Danh nhân Nguyễn Cảnh Chân (1355 – 1409)

Danh nhân Nguyễn Cảnh Chân (1355 – 1409)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Nguyễn Cảnh Chân (1355-1409) là danh tướng chống quân Minh thời Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người gốc vùng Đông Triều, Quảng Ninh, sau lại dời về làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An

Làm quan dưới triều Trần và triều Hồ

Nguyễn Cảnh Chân là một danh tướng và mưu sĩ nổi bật trong thời kỳ cuối nhà Trần và giai đoạn kháng chiến chống quân Minh của nhà Hậu Trần. Ông vốn có nguồn gốc từ vùng Đông Triều (nay thuộc Quảng Ninh), sau này dòng họ chuyển vào Nghệ An và lập tổ quán tại làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương.

Năm 1384, dưới triều Trần Phế Đế, Nguyễn Cảnh Chân đỗ Tiến sĩ trong khoa thi Thái học sinh niên hiệu Xương Phù thứ 8. Năm sau (1385), ông được tiến cử vào làm quan trong cơ quan mật nghị của triều đình nhà Trần tại kinh thành Thăng Long. Nhờ tài năng và uy tín, đến năm 1398 ông được phong hàm Đại tướng, giữ chức tham mưu quân sự thuộc Thiềm Mật viện, đồng thời được cử làm An phủ sứ Hoá Châu, phụ trách vùng đất từ Hoan Châu đến khu vực Bình Trị Thiên ngày nay. Thời điểm này, quyền lực thực tế của triều đình nhà Trần đã nằm trong tay Hồ Quý Ly.

Năm 1400, Hồ Quý Ly chính thức phế truất nhà Trần, lập ra nhà Hồ. Sau đó ông nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương và lui về làm Thái Thượng hoàng. Dưới triều nhà Hồ, Nguyễn Cảnh Chân vẫn tiếp tục được trọng dụng. Năm 1402, sau khi nhà Hồ mở rộng lãnh thổ về phía Nam và lập thêm bốn châu mới từ đất Chiêm Thành gồm Thăng, Hoa, Tư và Nghĩa, triều đình đặt thành Lộ Thăng Hoa và cử Nguyễn Cảnh Chân giữ chức An phủ sứ để trông coi. Tại vùng này, ông có quan hệ thân thiết với tướng Đặng Tất, hai người cùng gây dựng uy tín và thế lực trong khu vực.

Năm 1406, một người tên Trần Thiêm Bình mạo nhận là hậu duệ nhà Trần, sang cầu viện nhà Minh và tố cáo việc nhà Hồ cướp ngôi. Minh Thành Tổ Chu Đệ liền sai quân hộ tống Thiêm Bình về nước. Trước sức ép của nhà Minh, Hồ Hán Thương sai Nguyễn Cảnh Chân dâng biểu tạ tội và tỏ ý chấp nhận đón Thiêm Bình về tôn làm chúa. Nhà Minh còn sai hành nhân Niếp Thông mang sắc thư sang dụ rằng nếu làm như vậy thì sẽ phong thưởng lớn. Nguyễn Cảnh Chân cũng được cử đi cùng sứ giả để báo cáo việc đón Thiêm Bình.

Tuy nhiên, khi đoàn quân Minh đưa Thiêm Bình trở về đến biên giới vào tháng 4 năm 1406, triều đình nhà Hồ bất ngờ cho quân phục kích, bắt sống Thiêm Bình và đem về xử chém. Sự việc này khiến quan hệ với nhà Minh hoàn toàn đổ vỡ. Cuối năm 1406, nhà Minh phát động cuộc xâm lược Đại Việt quy mô lớn. Quân nhà Hồ nhanh chóng thất bại, cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị bắt giải về Trung Quốc, mở đầu thời kỳ đất nước rơi vào ách đô hộ của nhà Minh.

Trụ cột triều Hậu Trần

Sau khi nhà Hồ thất bại trước cuộc xâm lược của quân Minh, đất nước rơi vào ách đô hộ. Tháng 11 năm 1407, tôn thất nhà Trần là Trần Ngỗi dựng cờ khởi nghĩa tại Mô Độ (Ninh Bình), xưng đế, tức Giản Định Đế, mở đầu phong trào kháng chiến của nhà Hậu Trần. Lúc đầu lực lượng nghĩa quân còn yếu, nhanh chóng bị quân Minh đánh bại và phải rút vào Nghệ An.

