  2. Vũ Khiêu (2004). Danh nhân Hà Nội. Quyển 1. Hà Nội: NXB Hà Nội.
  3. Quốc Chấn (2006). Thần đồng xưa của nước ta. Thanh Hóa: NXB Thanh Hóa
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn; Viện Sử Học (dịch) (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: NXB Giáo dục

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Ho Nguyen Trung (1374–1446)

Origin

Ho Nguyen Trung, originally bearing the surname Le, was from Vinh Phuc district, Thanh Hoa lo (now part of Thanh Hoa Province). He was the eldest son of Ho Quy Ly and the elder brother of Le Han Thuong and Le Thanh Ngau. His mother was most likely a concubine. In Nam Ong mong luc, Nguyen Trung mentions his maternal grandfather Nguyen Thanh Huan, a poet of the Tran dynasty; however, this blood relationship remains not entirely clear.

Thanks to his marital ties with King Tran Nghe Tong, Ho Quy Ly was highly favored and rose rapidly in power. By 1387 he held the position of Dong binh chuong su, exercising almost absolute control over the court. Forces loyal to the Tran dynasty resisted several times but were defeated; in 1388, Tran Phe De was killed, Tran Thuan Tong ascended the throne, yet real power remained in the hands of Quy Ly.

Political Career

In that context, Ho Nguyen Trung was entrusted with many important posts. In 1394, he served as Phan tu su of the Thuong Lam Temple. After the death of Retired Emperor Nghe Tong, Ho Quy Ly further tightened his grip on power; in 1399 he killed Tran Thuan Tong and installed the young Tran Thieu De. That same year, Quy Ly appointed Nguyen Trung as Tu do and Han Thuong as Nhiep thai pho.

In 1400, Ho Quy Ly forced Tran Thieu De to abdicate, changed the royal surname from Le to Ho, proclaimed himself emperor, founded the Ho dynasty, and named the country Dai Ngu. Ho Nguyen Trung was appointed Left Chancellor (Ta Tuong quoc) and granted the title Prince of Ve. In 1401, Quy Ly abdicated in favor of Ho Han Thuong, while Nguyen Trung continued to serve as Left Chancellor, jointly administering state affairs with Ho Quy Ty.

War Between Dai Ngu and the Ming Dynasty

First Campaign

In the fourth lunar month of 1406, Ming Chengzu used the pretext of restoring the Tran dynasty by installing Tran Thiem Binh (real name Nguyen Khang, an impostor claiming to be the third son of Tran Nghe Tong), and dispatched Zhengnan General Huu Quan Do Doc Dong Tri Han Quan and Assistant Commander Hoang Trung with 100,000 troops from Guangxi to attack Dai Ngu. Left Chancellor Ho Nguyen Trung led the main army to confront them at Lanh Kinh Pass. According to Dai Viet su ky toan thu, the Dai Ngu army underestimated the enemy due to their small numbers and suffered a disastrous defeat. Four senior Dai Ngu generals—Pham Nguyen Khoi (Second Guard Grand General), Chu Binh Trung (Commander of the Chan Cuong Army), Tran Huyen Huyen (Commander of the Tam Phu Army), and Tran Thai Boc (Commander of the Left Than Duc Army)—were all killed in battle. Ho Nguyen Trung abandoned his boat and went ashore, nearly being captured by Ming troops; someone assisted him back onto a boat, enabling his escape. Later, General Ho Van unexpectedly brought the Left Thanh Duc Army from Vu Cao and inflicted a heavy defeat on the Ming forces. Hoang Trung waited until the second watch of the night and then fled. King Ho Han Thuong had already ordered General Ho Xa to command the Right Thanh Duc Army and General Tran Dinh to command the Bac Giang Thanh Duc Army to block the enemy at Chi Lang Pass. The Ming army was forced to hand over Tran Thiem Binh to Dai Ngu in exchange for withdrawal. Subsequently, King Ho ordered Tran Thiem Binh to be executed by slow slicing.

Second Campaign

In the ninth lunar month of 1406, Ming Chengzu mobilized two massive armies led by Zhang Fu and Mu Sheng, totaling about 800,000 troops, advancing into Dai Ngu through the northern passes. By the eleventh month, Ming forces converged at Bach Hac, establishing camps along the Cai River–Tru River system. On the Dai Ngu side, Ho Nguyen Trung commanded a vast defensive line centered on Da Bang, stretching over 400 kilometers along major river systems. He ordered iron chains to be strung across rivers, set ambushes, and manufactured numerous firearms, including the “than co” (divine-engine) guns.

