Thân thế
Đặng Dung là con trai của danh thần Đặng Tất. Theo Đặng tộc Đại tông phả, tổ tiên của Đặng Tất vốn có nguồn gốc ở vùng kinh kỳ Thăng Long. Ông tổ đời thứ tư của Đặng Tất là Đặng Bá Kiển, sau này di cư vào sinh sống tại Nghệ An châu. Con trưởng của Đặng Bá Kiển là Đặng Bá Tĩnh, người đã đỗ Thám hoa dưới triều nhà Trần và cũng chính là ông nội của Đặng Tất. Con trai trưởng của Đặng Bá Tĩnh là Đặng Đình Dực, tức thân phụ của Đặng Tất.
Theo ghi chép trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Đặng Tất (1357–1409) là người làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, thuộc Nghệ An châu (nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng ông vốn xuất thân từ Hóa Châu. Dưới triều nhà Trần, ông thi đỗ Thái học sinh và được bổ nhiệm giữ chức Tri phủ Hóa Châu, vùng nay tương ứng với khu vực Hải Lăng (Quảng Trị). Sau đó, ông tiếp tục được điều vào trấn nhậm tại huyện Thăng Bình thuộc Quảng Nam.
Theo cha tôn phò vua Giản Định
Cha của Đặng Dung là Đặng Tất, một võ quan từng phục vụ dưới triều Trần và sau đó là nhà Hồ. Năm 1391, Hồ Quý Ly bổ nhiệm ông làm Châu phán Hóa Châu. Đến năm 1402, Đặng Tất tiếp tục tham gia quản lý vùng Thăng Hoa – lãnh thổ mới chiếm được từ Chiêm Thành – dưới quyền Hoàng Hối Khanh.
Tháng 5 năm 1407, sau khi cha con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt tại cửa biển Kỳ La, Chiêm Thành nhân cơ hội nổi dậy nhằm giành lại đất Thăng Hoa. Trong tình thế đó, Đặng Tất xin với tướng Minh là Trương Phụ cho mình tiếp tục cai quản Hóa Châu để ổn định địa phương. Trương Phụ chấp thuận, và sau đó quân Chiêm Thành cũng rút lui.
Cùng năm 1407, tôn thất nhà Trần là Trần Ngỗi khởi binh tại Tràng An, xưng hiệu Giản Định Đế để chống quân Minh. Do lực lượng ban đầu còn yếu, ông phải rút vào Nghệ An. Nghe tin, Đặng Tất khi ấy giữ chức Đại tri châu Hóa Châu đã giết quan lại nhà Minh tại địa phương, đem quân ra Nghệ An phò tá Giản Định Đế. Ông còn dâng con gái cho vua, nhờ đó được phong tước Quốc công và trở thành trụ cột của lực lượng kháng Minh. Đặng Dung trong thời gian này cũng theo cha gia nhập và tôn phò Giản Định Đế.
Tuy nhiên, sau chiến thắng lớn trước quân Minh trong trận Bô Cô năm 1409, Giản Định Đế nghe lời gièm pha của hoạn quan Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang, nghi ngờ Đặng Tất chuyên quyền nên hạ lệnh giết ông cùng tướng Nguyễn Cảnh Chân. Cái chết của hai đại thần khiến con trai họ là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị vô cùng phẫn nộ. Hai người rời bỏ Giản Định Đế, đem quân Thuận Hóa ra Thanh Hóa, rồi rước Trần Quý Khoáng vào Nghệ An tôn lập làm vua, tức Trùng Quang Đế, tiếp tục sự nghiệp kháng Minh của nhà Hậu Trần.
Theo phò vua Trùng Quang
Trần Quý Khoáng là con Trang Định vương Trần Ngạc và là cháu nội của Trần Nghệ Tông, trước kia Quý Khoáng làm quan Nhập nội thị trung. Trần Quý Khoáng lên ngôi vua ở Chi La, đổi niên hiệu là Trùng Quang, dùng Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã.
Lúc này Giản Định đế đang ở thành Ngự Thiên, chống nhau với nhà Minh. Trùng Quang đế sai Nguyễn Súy mang quân đến đánh úp, bắt được Giản Định đế. Mẹ của Giản Định đế là Hưng Khánh Thái hậu và bầy tôi là Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh bàn nhau khởi binh đánh úp lại Trùng Quang đế để khôi phục quyền lực cho Giản Định đế. Việc bị tiết lộ, Trùng Quang đế bắt giết Lê Tiệt và Lê Nguyên Đỉnh, còn lại thì tha cả. Gặp khi ấy Nguyễn Súy đưa Giản Định đế đến Nghệ An, Trùng Quang đế thay mặc mũ áo thường ra đón tiếp. Trùng Quang đế bèn tôn Giản Định đế làm Thượng hoàng, cùng nhau mưu tính việc khôi phục.
Kháng chiến chống quân Minh
Trận Mô Độ
Sau khi lập triều Hậu Trần, Giản Định Đế và Trùng Quang Đế chia quân tiến ra Bắc. Giản Định Đế tiến đến Hạ Hồng, còn Trùng Quang Đế kéo quân đến Bình Than, khiến hào kiệt nhiều nơi hưởng ứng. Tuy nhiên, khi tướng Minh là Trương Phụ đem quân tới, Giản Định Đế phải bỏ thuyền lên bờ rút lui và cuối cùng bị bắt, giải về Kim Lăng. Trong khi đó, quân của Trùng Quang Đế giao chiến với quân Minh tại Bình Than, giao cho Đặng Dung trấn giữ cửa Hàm Tử. Do thiếu lương thực, quân Hậu Trần dần tan rã. Trùng Quang Đế thấy tình thế không thể chống đỡ nên rút về Nghệ An, nhưng quân Minh vẫn truy kích và tàn sát rất nhiều dân chúng.