Tại đây, Nguyễn Cảnh Chân cùng Đặng Tất và một số tướng lĩnh khác mang quân đến hội hợp, làm cho lực lượng Hậu Trần dần mạnh lên. Giản Định Đế phong Đặng Tất làm Quốc công, còn Nguyễn Cảnh Chân giữ chức Đồng tri Khu mật, phụ trách tham mưu quân sự. Từ đó, Đặng Tất thường trực tiếp chỉ huy quân đội ngoài mặt trận, còn Nguyễn Cảnh Chân giữ vai trò quân sư, bàn định kế sách cho triều đình.

Đầu năm 1408, quân Hậu Trần tiến đánh Nghệ An và Diễn Châu, tiêu diệt các thế lực địa phương theo hàng quân Minh. Tuy nhiên, khi tướng Minh Trương Phụ đem quân phản công, lực lượng nghĩa quân không đủ sức chống đỡ nên phải rút về Hóa Châu. Sau khi tạm ổn định tình hình, Trương Phụ rút quân về Đông Quan rồi đem phần lớn binh lực về nước.

Tháng 5 năm 1408, Giản Định Đế từ Hóa Châu kéo quân ra bắc, lần lượt giành lại Nghệ An rồi Tân Bình, mở rộng quyền kiểm soát từ Nghệ An đến Thuận Hóa. Sau đó quân Hậu Trần tiếp tục tiến quân ra phía bắc. Dưới sự điều động của Đặng Tất, quân từ nhiều lộ tập hợp lại, tiến ra vùng Trường Yên và tấn công nhiều cứ điểm quan trọng của quân Minh, đồng thời uy hiếp khu vực Đông Quan.

Trước tình hình đó, Minh Thành Tổ sai các tướng Mộc Thạnh và Lưu Tuấn đem quân sang tiếp viện. Hai bên giao chiến lớn tại bến Bô Cô (Nam Định) cuối năm 1408. Quân Hậu Trần giành thắng lợi vang dội, giết nhiều tướng Minh và khiến quân địch tổn thất nặng nề, buộc Mộc Thạnh phải rút tàn quân chạy vào thành Cổ Lộng.

Sau chiến thắng này, Giản Định Đế muốn nhân cơ hội tiến thẳng đánh chiếm Đông Quan. Tuy nhiên, Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân cho rằng cần tiêu diệt hết lực lượng quân Minh còn sót lại trước khi mở cuộc tấn công lớn. Hai bên tranh luận nhiều lần nhưng chưa thống nhất được kế hoạch. Trong lúc đó, quân Minh ở Đông Quan kịp thời kéo đến tiếp ứng, đưa Mộc Thạnh về cố thủ. Đặng Tất sau đó chia quân vây các thành và phát hịch kêu gọi các địa phương hưởng ứng kháng chiến.

Do bất đồng về chiến lược, Giản Định Đế dần sinh nghi và tỏ ra không hài lòng với Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân.

Bị hại

Tháng 3 năm 1409, khi Giản Định Đế đóng quân tại Hoàng Giang, nội nhân Nguyễn Quỹ cùng học sinh Nguyễn Mộng Trang bí mật dâng lời tâu rằng: Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất nắm quyền quá lớn, tự ý bổ nhiệm hay bãi chức quan lại, nếu không sớm kiềm chế thì sau này khó kiểm soát.

Nghe theo lời gièm pha, Giản Định Đế bắt đầu nghi ngờ hai vị tướng. Nhà vua lo sợ uy tín của họ quá cao, lại cho rằng họ từng làm quan dưới triều nhà Hồ nên có thể “nuôi ý khác”. Vì vậy, ông cho triệu cả hai đến yết kiến rồi sai võ sĩ giết chết Đặng Tất. Nguyễn Cảnh Chân chạy lên bờ nhưng cũng bị đuổi theo và chém chết.

Cái chết của hai tướng khiến nhiều người bất bình, đặc biệt là hai người con của họ là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị. Cho rằng cha mình bị giết oan, họ rời bỏ Giản Định Đế, sau đó tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi, tức Trùng Quang Đế, tiếp tục kháng chiến chống quân Minh.

Việc mất đi hai tướng lĩnh tài năng như Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đã làm lực lượng Hậu Trần suy yếu nghiêm trọng. Phong trào kháng chiến dần sa sút và cuối cùng bị quân Minh đàn áp hoàn toàn vào năm 1413.