The Ming army disseminated proclamations advocating “restoration of the Tran,” which severely undermined Dai Ngu morale; many generals surrendered. In the twelfth month of 1406, Zhang Fu and Mu Sheng concentrated their attack on Da Bang, using artillery to counter war elephants and capturing the fortress. The river defense line collapsed, Dong Do fell, and Ho Nguyen Trung retreated to Hoang Giang.

In early 1407, Ming forces continued their advance. Ho Nguyen Trung launched several counterattacks with naval forces, all unsuccessful, forcing him to retreat successively to Cua Muon and then Cua Dai An. In the third lunar month of 1407, he organized a major counteroffensive at Ham Tu but fell into an ambush; the Dai Ngu army suffered a crushing defeat, and supply ships were destroyed.

Thereafter, the two Ho emperors and Ho Nguyen Trung withdrew to Thanh Hoa and then Nghe An. In the fifth lunar month of 1407, Ho Quy Ly, Ho Han Thuong, and Ho Nguyen Trung were successively captured and escorted to Jinling. The Ho dynasty collapsed, Dai Ngu was annexed by the Ming as Jiaozhi Commandery; Ho Nguyen Trung alone was spared execution.

Service Under the Ming Dynasty

In 1409, Tran Quý Khoang, a member of the Tran royal clan, proclaimed himself emperor at Chi La under the reign title Trung Quang and repeatedly rose in rebellion against the Ming. In 1411, he sent Ho Ngan Than and Bui Not Ngon to the Ming court to seek investiture. In Yanjing, Ho Nguyen Trung (then serving the Ming) was ordered to probe the situation in Dai Viet; Ngan Than disclosed many matters, whereas Not Ngon remained discreet. After returning home, Not Ngon accused Ngan Than of accepting Ming titles; Emperor Trung Quang executed Ngan Than.

After being pardoned, Ho Nguyen Trung changed his name to Le Trung and served as an official in the Ming Ministry of Works. Under Emperor Ming Xuanzong, he was once interrogated for failing to declare his background but was exempted from punishment because he had already been pardoned by Ming Chengzu. From 1426 to 1428, he was successively promoted from Zhu shi to Lang zhong, then to Right and Left Vice Minister of the Ministry of Works, receiving stipends in rice.

Under Ming Chengzu, Chinese firearms technology was significantly improved through the adoption of techniques from Dai Viet, such as the “than tien,” improved moisture-resistant trigger mechanisms, and especially the than co gun. For these contributions, Ho Nguyen Trung was appointed to the Ministry of Works, gradually promoted to Left Vice Minister, and mentioned in Ming rituals dedicated to military weaponry.

Works such as Co Thu bao dam, Hoang Minh dai su ky, and Ming shi lu all record his role, though with discrepancies regarding his surname and offices. Some sources state that he was granted the surname Tran and served as Minister of Revenue, but Ming shi lu confirms that he used the name Le Trung (黎澄), served in the Ministry of Works, and did not suffer major demotions as claimed in certain unofficial histories.

Under Emperor Ming Yingzong, Le Trung continued to be promoted:

  • 1436: Left Vice Minister of the Ministry of Works
  • 1445: Minister of the Ministry of Works

Despite his advanced age, he requested continued service, which the court approved. In 1446, Le Trung died in China at approximately 73 years old. The Ming court sent officials to conduct sacrificial rites and arrange his burial, recognizing him as a senior minister with major contributions to military technology.

Descendants

After Le Trung’s death, the Ming court appointed his son, Le Thuc Lam—previously serving as Transport Commissioner in the Salt Administration of Shandong Province—as Zhongshu sheren, continuing to oversee weapons manufacturing until his retirement in 1470. As late as 1489, descendants of this family were still serving as officials in the Ming court. The graves of Le Trung (Ho Nguyen Trung), Le Thuc Lam, and Le The Vinh (son of Thuc Lam, also a Ming official) are all located in Nam An Ha village, Haidian District, on the outskirts of Beijing.