Năm 1410, Trùng Quang Đế lại đem quân tiến ra Bắc, giành được một số thắng lợi ban đầu. Tuy nhiên, do hiệu lệnh trong quân không thống nhất, quân Minh tiến đến đâu thì quân Hậu Trần tan rã đến đó, buộc nhà vua phải rút về Nghệ An. Đầu năm 1411, triều Minh sai Trương Phụ mang đại quân vào tiếp viện cho Mộc Thạnh. Năm sau, khi tiến đến Nghệ An, quân Minh chạm trán với các tướng Hậu Trần là Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung tại trận Mô Độ. Hai bên giao chiến quyết liệt chưa phân thắng bại, nhưng Nguyễn Súy và Nguyễn Cảnh Dị bất ngờ rút quân theo đường biển, Hồ Bối cũng bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung rơi vào thế cô lập, không có viện binh nên phải dùng thuyền nhẹ vượt biển rút lui. Đến năm 1413, Trương Phụ tiếp tục tấn công Nghệ An, buộc quân Hậu Trần phải rút vào Hóa Châu – căn cứ cuối cùng của triều đình này.
Trận Sái Già
Tháng 6 năm Quý Tỵ (1413), quân Trương Phụ tiến vào Nghệ An. Quan Thái phó Hậu Trần là Phan Quý Hữu ra hàng nhưng mất chỉ sau vài ngày. Trương Phụ liền cho con ông là Phan Liêu làm Tri phủ Nghệ An. Để lập công, Phan Liêu cung cấp cho quân Minh nhiều tin tức quan trọng về lực lượng, tướng lĩnh và địa thế của quân Hậu Trần.
Nhận được những thông tin này, Trương Phụ quyết định tiến đánh Hóa Châu. Dù tướng Mộc Thạnh cho rằng vùng này núi cao biển rộng, khó đánh, Trương Phụ vẫn quyết tâm tiến quân, tuyên bố rằng sống hay chết cũng phải ở đất Hóa Châu và nếu không chiếm được thì không còn mặt mũi trở về triều đình. Sau đó, ông lập tức cho cả quân thủy lẫn quân bộ tiến đánh.
Tháng 9 năm 1413, quân Minh tiến đến Thuận Châu. Các tướng Hậu Trần là Nguyễn Súy và Đặng Dung đem quân trấn giữ sông Thái Gia, bố trí phục binh và ban đêm đánh úp doanh trại của Trương Phụ. Trong trận tập kích, Đặng Dung còn nhảy lên thuyền của Trương Phụ định bắt sống, nhưng vì không nhận ra mặt nên Trương Phụ kịp nhảy xuống sông và dùng thuyền nhỏ chạy thoát. Lúc này lực lượng Hậu Trần đã rất suy yếu, Trương Phụ nhanh chóng phản công. Quân của Đặng Dung không chống nổi, buộc phải rút lui.
Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư đánh giá rằng, dù lực lượng ít ỏi, Đặng Dung và Nguyễn Súy vẫn dám đem tàn quân chống lại đội quân Minh hùng mạnh. Việc Đặng Dung nửa đêm tập kích khiến quân giặc hoảng sợ, thiêu hủy thuyền bè và khí giới của chúng cho thấy tài năng của một vị tướng thực thụ. Tuy cuối cùng thất bại, nhưng đó là do thế trời không thuận. Trong suốt khoảng năm năm chiến đấu, họ vẫn kiên trì chống giặc, dù gặp nhiều bất lợi cũng không nản chí. Tấm lòng trung nghĩa ấy, theo Ngô Sĩ Liên, là tấm gương khiến hậu thế muôn đời còn có thể tưởng tượng và kính phục.
Cái chết
Tháng 12, năm 1413, từ khi thua trận Sái Già, quân Hậu Trần thế yếu không thể chống với quân Minh được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi; Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung muốn chạy sang Xiêm La, Trương Phụ đuổi theo bắt được. Nguyễn Cảnh Dị mắng chửi Phụ rằng: Chính ta muốn giết mày, bây giờ lại bị mày bắt! Mắng chửi mãi không ngớt mồm, Phụ đem giết đi, lấy gan ăn. Trùng Quang đế chạy sang Lão Qua, Nguyễn Súy chạy sang Minh Linh cũng đều bị quân nhà Minh bắt.
Chẳng được bao lâu vua Trần và các tướng đều bị bắt và bị giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống nước tự tử, Đặng Dung và Nguyễn Súy cũng nhảy xuống theo tự sát. Đặng Dung có làm bài thơ Thuật hoài, sau được nhiều người truyền tụng:
Việc đời bối rối tuổi già vay
Trời đất vô cùng một cuộc say
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay
Vai khiêng trái đất mong phò chúa
Giáp gột sông trời khó vạch mây
Thù trả chưa xong đầu đã bạc
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.”
Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép:
Đang khi đôi bên quân Nam và quân Bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của [Trương] Phụ. [Đặng] Dung đã nhảy lên thuyền của [Trương] Phụ và định bắt sống Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế, Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà [Nguyễn] Súy không biết hợp lực để cùng đánh. [Trương] Phụ biết quân của [Đặng] Dung ít nên lập tức quay lại đánh. Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết.”1
Thờ tự
Đền Ngọc Chấn thuộc xã Yên Trị, cách trung tâm huyện Ý Yên khoảng hơn 10km về phía nam hiện thờ danh tướng Đặng Dung. Ông được thờ vì là người có công giúp nhân dân trong vùng đắp đê chống lụt và tái lập làng xã. Đền Ngọc Chấn xây dựng theo kiểu chữ đinhh gồm hai tòa tiền đường và cung cấm. Tòa tiền đường có 5 gian, là công trình mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn (thế kỷ XIX) với bộ mái phẳng phiu lợp ngói nam, bộ khung thiết kế kiểu giá chiêng kẻ chuyền, bẩy tiền bẩy hậu. Ba gian hậu cung xây cách tòa tiền đường qua một sân nhỏ theo phong cách tiền đao hậu đốc. Nét đặc biệt trong kiến trúc của tòa cung cấm là từ cột, xà, đấu, trụ đều được chế tác từ đá và nhấn tỉa cân đối, trang trí hoa văn một cách hài hòa, do vậy đã góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật tạo hình cho công trình kiến trúc.
Chú thích
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, tập 2, tr, 187
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Dang Dung (1373–1414)
Background
Dang Dung was the son of the eminent minister Dang Tat. According to Dang toc Dai tong pha, the ancestors of Dang Tat originally came from the capital region of Thang Long. The fourth-generation ancestor of Dang Tat was Dang Ba Kien, who later migrated to live in Nghe An chau. The eldest son of Dang Ba Kien was Dang Ba Tinh, who passed the Tham hoa examination under the Tran dynasty and was also the grandfather of Dang Tat. The eldest son of Dang Ba Tinh was Dang Dinh Duc, the father of Dang Tat.
According to the record in Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Dang Tat (1357–1409) was a native of Ta Thien Loc village, Thien Loc district, Nghe An chau (now Tung Loc commune, Can Loc district, Ha Tinh province). However, some opinions suggest that he originally came from Hoa Chau. Under the Tran dynasty, he passed the Thai hoc sinh examination and was appointed Tri phu of Hoa Chau, corresponding today to the area of Hai Lang (Quang Tri). Later he was transferred to govern Thang Binh district in Quang Nam.
Following his father to support Emperor Gian Dinh
Dang Dung’s father, Dang Tat, was a military official who had served under the Tran dynasty and later the Ho dynasty. In 1391, Ho Quy Ly appointed him Chau phan of Hoa Chau. By 1402, Dang Tat continued to participate in the administration of Thang Hoa – a territory newly taken from Champa – under the authority of Hoang Hoi Khanh.
In May 1407, after Ho Quy Ly and his son were captured by Ming forces at the Ky La estuary, Champa seized the opportunity to rise up and reclaim the land of Thang Hoa. In that situation, Dang Tat requested the Ming general Truong Phu to allow him to continue governing Hoa Chau in order to stabilize the region. Truong Phu agreed, and afterward the Champa forces also withdrew.
In the same year (1407), a member of the Tran royal family, Tran Ngoi, launched an uprising at Trang An and proclaimed himself emperor with the title Gian Dinh De to resist the Ming army. Because his forces were initially weak, he had to retreat to Nghe An. Hearing the news, Dang Tat – who was then holding the position of Dai tri chau of Hoa Chau – killed the local Ming officials and brought troops to Nghe An to support Gian Dinh De. He also offered his daughter to the emperor in marriage, and as a result he was granted the title Quoc cong and became a key pillar of the anti-Ming resistance. During this period, Dang Dung also followed his father to join and support Gian Dinh De.
However, after the great victory over the Ming army at the Battle of Bo Co in 1409, Gian Dinh De listened to the slander of the eunuch Nguyen Quy and the scholar Nguyen Mong Trang. Suspecting that Dang Tat had become too powerful, he ordered the execution of Dang Tat and the general Nguyen Canh Chan. The deaths of these two great ministers filled their sons, Dang Dung and Nguyen Canh Di, with anger. The two men abandoned Gian Dinh De, led the Thuan Hoa troops to Thanh Hoa, and then escorted Tran Quy Khoang to Nghe An, where he was proclaimed emperor as Trung Quang De, continuing the anti-Ming cause of the Later Tran dynasty.
Supporting Emperor Trung Quang
Tran Quy Khoang, also known as Tran Quy Khoach, was the son of Trang Dinh vuong Tran Ngac and the grandson of Tran Nghe Tong. Previously he had held the position of Nhap noi thi trung. When he ascended the throne at Chi La, he adopted the era name Trung Quang. He appointed Nguyen Suy as Thai pho, Nguyen Canh Di as Thai bao, Dang Dung as Dong binh chuong su, and Nguyen Chuong as Tu ma.
At that time, Gian Dinh De was still at Ngu Thien citadel fighting the Ming forces. Trung Quang De ordered Nguyen Suy to lead troops in a surprise attack and captured Gian Dinh De. The mother of Gian Dinh De, Hung Khanh Thai hau, together with officials Le Tiet and Le Nguyen Dinh, discussed launching a counterattack to restore power to Gian Dinh De. The plot was exposed. Trung Quang De executed Le Tiet and Le Nguyen Dinh but pardoned the others.
Meanwhile Nguyen Suy escorted Gian Dinh De to Nghe An. Trung Quang De went out personally, wearing ordinary clothes instead of imperial robes, to receive him. He then honored Gian Dinh De as Retired Emperor, and together they planned the restoration of their country.
Fighting against the Ming
The Battle of Mo Do
After establishing the Later Tran regime, Gian Dinh De and Trung Quang De divided their forces and advanced northward. Gian Dinh De moved toward Ha Hong, while Trung Quang De led troops to Binh Than, attracting the support of many local heroes. However, when the Ming general Truong Phu brought reinforcements, Gian Dinh De was forced to abandon his ships and retreat, eventually being captured and sent to Kim Lang.