Tưởng nhớ

Năm Mậu Thân (Thuận Thiên thứ nhất 1428), sau khi đánh xong quân Minh, Vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) đã ban chiếu truy phong cho hai Danh thần Đặng Tất & Nguyễn Cảnh Chân biển vàng tám chữ “Tiết liệt cương trung – Trung thần hiếu tử”. Truy phong Nguyễn Cảnh Chân chức “Tổng Tham mưu quân sự”, Đặng Tất chức “Đại quốc công”. Thái Bảo Nguyễn Cảnh Dị chức “Thụy Quốc Công”, còn Đặng Dung chức “Đồng bình Chương sự” nhằm ghi nhớ công lao to lớn của các ông.

Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) ban chiếu truy tặng Đặng Tất & Nguyễn Cảnh Chân “Quốc sỹ vô song, song quốc sỹ – Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng”.

Vua Tự Đức triều Nguyễn (1829-1883) vịnh câu thơ trên, đồng thời truy tặng Nguyễn Cảnh Chân & Đặng Tất bài thơ: “Dòng Trần chưa dứt một dây, Triệu Cơ còn rắp ra tay đồ hồi. Lại phù Giản Định lên ngôi, Cảnh Chân, Đặng Tất vua tôi hiệp tình. Mở cờ đánh với quân Minh, Phá đồn Cổ Lộng, đốt thành Bô Cô. Ví hay nhân thế tràng khu, May ra khôi phục cơ đồ cũng nên. Trùng hưng cơ tự chưa bền, Bỗng không đem kẻ tướng hiền giết đi. Cho nên hào kiệt bạn li, Cánh vây không có, còn gì mà mong” 1. Đồng thời truy tặng Nguyễn Cảnh Dị & Đặng Dung bài thơ:

Bài thứ nhất

Là bề tôi trung nghĩa triều Trần,
Thù cha chưa trả nợ nước còn.
Sách lược công danh chưa vẹn tròn,
Tấm lòng trung nghĩa vầng dương mộc,
Hỡi lũ giặc kia nhớ lời nguyền”.

Bài thứ hai

Quân Minh chiếm giữ Bắc Kỳ,
Vua Trần lánh ở Nam thùy một nơi.
Đặng Dung, Cảnh Dị mấy người,
Thế cùng dù có tướng tài cũng thua”.

Thờ tự

Sau khi qua đời, Nguyễn Cảnh Chân cùng người thân trong dòng họ được nhân dân và hậu duệ lập nơi thờ tự để tưởng nhớ công lao.

Hiện nay, tại xã Thanh Yên (huyện Thanh Chương, Nghệ An) có nhà thờ Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị, dân gian thường gọi là Đền Hữu. Ngôi đền nằm ngay cạnh tuyến quốc lộ, cách bến đò Ngọc Sơn khoảng một kilômét, là nơi con cháu trong họ và người dân địa phương đến hương khói tưởng niệm.

Ngoài ra, ông còn được thờ tại Đền Xuân Ổ, thuộc làng Xuân Liễu, xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Đây cũng là một địa điểm thờ tự quan trọng gắn với việc tôn vinh công lao của ông trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thời Hậu Trần.

Chú thích 

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, tr. 398

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Nguyen Canh Chan (1355–1409)

Serving as an Official under the Tran and Ho Dynasties

Nguyen Canh Chan was a prominent general and strategist during the late Tran dynasty and the resistance period of the Later Tran dynasty against the Ming invasion. He originally came from the Dong Trieu region (present-day Quang Ninh). Later, his lineage migrated to Nghe An and established their ancestral base at Ngoc Son village, Thanh Chuong district.

In 1384, during the reign of Tran Phe De, Nguyen Canh Chan passed the imperial examination as a Tien si in the Thai hoc sinh examination of the 8th year of the Xuong Phu era. The following year (1385), he was recommended to serve as an official in the confidential advisory council of the Tran court in the capital Thang Long. Thanks to his talent and reputation, by 1398 he was granted the rank of Dai tuong (Grand General) and served as a military adviser within the Thiem Mat vien, while also being appointed An phu su of Hoa Chau, responsible for the territory from Hoan Chau to the region corresponding to present-day Binh Tri Thien. At that time, real power within the Tran court had already fallen into the hands of Ho Quy Ly.

In 1400, Ho Quy Ly officially deposed the Tran dynasty and established the Ho dynasty. He later abdicated in favor of his son Ho Han Thuong and assumed the title of Retired Emperor. Under the Ho dynasty, Nguyen Canh Chan continued to be highly valued. In 1402, after the Ho dynasty expanded its territory southward and established four new prefectures from former Champa lands—Thang, Hoa, Tu, and Nghia—the court organized them into Lo Thang Hoa and appointed Nguyen Canh Chan as An phu su to administer the region. In this area he developed a close relationship with the general Dang Tat, and together they built considerable influence and prestige in the region.