According to Ming shi lu, in 1452 (under Yingzong), Le Thuc Lam was promoted from Lang zhong of the Ministry of Works to Right Vice Minister of the same ministry, while continuing to manage the imperial armories. In 1461, during the Ding Mao year, the Minister of Works in Nanjing, Wang Yong Shou, and Vice Minister Le Thuc Lam both completed their nine-year performance evaluations, and the emperor ordered their reinstatement. In 1469 (under Xianzong), Le Thuc Lam, then Right Vice Minister of the Ministry of Works, had a son, Le The Vinh, appointed as Zhongshu sheren. Thuc Lam was a native of Jiaozhi, son of Le Trung. Le Trung was the son of Le Quy Ly and the younger brother of Le Thuong. All had once been taken captive.

Legacy

While living in exile in China, Ho Nguyen Trung composed Nam Ong mong luc (Record of the Dreams of Nam Ong), consisting of 31 chapters, of which only 28 survive today. This is the earliest memoir written in Classical Chinese by a Vietnamese author and the first work to pioneer a trend of writing about “real people and real events” in Vietnamese narrative prose.

The name Ho Nguyen Trung has been given to streets in Phong Dien Town (Thua Thien–Hue Province) and in Hai Chau and Cam Le districts of Da Nang City.

References

  1. Ngô Sĩ Liên. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (phiên dịch) (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển Nội các quan bản. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội
  2. Vũ Khiêu (2004). Danh nhân Hà Nội. Quyển 1. Hà Nội: NXB Hà Nội.
  3. Quốc Chấn (2006). Thần đồng xưa của nước ta. Thanh Hóa: NXB Thanh Hóa
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn; Viện Sử Học (dịch) (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: NXB Giáo dục

Tiếng Pháp

Ho Nguyen Trung (1374–1446)

Origines

Ho Nguyen Trung, qui portait a l’origine le nom de famille Le, etait originaire du district de Vinh Phuc, lo de Thanh Hoa (aujourd’hui Thanh Hoa). Il etait le fils aine de Ho Quy Ly, et le frere de Le Han Thuong et Le Thanh Ngau. Sa mere etait probablement une concubine ; dans Nam Ong mong luc, Nguyen Trung mentionne son grand-pere maternel Nguyen Thanh Huan, poete renomme de l’epoque Tran, mais ce lien de parente n’est pas encore totalement elucide.

Grace a ses liens par alliance avec l’empereur Tran Nghe Tong, Ho Quy Ly fut rapidement promu et concentra le pouvoir. En 1387, il occupait deja la charge de Dong binh chuong su, exercant une autorite presque absolue a la cour. Les forces fideles a la dynastie Tran tenterent a plusieurs reprises de resister, sans succes. En 1388, Tran Phe De fut tue, Tran Thuan Tong monta sur le trone, mais le pouvoir resta aux mains de Quy Ly.

Carriere politique

Dans ce contexte, Ho Nguyen Trung se vit confier de hautes fonctions. En 1394, il fut nomme Phan tu su Thuong lam tu. Apres la mort de l’ex-empereur Nghe Tong, Ho Quy Ly renforca encore son emprise : en 1399, il fit mettre a mort Tran Thuan Tong et installa sur le trone le jeune Tran Thieu De. La meme annee, Quy Ly nomma Nguyen Trung Tu do, tandis que Han Thuong devenait Nhiep thai pho.

En 1400, Ho Quy Ly contraignit Tran Thieu De a abdiquer, abandonna le nom Le pour celui de Ho, se proclama empereur, fonda la dynastie Ho et donna au pays le nom de Dai Ngu. Ho Nguyen Trung fut eleve a la dignite de Ta Tuong quoc et recut le titre de Ve vuong. En 1401, Quy Ly abdiqua en faveur de Ho Han Thuong ; Nguyen Trung conserva la charge de Ta Tuong quoc et gouverna les affaires de l’Etat conjointement avec Ho Quy Ty.