Meanwhile the forces of Trung Quang De fought the Ming army at Binh Than, with Dang Dung guarding the Ham Tu estuary. Due to a shortage of supplies, the Later Tran army gradually disintegrated. Seeing that the situation could no longer be sustained, Trung Quang De retreated to Nghe An, but the Ming army continued to pursue and slaughter many civilians.
In 1410, Trung Quang De again advanced northward and achieved some early victories. However, due to the lack of unified command, the Later Tran troops dispersed wherever the Ming army arrived, forcing the emperor to retreat once more to Nghe An.
At the beginning of 1411, the Ming court sent Truong Phu with a large army to reinforce Moc Thanh. The following year, when they reached Nghe An, the Ming army clashed with Later Tran generals Nguyen Suy, Nguyen Canh Di, and Dang Dung at the Battle of Mo Do. The fighting was fierce and undecided, but Nguyen Suy and Nguyen Canh Di suddenly withdrew by sea, while Ho Boi abandoned his ships and retreated to land. Dang Dung was left isolated without reinforcements and had to escape by a light boat across the sea.
By 1413, Truong Phu continued his campaign into Nghe An, forcing the Later Tran forces to retreat to Hoa Chau, the final base of their regime.
The Battle of Sai Gia
In the sixth lunar month of the year Quy Ty (1413), Truong Phu’s army entered Nghe An. The Later Tran Thai pho Phan Quy Huu surrendered but died only a few days later. Truong Phu then appointed his son Phan Lieu as Tri phu of Nghe An. Seeking merit, Phan Lieu provided the Ming army with important intelligence about the Later Tran forces, their generals, and the terrain.
After receiving this information, Truong Phu decided to attack Hoa Chau. Although the general Moc Thanh argued that the region had high mountains and wide seas and would be difficult to conquer, Truong Phu insisted on marching forward, declaring that he would live or die in Hoa Chau and would have no face to return to the court if he failed to take it. He immediately launched a combined land and naval assault.
In the ninth lunar month of 1413, the Ming army reached Thuan Chau. The Later Tran generals Nguyen Suy and Dang Dung deployed troops along the Thai Gia River, setting up ambushes and launching a nighttime attack on Truong Phu’s camp. During the raid, Dang Dung even jumped onto Truong Phu’s ship intending to capture him alive, but because he did not recognize his face, Truong Phu managed to leap into the river and escape by a small boat.
By this time the Later Tran forces had become very weak. Truong Phu quickly counterattacked, and Dang Dung’s army could not withstand the assault and had to retreat.
The historian Ngo Si Lien in Dai Viet su ky toan thu commented that although their forces were few, Dang Dung and Nguyen Suy still dared to lead the remaining troops against the powerful Ming army. Dang Dung’s midnight raid terrified the enemy and destroyed many of their ships and weapons, demonstrating the ability of a true general. Although they ultimately failed, it was due to unfavorable circumstances. For nearly five years they persisted in resisting the enemy despite many disadvantages and never lost their determination. According to Ngo Si Lien, such loyalty and righteousness formed an example that later generations could still imagine and admire.
Death
In the twelfth lunar month of 1413, after the defeat at Sai Gia, the Later Tran forces were too weak to resist the Ming army and had to hide in the mountains and forests. Nguyen Canh Di and Dang Dung attempted to flee to Siam, but Truong Phu pursued and captured them. Nguyen Canh Di cursed Truong Phu, saying: “It was I who wanted to kill you, yet now you have captured me!” He continued cursing without stop, so Truong Phu had him executed and reportedly took his liver to eat.
Trung Quang De fled to Lao Qua, and Nguyen Suy fled to Minh Linh, but both were eventually captured by the Ming army.
Soon afterward the Tran emperor and the remaining generals were captured and escorted to Yen Kinh. On the way, Trung Quang De jumped into the water and committed suicide. Dang Dung and Nguyen Suy also jumped into the river and killed themselves.
Dang Dung composed a poem titled Thuat hoai, which later became widely transmitted:
“The affairs of life are tangled, old age borrowed in haste
The poor who meet their time rise easily
A hero who misses his chance feels bitter indeed
Shoulders bearing the world, hoping to aid the lord
Armor washed in the Milky River cannot part the clouds
The vengeance not yet repaid, yet the head already white
Sharpening the sword beneath the moon for so many years.”
Dai Viet su ky toan thu by Ngo Si Lien records:
While the armies of the South and the North were confronting each other, Dang Dung secretly arranged infantry and elephant troops in ambush. At midnight he suddenly attacked Truong Phu’s camp. Dang Dung even jumped onto Truong Phu’s ship intending to capture him alive, but he did not recognize his face and thus Truong Phu escaped by jumping to a small boat. The Ming forces were thrown into chaos, more than half of them were broken, and most of their ships and weapons were burned. Yet Nguyen Suy did not know how to combine forces to continue the attack. Truong Phu realized Dang Dung’s army was small and immediately counterattacked. Dang Dung was forced to accept defeat and his soldiers scattered.
Worship
Ngoc Chan Temple is located in Yen Tri commune, about more than 10 km south of the center of Y Yen district. The temple worships the general Dang Dung, who is believed to have helped local people build dikes to prevent floods and restore villages in the area.
Ngoc Chan Temple is constructed in the shape of the character dinh, consisting of a front hall and a sanctuary. The front hall has five compartments and reflects the architectural style of the Nguyen period (19th century), with a tiled roof, a wooden frame designed in the gia chieng ke chuyen structure, and supporting beams both in the front and back.