In 1406, a man named Tran Thiem Binh falsely claimed to be a descendant of the Tran royal family and went to the Ming court seeking military assistance, accusing the Ho dynasty of usurping the throne. The Ming emperor Ming Chengzu Zhu Di therefore ordered troops to escort Thiem Binh back to Dai Viet. Under pressure from the Ming, Ho Han Thuong sent Nguyen Canh Chan to submit a memorial of apology and express acceptance of receiving Thiem Binh and installing him as ruler. The Ming court also sent the envoy Niep Thong carrying an imperial letter promising great rewards if this arrangement were carried out. Nguyen Canh Chan was assigned to accompany the envoy in order to report on the reception of Thiem Binh.

However, when the Ming escort force brought Thiem Binh back to the border in April 1406, the Ho court suddenly ambushed the convoy, captured Thiem Binh alive, and executed him. This incident completely destroyed relations with the Ming dynasty. At the end of 1406, the Ming launched a large-scale invasion of Dai Viet. The Ho forces were quickly defeated, and Ho Quy Ly together with Ho Han Thuong were captured and taken to China, marking the beginning of the period in which the country fell under Ming domination.

Pillar of the Later Tran Dynasty

After the defeat of the Ho dynasty by the Ming invasion, the country fell under foreign rule. In November 1407, Tran Ngoi, a member of the Tran royal family, raised the banner of rebellion at Mo Do (Ninh Binh) and proclaimed himself emperor, known as Gian Dinh De, initiating the resistance movement of the Later Tran dynasty. At first the rebel forces were weak and were soon defeated by the Ming army, forcing them to retreat into Nghe An.

There, Nguyen Canh Chan together with Dang Tat and several other generals brought their troops to join the movement, strengthening the Later Tran forces. Gian Dinh De appointed Dang Tat as Quoc cong, while Nguyen Canh Chan was appointed Dong tri Khu mat, responsible for military strategy and planning. From that point onward, Dang Tat usually commanded troops directly on the battlefield, while Nguyen Canh Chan served as chief strategist, advising the court on military plans.

At the beginning of 1408, the Later Tran forces attacked Nghe An and Dien Chau, eliminating local powers who had surrendered to the Ming. However, when the Ming general Truong Phu launched a counterattack, the rebel army could not withstand the pressure and retreated to Hoa Chau. After temporarily stabilizing the situation, Truong Phu withdrew his troops to Dong Quan and returned most of his forces to China.

In May 1408, Gian Dinh De marched northward from Hoa Chau, gradually retaking Nghe An and then Tan Binh, expanding control from Nghe An to Thuan Hoa. The Later Tran army then continued advancing north. Under Dang Tat’s command, troops from many regions gathered together and advanced toward Truong Yen, attacking several important Ming strongholds and threatening the area of Dong Quan.

In response, Ming Chengzu sent the generals Moc Thanh and Luu Tuan with reinforcements. A major battle took place at Bo Co wharf (Nam Dinh) at the end of 1408. The Later Tran forces achieved a resounding victory, killing many Ming generals and inflicting heavy losses on the enemy, forcing Moc Thanh to retreat with the remnants of his army into the citadel of Co Long.

After this victory, Gian Dinh De wished to take advantage of the momentum and attack Dong Quan directly. However, Dang Tat and Nguyen Canh Chan believed that the remaining Ming forces should first be completely eliminated before launching a major offensive. The two sides debated repeatedly but could not reach agreement. Meanwhile, Ming troops from Dong Quan arrived in time to reinforce Moc Thanh and allow him to hold his position. Dang Tat then divided the army to besiege various fortresses and issued proclamations calling for widespread resistance against the Ming.

Because of these strategic disagreements, Gian Dinh De gradually became suspicious and increasingly dissatisfied with Dang Tat and Nguyen Canh Chan.

Death

In March 1409, when Gian Dinh De was encamped at Hoang Giang, the palace attendant Nguyen Quy together with the scholar Nguyen Mong Trang secretly reported that Nguyen Canh Chan and Dang Tat held excessive power, appointing and dismissing officials on their own authority, and that if they were not restrained early it would be difficult to control them later.