Guerre entre Dai Ngu et la dynastie Ming

Premiere campagne

Au quatrieme mois lunaire de 1406, l’empereur Ming Chengzu, pretextant la restauration de Tran Thiem Binh (de son vrai nom Nguyen Khang, imposteur se faisant passer pour le troisieme fils de Tran Nghe Tong), envoya les generaux Han Quan et Hoang Trung a la tete de 100 000 hommes depuis le Guangxi pour attaquer Dai Ngu. Le Ta Tuong quoc Ho Nguyen Trung conduisit l’armee pour affronter l’ennemi au col de Lanh Kinh. Selon le Dai Viet su ky toan thu, les troupes de Dai Ngu, sous-estimant l’ennemi, subirent une lourde defaite. Quatre grands generaux perirent : Pham Nguyen Khoi, Chu Binh Trung, Tran Huyen Huyen et Tran Thai Boc. Ho Nguyen Trung abandonna son bateau pour gagner la rive et faillit etre capture ; quelqu’un le ramena a bord, ce qui lui permit d’echapper. Peu apres, le general Ho Van arriva inopinement avec les troupes de Ta Thanh Duc depuis Vu Cao et infligea une severe defaite aux Ming. Hoang Trung s’enfuit au milieu de la nuit. Les forces Ming, bloquees a Chi Lang, durent livrer Tran Thiem Binh a Dai Ngu pour obtenir le droit de se retirer. Tran Thiem Binh fut ensuite execute par supplice.

Seconde campagne

Au neuvieme mois lunaire de 1406, Ming Chengzu mobilisa deux grandes armees, commandees par Zhang Fu et Mu Sheng, totalisant environ 800 000 hommes, qui attaquerent Dai Ngu par les cols du nord. En novembre, les forces Ming se regrouperent a Bach Hac et etablirent des camps le long du fleuve Cai – Tru Giang. Du cote de Dai Ngu, Ho Nguyen Trung dirigea un vaste systeme defensif centre sur Da Bang, s’etendant sur plus de 400 km le long des grands cours d’eau. Il fit tendre des chaines de fer a travers les rivieres, installa des embuscades et fit fabriquer de nombreuses armes a feu, notamment les canons dits « than co ».

Les Ming diffuserent des proclamations en faveur de la « restauration des Tran », ce qui demoralisa les troupes de Dai Ngu ; plusieurs generaux firent defection. En decembre 1406, Zhang Fu et Mu Sheng concentrerent leurs attaques sur Da Bang, utiliserent l’artillerie pour neutraliser les elephants de guerre et s’emparerent de la forteresse. La ligne defensive fluviale fut brisee, Dong Do tomba, et Ho Nguyen Trung se replia vers Hoang Giang.

Au debut de 1407, les Ming poursuivirent leur avance. Ho Nguyen Trung tenta a plusieurs reprises des contre-attaques navales, toutes infructueuses, et dut reculer successivement vers Muon puis Dai An. En mars 1407, il organisa une grande contre-offensive a Ham Tu, mais tomba dans une embuscade ; l’armee de Dai Ngu subit une defaite desastreuse, et les navires de ravitaillement furent detruits.

Les deux empereurs Ho et Ho Nguyen Trung se replierent alors vers Thanh Hoa puis Nghe An. En mai 1407, Ho Quy Ly, Ho Han Thuong et Ho Nguyen Trung furent captures et conduits a Jinling. La dynastie Ho s’effondra, Dai Ngu fut annexe par les Ming sous le nom de commanderie de Giao Chi. Ho Nguyen Trung fut toutefois epargne.

Au service de la dynastie Ming

Apres avoir ete gracie, Ho Nguyen Trung changea de nom pour Le Trung et entra au service du Ministere des Travaux publics des Ming. Sous le regne de Ming Xuanzong, il fut interroge pour n’avoir pas declare son identite, mais fut absous en raison de la grace accordee par Ming Chengzu. Entre 1426 et 1428, il fut successivement promu de Chu shi a Lang zhong, puis a You et Zuo Shi lang du Ministere des Travaux publics, recevant sa remuneration en riz.

Sous les Ming, les techniques d’armement connurent d’importants progres grace a l’apport de Dai Viet, notamment les projectiles « than tien », l’amelioration des mecanismes de mise a feu resistants a l’humidite, et surtout le canon « than co ». Pour ces contributions, Le Trung fut eleve au rang de Zuo Shi lang du Ministere des Travaux publics et mentionne dans les rites imperiaux consacres aux armes.

Des ouvrages tels que Co Thu bao dam, Hoang Minh dai su ky et le Ming shi lu attestent son role, bien que certains comportent des erreurs sur son nom ou ses fonctions. Le Ming shi lu confirme qu’il porta le nom de Le Trung (黎澄) et servit au Ministere des Travaux publics, sans avoir subi de degradations majeures comme le rapportent certaines sources apocryphes.