The rear sanctuary consists of three compartments, separated from the front hall by a small courtyard, following the architectural style known as tien dao hau doc. A distinctive feature of the sanctuary is that the columns, beams, brackets, and pillars are all made of stone and carefully carved with harmonious decorative motifs, contributing to the artistic and architectural value of the monument.
References
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
Tiếng Pháp
Dang Dung (1373 – 1414)
Origines familiales
Dang Dung était le fils du grand dignitaire Dang Tat. Selon le Dang toc Dai tong pha, les ancêtres de Dang Tat étaient originaires de la région de la capitale Thang Long. Le quatrième ancêtre de Dang Tat était Dang Ba Kien, qui plus tard émigra pour s’établir dans la chau de Nghe An.
Le fils aîné de Dang Ba Kien était Dang Ba Tinh, qui obtint le titre de Tham hoa sous la dynastie Tran et qui était également le grand-père de Dang Tat. Le fils aîné de Dang Ba Tinh était Dang Dinh Duc, c’est-à-dire le père de Dang Tat.
Selon les chroniques du Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Dang Tat (1357–1409) était originaire du village de Ta Thien Loc, district de Thien Loc, dans la chau de Nghe An (aujourd’hui la commune de Tung Loc, district de Can Loc, province de Ha Tinh). Cependant, certaines opinions soutiennent qu’il était en réalité originaire de Hoa Chau.
Sous la dynastie Tran, il réussit l’examen de Thai hoc sinh et fut nommé préfet de Hoa Chau, région correspondant aujourd’hui à la zone de Hai Lang (Quang Tri). Par la suite, il fut muté pour administrer le district de Thang Binh dans l’actuelle province de Quang Nam.
Soutien au roi Gian Dinh avec son père
Le père de Dang Dung, Dang Tat, était un officier militaire ayant servi sous la dynastie Tran puis sous la dynastie Ho. En 1391, Ho Quy Ly le nomma Chau phan de Hoa Chau. En 1402, Dang Tat participa également à l’administration de la région de Thang Hoa – territoire nouvellement conquis sur le Champa – sous l’autorité de Hoang Hoi Khanh.
En mai 1407, après que Ho Quy Ly et son fils furent capturés par l’armée des Ming à l’embouchure de Ky La, le Champa profita de l’occasion pour se soulever afin de reprendre la région de Thang Hoa. Dans cette situation, Dang Tat demanda au général Ming Truong Phu l’autorisation de continuer à administrer Hoa Chau afin de stabiliser la région. Truong Phu accepta, et l’armée du Champa se retira ensuite.
La même année 1407, un membre de la famille impériale Tran, Tran Ngoi, lança une insurrection à Trang An et se proclama empereur sous le nom de Gian Dinh De afin de lutter contre les Ming. Comme ses forces étaient encore faibles au début, il dut se retirer vers Nghe An.
En apprenant cette nouvelle, Dang Tat – alors Dai tri chau de Hoa Chau – tua les fonctionnaires Ming locaux et conduisit ses troupes à Nghe An pour soutenir Gian Dinh De. Il donna également sa fille en mariage au roi, ce qui lui valut le titre de Quoc cong et fit de lui l’un des piliers de la résistance contre les Ming. Durant cette période, Dang Dung rejoignit également son père et se mit au service de Gian Dinh De.
Cependant, après la grande victoire contre les Ming lors de la bataille de Bo Co en 1409, Gian Dinh De, influencé par les calomnies de l’eunuque Nguyen Quy et de l’étudiant Nguyen Mong Trang, soupçonna Dang Tat d’abuser de son pouvoir et ordonna son exécution ainsi que celle du général Nguyen Canh Chan.
La mort de ces deux grands dignitaires provoqua une profonde indignation chez leurs fils Dang Dung et Nguyen Canh Di. Tous deux quittèrent alors Gian Dinh De, conduisirent les troupes de Thuan Hoa vers Thanh Hoa, puis invitèrent Tran Quy Khoang à venir à Nghe An et le proclamèrent empereur sous le nom de Trung Quang De, poursuivant ainsi la lutte anti-Ming de la dynastie des Later Tran.
Au service de l’empereur Trung Quang
Tran Quy Khoang, également appelé Tran Quy Khoach, était le fils du prince Trang Dinh vuong Tran Ngac et le petit-fils de Tran Nghe Tong. Auparavant, il occupait la fonction de Nhap noi thi trung.
Lorsqu’il monta sur le trône à Chi La, il adopta l’ère de règne Trung Quang. Il nomma Nguyen Suy au poste de Thai pho, Nguyen Canh Di au poste de Thai bao, Dang Dung comme Dong binh chuong su et Nguyen Chuong comme Tu ma.
À ce moment-là, Gian Dinh De se trouvait encore dans la citadelle de Ngu Thien et continuait à combattre les Ming. Trung Quang De envoya Nguyen Suy avec des troupes pour attaquer par surprise et capturer Gian Dinh De.
La mère de Gian Dinh De, l’impératrice douairière Hung Khanh, ainsi que ses partisans Le Tiet et Le Nguyen Dinh complotèrent pour lancer une attaque surprise contre Trung Quang De afin de rétablir le pouvoir de Gian Dinh De. Cependant, le complot fut découvert. Trung Quang De fit exécuter Le Tiet et Le Nguyen Dinh, mais épargna les autres.
Lorsque Nguyen Suy amena Gian Dinh De à Nghe An, Trung Quang De se rendit à sa rencontre vêtu d’habits ordinaires. Il lui conféra ensuite le titre d’Empereur retiré (Thuong hoang), et tous deux planifièrent ensemble la restauration du royaume.