Influenced by this slander, Gian Dinh De began to suspect the two generals. The emperor feared their growing prestige and also believed that since they had once served under the Ho dynasty they might harbor “other intentions.” Therefore he summoned both of them for an audience and ordered his guards to kill Dang Tat. Nguyen Canh Chan attempted to escape to the riverbank but was pursued and also beheaded.

The deaths of the two generals angered many people, especially their sons Dang Dung and Nguyen Canh Di. Believing that their fathers had been unjustly killed, they abandoned Gian Dinh De and later supported Tran Quy Khoang as emperor, known as Trung Quang De, continuing the resistance against the Ming.

The loss of two talented commanders such as Dang Tat and Nguyen Canh Chan severely weakened the Later Tran forces. The resistance movement gradually declined and was finally completely suppressed by the Ming in 1413.

Commemoration

In the year Mau Than (the first year of the Thuan Thien era, 1428), after defeating the Ming army, King Le Thai To (Le Loi) issued an edict posthumously honoring the two eminent ministers Dang Tat and Nguyen Canh Chan with a golden plaque bearing eight characters: “Tiet liet cuong trung – Trung than hieu tu.” Nguyen Canh Chan was posthumously granted the title Tong tham muu quan su, while Dang Tat was granted the title Dai quoc cong. Nguyen Canh Di was posthumously granted the title Thuy Quoc Cong, and Dang Dung was granted the title Dong binh Chuong su, in order to commemorate their great contributions.

King Le Thanh Tong (1442–1497) later issued an edict praising Dang Tat and Nguyen Canh Chan as “Quoc sy vo song, song quoc sy – Anh hung bat nhi, nhi anh hung.”

Emperor Tu Duc of the Nguyen dynasty (1829–1883) composed verses praising them and also wrote poems honoring Nguyen Canh Chan and Dang Tat, recalling their efforts in supporting Gian Dinh De, raising the banner against the Ming, and lamenting that the killing of loyal and capable generals caused the Later Tran restoration to fail.

Worship

After his death, Nguyen Canh Chan and members of his lineage were commemorated by descendants and local people who established places of worship in remembrance of his contributions.

Today, in Thanh Yen commune (Thanh Chuong district, Nghe An), there is a temple dedicated to Nguyen Canh Chan and Nguyen Canh Di, commonly known as Den Huu. The temple stands near the national highway, about one kilometer from the Ngoc Son ferry landing, and serves as a place where descendants and local residents come to offer incense and remembrance.

In addition, he is also worshiped at Den Xuan O, located in Xuan Lieu village, Nam Anh commune, Nam Dan district, Nghe An. This site is another important place of worship associated with honoring his contributions in the Later Tran resistance against the Ming army.

References

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Pháp

Nguyen Canh Chan (1355–1409)

Service sous les dynasties Tran et Ho

Nguyen Canh Chan fut un éminent général et stratège de la fin de la dynastie Tran ainsi que de la période de résistance contre les armées Ming sous la dynastie Hau Tran. Originaire de la région de Dong Trieu (aujourd’hui dans la province de Quang Ninh), sa lignée se déplaça par la suite vers Nghe An et établit son foyer ancestral dans le village de Ngoc Son, district de Thanh Chuong.

En 1384, sous le règne de Tran Phe De, Nguyen Canh Chan réussit l’examen de Tien si lors de la session des Thai hoc sinh de la 8ᵉ année de l’ère Xuong Phu. L’année suivante (1385), il fut recommandé pour servir dans l’organe de délibération secrète de la cour Tran à la capitale Thang Long. Grâce à ses capacités et à sa réputation, il fut promu en 1398 au rang de Dai tuong, exerçant des fonctions de conseiller militaire au sein du Thiem Mat vien, et fut en même temps nommé An phu su de Hoa Chau, chargé de l’administration d’un territoire s’étendant de Hoan Chau jusqu’à la région correspondant aujourd’hui à Binh Tri Thien. À cette époque, le pouvoir réel de la cour Tran était déjà passé entre les mains de Ho Quy Ly.

En 1400, Ho Quy Ly déposa officiellement la dynastie Tran et fonda la dynastie Ho. Il transmit ensuite le trône à son fils Ho Han Thuong et se retira comme Thai Thuong hoang. Sous la dynastie Ho, Nguyen Canh Chan continua néanmoins à être hautement estimé. En 1402, après l’expansion territoriale vers le sud et la création de quatre nouvelles préfectures à partir des terres du Champa – Thang, Hoa, Tu et Nghia –, la cour établit la route administrative de Thang Hoa et nomma Nguyen Canh Chan An phu su pour la gouverner. Dans cette région, il entretint des relations étroites avec le général Dang Tat ; tous deux y consolidèrent leur prestige et leur influence.