Sous le regne de Ming Yingzong, Le Trung poursuivit sa carriere :

  • 1436 : Zuo Shi lang du Ministere des Travaux publics
  • 1445 : Shang shu (ministre) du Ministere des Travaux publics

Malgre son grand age, il demanda a rester en fonction, ce que la cour accepta. En 1446, Le Trung mourut en Chine, age d’environ 73 ans. La cour Ming organisa des ceremonies funeraires officielles et reconnut ses grands merites en matiere de technologie militaire.

Descendance

Apres sa mort, la dynastie Ming nomma son fils Le Thuc Lam, alors Chuyen van su a l’administration du sel du Shandong, au poste de Zhong shu she ren. Il poursuivit la fabrication des armes jusqu’a sa retraite en 1470. Jusqu’en 1489, les descendants de cette famille servirent encore a la cour Ming. Les tombes de Le Trung (Ho Nguyen Trung), de Le Thuc Lam et de Le The Vinh, fils de Thuc Lam, se trouvent aujourd’hui a Nam An Ha, district de Hai Dien, en banlieue de Pekin.

Heritage

Durant sa vie d’exil en Chine, Ho Nguyen Trung composa le Nam Ong mong luc (« Recit des reves de Nam Ong »), ouvrage de 31 chapitres dont 28 seulement subsistent. Il s’agit du premier recueil de memoires en chinois classique et d’une oeuvre fondatrice de la prose narrative vietnamienne privilegiante les « personnes reelles et les faits reels ».

Le nom de Ho Nguyen Trung a ete donne a une rue de la ville de Phong Dien (province de Thua Thien–Hue) ainsi qu’a des rues des districts de Hai Chau et Cam Le (ville de Da Nang).

References

  1. Ngô Sĩ Liên. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (phiên dịch) (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển Nội các quan bản. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội
  2. Vũ Khiêu (2004). Danh nhân Hà Nội. Quyển 1. Hà Nội: NXB Hà Nội.
  3. Quốc Chấn (2006). Thần đồng xưa của nước ta. Thanh Hóa: NXB Thanh Hóa
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn; Viện Sử Học (dịch) (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: NXB Giáo dục

Tiếng Trung

胡元澄(Ho Nguyen Trung,1374—1446)

出身

胡元澄,原姓黎,籍贯清化路永福县(今属清化省)。他是胡季犛(Ho Quy Ly)之长子,黎汉苍(Le Han Thuong)与黎圣岐(Le Thanh Ngau)之兄。其母很可能为妾室。《南翁梦录》中,元澄提及外祖阮圣训(Nguyen Thanh Huan),为陈朝一位擅长诗文之人,但其具体血缘关系尚未完全明晰。

凭借与陈艺宗(Tran Nghe Tong)的姻亲关系,胡季犛深受重用,仕途迅速攀升,至1387年任同平章事,几乎掌控朝政全权。忠于陈朝的势力多次反抗皆告失败;1388年,陈废帝被杀,陈顺宗即位,但实权仍掌握在胡季犛手中。

政治生涯

在此背景下,胡元澄被委以多项要职。1394年,任上林寺判事。艺宗太上皇去世后,胡季犛进一步收紧权力;至1399年,弑陈顺宗,立年幼的陈少帝。同年,季犛封胡元澄为司徒,封汉苍为摄太傅。

1400年,胡季犛迫陈少帝禅位,改黎姓为胡姓,自立为帝,建立胡朝,国号大虞。胡元澄被封为左相国,爵卫王。1401年,胡季犛传位于胡汉苍,元澄继续任左相国,与胡季琶(Ho Quy Ty)共同理政。

大虞与明朝之战

第一次

1406年农历四月,明成祖以“复陈”为名,借陈添平(Tran Thiem Binh,真名阮康 Nguyen Khang,冒称陈艺宗第三子)为口实,命征南将军右军都督同知韩观(Han Quan)与参将都督同知黄中(Hoang Trung)率十万大军自广西进攻大虞。左相国胡元澄率主力于岭京关迎战。据《大越史记全书》记载,大虞军轻敌,遭受惨败。四位大将——范元恢(Pham Nguyen Khoi,二卫大将)、周秉忠(Chu Binh Trung,震刚军指挥)、陈宣宣(Tran Huyen Huyen,三辅军指挥)与陈太仆(Tran Thai Boc,左神翼军指挥)皆战死。胡元澄弃舟登岸,几近被擒,幸得他人相助复登舟而脱险。其后,胡问(Ho Van)忽率左圣翼军自武高来援,大败明军,黄中于半夜撤退。胡汉苍又遣胡射(Ho Xa)率右圣翼军、陈鼎(Tran Dinh)率北江圣翼军于支陵关截敌。明军被迫交出陈添平以求撤退,陈添平随后被胡朝处以凌迟。