Combats contre les Ming
Bataille de Mo Do
Après l’établissement de la dynastie des Later Tran, Gian Dinh De et Trung Quang De divisèrent leurs troupes pour marcher vers le Nord. Gian Dinh De atteignit Ha Hong tandis que Trung Quang De conduisit ses forces jusqu’à Binh Than, suscitant le ralliement de nombreux héros et notables locaux.
Cependant, lorsque le général Ming Truong Phu arriva avec ses troupes, Gian Dinh De fut contraint d’abandonner ses navires et de se retirer sur la terre ferme avant d’être finalement capturé et emmené à Kim Lang.
Pendant ce temps, l’armée de Trung Quang De affronta les Ming à Binh Than et confia à Dang Dung la défense de l’embouchure de Ham Tu. Faute de vivres, l’armée des Later Tran se désagrégea progressivement. Trung Quang De, voyant la situation désespérée, se replia vers Nghe An, mais les Ming poursuivirent leur offensive et massacrèrent de nombreux civils.
En 1410, Trung Quang De lança une nouvelle offensive vers le Nord et obtint quelques succès initiaux. Toutefois, faute d’un commandement unifié, l’armée des Later Tran se dispersa à mesure que les Ming avançaient, obligeant le roi à se retirer une fois de plus vers Nghe An.
Au début de l’année 1411, la cour des Ming envoya Truong Phu avec une grande armée pour soutenir Moc Thanh. L’année suivante, lorsque les Ming atteignirent Nghe An, ils affrontèrent les généraux des Later Tran Nguyen Suy, Nguyen Canh Di et Dang Dung lors de la bataille de Mo Do.
Les deux camps livrèrent un combat acharné sans résultat décisif. Mais soudain, Nguyen Suy et Nguyen Canh Di retirèrent leurs troupes par voie maritime, tandis que Ho Boi abandonna également ses navires pour se retirer sur terre. Dang Dung se retrouva isolé et, faute de renforts, dut prendre un bateau léger pour se retirer par mer.
En 1413, Truong Phu lança une nouvelle offensive contre Nghe An, forçant les forces des Later Tran à se replier vers Hoa Chau, dernier bastion de cette dynastie.
Bataille de Sai Gia
En juin de l’année Quy Ty (1413), l’armée de Truong Phu entra à Nghe An. Le Thai pho des Later Tran, Phan Quy Huu, se rendit mais mourut quelques jours plus tard. Truong Phu nomma alors son fils Phan Lieu préfet de Nghe An.
Afin de gagner des mérites, Phan Lieu fournit aux Ming de nombreuses informations importantes concernant les forces, les commandants et la géographie des positions des Later Tran.
Ayant obtenu ces renseignements, Truong Phu décida d’attaquer Hoa Chau. Bien que Moc Thanh estimât que la région, avec ses montagnes élevées et ses vastes étendues maritimes, était difficile à conquérir, Truong Phu insista pour marcher à l’attaque, déclarant qu’il vivrait ou mourrait à Hoa Chau et que s’il ne réussissait pas à la prendre, il n’aurait plus le visage pour retourner à la cour.
Il lança alors une offensive simultanée par terre et par mer.
En septembre 1413, l’armée Ming atteignit Thuan Chau. Les généraux des Later Tran Nguyen Suy et Dang Dung défendirent la rivière Thai Gia, installèrent des embuscades et attaquèrent de nuit le camp de Truong Phu.
Lors de cette attaque surprise, Dang Dung sauta même à bord du navire de Truong Phu pour tenter de le capturer vivant. Cependant, ne reconnaissant pas son visage, il ne put l’identifier. Truong Phu en profita pour sauter dans le fleuve et s’échapper sur une petite embarcation.
À ce moment-là, les forces des Later Tran étaient déjà très affaiblies. Truong Phu lança rapidement une contre-offensive. L’armée de Dang Dung ne put résister et fut contrainte de se retirer.
L’historien Ngo Si Lien, dans le Dai Viet su ky toan thu, estime que malgré la faiblesse de leurs forces, Dang Dung et Nguyen Suy osèrent encore combattre la puissante armée Ming. L’attaque nocturne menée par Dang Dung sema la panique dans les rangs ennemis, détruisant de nombreux navires et armes, ce qui témoigne du talent d’un véritable général.
Bien que la défaite fût inévitable, elle était due à des circonstances défavorables. Pendant près de cinq années de combats, ils continuèrent néanmoins à résister à l’ennemi sans jamais perdre leur détermination. Selon Ngo Si Lien, cette loyauté et ce sens de la justice constituent un exemple que les générations futures pourront toujours admirer.
Mort
En décembre 1413, après la défaite de Sai Gia, les forces des Later Tran étaient trop faibles pour résister aux Ming et durent se cacher dans les montagnes et les forêts. Nguyen Canh Di et Dang Dung tentèrent de fuir vers Xiêm La, mais Truong Phu les poursuivit et les captura.
Nguyen Canh Di injuria Truong Phu en déclarant : « C’est moi qui voulais te tuer, et me voilà maintenant capturé par toi ! » Il continua à l’insulter sans relâche, si bien que Truong Phu le fit exécuter et mangea son foie.
Trung Quang De s’enfuit vers Lao Qua, tandis que Nguyen Suy s’échappa vers Minh Linh, mais tous deux furent également capturés par les Ming.
Peu de temps après, le roi Tran et ses généraux furent tous capturés et emmenés vers Yen Kinh. En chemin, Trung Quang De se jeta à l’eau pour se suicider. Dang Dung et Nguyen Suy se jetèrent également dans le fleuve et moururent avec lui.
Dang Dung avait composé un poème intitulé Thuat hoai, qui fut largement transmis par la suite :
« Les affaires du monde sont confuses, et l’âge semble emprunté.
Le ciel et la terre sont sans fin, une ivresse dans l’existence.
La pauvreté et l’humilité, quand vient le temps, peuvent s’élever aisément.
Mais le héros qui trébuche ressent une amertume plus profonde.
Je porte la terre sur mes épaules pour soutenir mon souverain.
Je lave mon armure dans le fleuve céleste, mais il est difficile d’écarter les nuages.
La vengeance n’est pas accomplie et déjà mes cheveux blanchissent.
Depuis combien de temps ma lame s’aiguise sous la lumière de la lune. »
Le Dai Viet su ky toan thu de Ngo Si Lien rapporte également :
Au moment où les armées du Sud et du Nord se faisaient face, Dang Dung utilisa secrètement l’infanterie et les éléphants de guerre pour tendre une embuscade. À minuit, il lança une attaque surprise contre le camp de Truong Phu. Dang Dung sauta à bord du navire de Truong Phu pour tenter de le capturer vivant, mais ne reconnaissant pas son visage, Truong Phu s’échappa sur un petit bateau. L’armée Ming fut brisée pour plus de la moitié, et presque tous leurs navires et armes furent incendiés ou détruits. Cependant, Nguyen Suy ne sut pas unir ses forces pour poursuivre l’attaque. Truong Phu, sachant que les troupes de Dang Dung étaient peu nombreuses, lança immédiatement une contre-attaque. Dang Dung dut finalement accepter la défaite et ses soldats se dispersèrent.
Culte et commémoration
Le temple Ngoc Chan, situé dans la commune de Yen Tri, à environ dix kilomètres au sud du centre du district de Y Yen, est dédié au général Dang Dung, qui aurait aidé les habitants de la région à construire des digues contre les inondations et à rétablir les villages.
Le temple Ngoc Chan est construit selon le plan en forme de caractère « dinh », comprenant un bâtiment de culte antérieur et un sanctuaire intérieur. Le bâtiment antérieur comporte cinq travées et reflète clairement le style architectural de la dynastie Nguyen (XIXe siècle), avec un toit couvert de tuiles traditionnelles et une charpente en bois typique.
Le sanctuaire arrière comprend trois travées, séparées du bâtiment principal par une petite cour. Une particularité remarquable de cette construction est que ses colonnes, poutres et supports sont taillés dans la pierre et décorés de motifs sculptés harmonieux, ce qui contribue à la valeur artistique de l’ensemble architectural.
Sources de référence
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
Tiếng Trung
鄧容(Dang Dung,1373–1414)
身世
鄧容(Dang Dung)是名臣鄧悉(Dang Tat)之子。據《鄧族大宗譜》記載,鄧悉家族祖先原出自京畿昇龍(Thang Long)地區。鄧悉的四世祖為鄧伯蹇(Dang Ba Kien),後來遷居於乂安州(Nghe An chau)。鄧伯蹇長子鄧伯靖(Dang Ba Tinh)於陳朝科舉中考中探花,亦即鄧悉之祖父。鄧伯靖長子鄧廷翼(Dang Dinh Duc),即鄧悉之父。
據《欽定越史通鑑綱目》記載,鄧悉(Dang Tat,1357–1409)為乂安州天祿縣左天祿村人(今河靜省干祿縣松祿社)。但亦有說法認為其出身於化州(Hoa Chau)。在陳朝時,鄧悉考中太學生,後被任命為化州知府,其轄地大致相當於今日廣治省海陵一帶。此後又被調任鎮守廣南升平縣(Thang Binh)。