第二次

1406年农历九月,明成祖再遣两路大军,由张辅(Zhang Fu)与木圣(Mu Sheng)统率,总兵力约八十万,自北方诸关进攻大虞。十一月,明军会师白鹤,沿红河—住江扎营。胡元澄统率大虞防线,以多邦为核心,沿主要河系布防,绵延四百余公里,设铁索横江、伏兵,并制造大量火器,其中包括“神机枪”。

明军散布“复陈”檄文,致大虞军心动摇,部分将领投降。1406年十二月,张辅、木圣集中攻打多邦,以火炮破象阵,城破;河防瓦解,东京失守,胡元澄退守黄江。

1407年初,明军继续推进。胡元澄多次以水军反击未果,退至门口、再至大安口。三月,于咸子发动大规模反攻,却陷入伏击,大虞军惨败,粮船尽毁。

其后,两位胡帝与胡元澄退入清化、再至乂安。1407年五月,胡季犛、胡汉苍与胡元澄相继被俘,押解金陵。胡朝覆亡,大虞并入明朝为交趾郡;胡元澄独得免死。

任官于明朝

1409年,陈宗室陈贵矿(Tran Quy Khoang)于支罗称帝,年号重光,屡举兵抗明。1411年,遣胡彦神(Ho Ngan Than)与裴讷言(Bui Not Ngon)赴明请封。彼时在明任职的胡元澄奉命探查大越情势;彦神泄露多事,讷言守口如瓶。归国后,讷言揭发彦神受明官爵,重光帝处死彦神。

获赦后,胡元澄改名黎澄(Le Trung),入仕明工部。明宣宗时,因未申报身世受讯,但以成祖旧赦得免。1426—1428年间,历任工部主事、郎中,继而升任右、左侍郎,俸以粮米。

在明成祖时期,中国火器技术因吸收大越经验而显著改进,如“神箭”、防潮扳机,尤以神机枪最为关键。胡元澄因其贡献得任工部要职,升至左侍郎,并载入明廷兵器祭祀仪式。

《孤树包谈》《皇明大事记》《明实录》等书均记其事迹,虽姓名、官衔略有出入。《明实录》确认其名为黎澄(黎澄),任工部官职,并无野史所称之重大贬黜。

明英宗时,黎澄继续升迁:

  • 1436年:工部左侍郎
  • 1445年:工部尚书

年高仍请留用,获准。1446年,黎澄卒于中国,享年约七十三。明廷遣官致祭并办理丧葬,褒其为在军事技术方面有重大贡献之重臣。

后裔

黎澄卒后,明廷任其子黎叔林(Le Thuc Lam)——原任山东盐运司转运使——为中书舍人,继续负责军器制造,至1470年致仕。至1489年,其后裔仍有人在明廷任职。今黎澄(即胡元澄)、黎叔林及其子黎世荣(Le The Vinh)之墓,均位于北京市海淀区南安河村。

据《明实录》记载,1452年(英宗),黎叔林由工部郎中升为工部右侍郎,仍兼管军器作坊。1461年,南京工部尚书王永寿与工部侍郎黎叔林均完成九年考核,奉旨复职。1469年(宪宗),工部右侍郎黎叔林之子黎世荣被任命为中书舍人。黎叔林为交趾人,黎澄之子;黎澄为黎季犛之子、黎商之弟,皆曾被俘为俘虏。

遗产

胡元澄旅居中国期间,撰成《南翁梦录》三十一篇,今存二十八篇。此书为越南最早的汉文回忆录,亦为以“真人真事”为旨的叙事散文开先河。

胡元澄之名被用于承天—顺化省丰田镇,以及岘港市海州、锦丽两区之街道。

参考文献

  1. Ngô Sĩ Liên. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam (phiên dịch) (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển Nội các quan bản. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội
  2. Vũ Khiêu (2004). Danh nhân Hà Nội. Quyển 1. Hà Nội: NXB Hà Nội.
  3. Quốc Chấn (2006). Thần đồng xưa của nước ta. Thanh Hóa: NXB Thanh Hóa
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn; Viện Sử Học (dịch) (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: NXB Giáo dục

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (5)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)