隨父尊奉簡定帝
鄧容之父鄧悉,為一名武官,先後仕於陳朝及胡朝。1391年,胡季犛(Ho Quy Ly)任命其為化州州判。至1402年,鄧悉又參與管理升華(Thang Hoa)地區——即從占城奪取的新領土——隸屬於黃悔卿(Hoang Hoi Khanh)之下。
1407年5月,胡季犛父子在奇羅海口(Ky La)被明軍俘獲後,占城趁機起兵,企圖奪回升華之地。鄧悉於是向明將張輔(Zhang Fu)請求繼續治理化州,以安定地方。張輔允許其請求,之後占城軍亦退去。
同年,陳朝宗室陳頠(Tran Ngoi)於長安(Trang An)起兵,自立為帝,號簡定帝(Gian Dinh De),以抗明軍。由於初期兵力薄弱,他不得不退入乂安。鄧悉當時任化州大知州,聞訊後即誅殺當地明朝官吏,率軍赴乂安輔佐簡定帝,並將女兒嫁與皇帝,因此受封國公,成為抗明勢力的支柱。鄧容在此期間亦隨父加入軍中,尊奉簡定帝。
然而在1409年博姑(Bo Co)之戰大敗明軍後,簡定帝聽信宦官阮貴(Nguyen Quy)與學生阮夢莊(Nguyen Mong Trang)的讒言,懷疑鄧悉專權,遂下令誅殺鄧悉與將領阮景真(Nguyen Canh Chan)。兩位重臣之死,使其子鄧容與阮景異(Nguyen Canh Di)極為憤怒。二人遂離開簡定帝,率順化(Thuan Hoa)軍北上清化(Thanh Hoa),迎立陳季擴(Tran Quy Khoang)至乂安稱帝,即重光帝(Trung Quang De),繼續後陳政權的抗明事業。
隨侍重光帝
陳季擴(Tran Quy Khoang,又作Tran Quy Khoach)為莊定王陳顎(Tran Ngac)之子、陳藝宗(Tran Nghe Tong)之孫。此前任入內侍中。陳季擴於芝羅(Chi La)即位,改元重光,任命阮帥(Nguyen Suy)為太傅、阮景異(Nguyen Canh Di)為太保、鄧容為同平章事、阮章(Nguyen Chuong)為司馬。
此時簡定帝仍在御天城(Ngu Thien)與明軍對峙。重光帝派阮帥率軍襲擊並俘獲簡定帝。簡定帝之母興慶太后(Hung Khanh Thai Hau)與臣下黎截(Le Tiet)、黎元鼎(Le Nguyen Dinh)密謀起兵反擊重光帝,以恢復簡定帝之權。事情敗露後,重光帝處死黎截與黎元鼎,其餘從寬赦免。當阮帥押解簡定帝至乂安時,重光帝換上常服親自迎接,並尊簡定帝為上皇,共同商議恢復國家的計畫。
與明軍作戰
模度之戰
後陳建立後,簡定帝與重光帝分兵北進。簡定帝至下洪(Ha Hong),重光帝軍至平灘(Binh Than),各地豪傑紛紛響應。然而明將張輔率軍抵達後,簡定帝被迫棄舟登岸撤退,最終被俘並押送至金陵(Jinling)。
同時重光帝軍在平灘與明軍交戰,並派鄧容鎮守含子門(Ham Tu)。由於糧食匱乏,後陳軍逐漸潰散。重光帝見勢難支,只得退回乂安,但明軍仍緊追不捨,屠殺甚眾百姓。
1410年,重光帝再次率軍北進,初期取得若干勝利。然而軍中號令不一,明軍所到之處,後陳軍即散,迫使皇帝再度退回乂安。1411年初,明朝派張輔率大軍入援沐晟(Mu Sheng)。翌年明軍進至乂安時,與後陳將領阮帥、阮景異、鄧容在模度(Mo Do)交戰。雙方激戰未分勝負,但阮帥與阮景異忽然率軍由海道撤退,胡備(Ho Boi)亦棄舟登岸。鄧容陷於孤立,無援可依,只得乘輕舟越海撤退。至1413年,張輔再度進攻乂安,後陳軍被迫退至化州——此為後陳政權最後的根據地。
賽迦之戰
癸巳年(1413)六月,張輔軍進入乂安。後陳太傅潘季友(Phan Quy Huu)出降,但不久即死。張輔遂任其子潘僚(Phan Lieu)為乂安知府。為求立功,潘僚向明軍提供大量關於後陳軍兵力、將領與地勢的重要情報。
得到這些情報後,張輔決定進攻化州。儘管沐晟認為該地山高海廣、難以進攻,張輔仍堅決出兵,並聲稱生死都要在化州,如果不能攻下便無顏回朝。隨後即命水陸並進。
1413年9月,明軍抵達順州(Thuan Chau)。後陳將領阮帥與鄧容率軍鎮守太嘉江(Thai Gia),布置伏兵,並於夜間突襲張輔軍營。襲擊中,鄧容更跳上張輔之船欲將其生擒,但因不識其面貌,張輔及時跳入江中,乘小舟逃脫。此時後陳軍力已極為衰弱,張輔迅速反擊。鄧容軍無力抵抗,只得撤退。
史臣吳士連(Ngo Si Lien)在《大越史記全書》中評價說,鄧容與阮帥雖兵力甚少,仍敢以殘軍抗擊強大的明軍。鄧容夜襲敵營,使敵軍驚慌失措,焚毀其舟船與兵器,顯示出真正將領的才能。雖然最終失敗,但那是時勢所迫。在約五年的戰鬥中,他們始終堅持抗敵,即使屢遭不利仍不氣餒。這種忠義之心,令後世萬代仍可想像並敬仰。
死亡
1413年12月,自賽迦之戰敗後,後陳軍勢愈弱,無法再與明軍抗衡,只得藏匿於山林之中。阮景異與鄧容欲逃往暹羅(Xiem La),但被張輔追捕。阮景異怒罵張輔說:「本欲殺汝,如今反被汝擒!」怒罵不止,張輔遂將其處死,並取其肝而食。
重光帝逃往老撾(Lao Qua),阮帥逃往明靈(Minh Linh),亦皆被明軍捕獲。不久,陳朝皇帝與諸將皆被押往燕京(Yan Jing)。途中,重光帝投水自盡,鄧容與阮帥亦隨之投水殉節。
鄧容曾作《述懷》詩,後世廣為傳誦:
世事紛紜老歲借
天地無窮一醉中
貧賤逢時登亦易
英雄失路思更窮
肩擔宇宙扶君志
甲洗天河難破雲
國讎未報頭先白
磨劍映月幾多年
《大越史記全書》亦記載:當南北兩軍相持之時,鄧容暗伏步兵與象兵,至半夜突襲張輔營寨,並跳上其船欲擒之,但因不識其面而失手。張輔跳上小舟逃走。明軍潰敗過半,舟船兵器幾乎被焚毀,但阮帥未能及時合兵共擊。張輔知鄧容兵少,遂回軍反擊,鄧容只得敗退,士卒四散。
奉祀
玉震祠(Ngoc Chan)位於安治社(Yen Tri),距意安縣(Y Yen)中心約十餘公里。祠內供奉名將鄧容,相傳其曾幫助當地百姓築堤防洪並重建村社。
玉震祠建築呈「丁」字形,由前堂與禁宮兩部分組成。前堂五間,屬阮朝(Nguyen,十九世紀)建築風格,屋頂鋪南瓦,梁架採用價鐘式結構。後宮三間,隔一小院而建,採前刀後督式布局。其特色在於柱、梁、斗、座皆以石材雕刻而成,比例均衡,裝飾紋樣和諧,使整體建築具有較高的藝術價值。
參考資料
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.