En 1406, un homme nommé Tran Thiem Binh se présenta faussement comme descendant de la dynastie Tran et se rendit auprès de la dynastie Ming pour demander une intervention, accusant la dynastie Ho d’avoir usurpé le trône. L’empereur Ming Chengzu, Zhu Di, envoya alors des troupes escorter Thiem Binh de retour au pays. Sous la pression des Ming, Ho Han Thuong ordonna à Nguyen Canh Chan de présenter un mémoire d’excuses et d’exprimer l’acceptation d’accueillir Thiem Binh pour le reconnaître comme souverain. La cour Ming envoya également l’émissaire Niep Thong avec un édit promettant de grandes récompenses si cette demande était exécutée. Nguyen Canh Chan fut désigné pour accompagner l’émissaire afin de rendre compte de la réception de Thiem Binh.

Cependant, lorsque l’escorte Ming ramena Thiem Binh à la frontière en avril 1406, la cour Ho organisa soudainement une embuscade, captura Thiem Binh vivant et le fit exécuter. Cet événement provoqua une rupture complète avec les Ming. À la fin de l’année 1406, la dynastie Ming lança une invasion à grande échelle de Dai Viet. L’armée Ho fut rapidement vaincue, et Ho Quy Ly ainsi que Ho Han Thuong furent capturés et emmenés en Chine, ouvrant une période de domination Ming sur le pays.

Pilier de la dynastie Hau Tran

Après la défaite de la dynastie Ho face à l’invasion Ming, le pays tomba sous domination étrangère. En novembre 1407, un membre de la famille impériale Tran, Tran Ngoi, leva l’étendard de la révolte à Mo Do (Ninh Binh), se proclama empereur sous le nom de Gian Dinh De, marquant le début du mouvement de résistance de la dynastie Hau Tran. Au départ, les forces insurgées étaient faibles ; elles furent rapidement battues par les troupes Ming et durent se retirer vers Nghe An.

C’est alors que Nguyen Canh Chan, accompagné de Dang Tat et d’autres généraux, vint se joindre à l’insurrection, ce qui renforça progressivement les forces Hau Tran. Gian Dinh De nomma Dang Tat Quoc cong, tandis que Nguyen Canh Chan reçut la fonction de Dong tri Khu mat, chargé des affaires de stratégie militaire. Dès lors, Dang Tat dirigeait habituellement les troupes sur le champ de bataille, tandis que Nguyen Canh Chan jouait le rôle de conseiller militaire, élaborant les stratégies pour la cour.

Au début de l’année 1408, l’armée Hau Tran attaqua Nghe An et Dien Chau, éliminant les forces locales alliées aux Ming. Cependant, lorsque le général Ming Zhang Fu mena une contre-offensive, les insurgés ne purent résister et se replièrent vers Hoa Chau. Après avoir temporairement stabilisé la situation, Zhang Fu retourna à Dong Quan et rapatria la majeure partie de ses troupes.

En mai 1408, Gian Dinh De quitta Hoa Chau et marcha vers le nord, reprenant successivement Nghe An puis Tan Binh, étendant le contrôle des forces Hau Tran de Nghe An jusqu’à Thuan Hoa. L’armée poursuivit ensuite sa progression vers le nord. Sous la direction de Dang Tat, les troupes provenant de diverses régions se regroupèrent et avancèrent vers Truong Yen, attaquant plusieurs positions importantes des Ming et menaçant en même temps la région de Dong Quan.

Face à cette situation, l’empereur Ming Chengzu envoya les généraux Moc Thanh et Luu Tuan avec des renforts. Les deux armées s’affrontèrent dans une grande bataille au débarcadère de Bo Co (Nam Dinh) à la fin de l’année 1408. L’armée Hau Tran remporta une victoire éclatante, tuant plusieurs généraux Ming et infligeant de lourdes pertes à l’ennemi, contraignant Moc Thanh à se réfugier avec les restes de ses troupes dans la citadelle de Co Long.

Après cette victoire, Gian Dinh De souhaita profiter de l’occasion pour attaquer directement Dong Quan. Toutefois, Dang Tat et Nguyen Canh Chan estimèrent qu’il fallait d’abord éliminer toutes les forces Ming restantes avant de lancer une offensive majeure. Les discussions entre eux se répétèrent sans aboutir à une décision commune. Pendant ce temps, les troupes Ming de Dong Quan arrivèrent à temps pour secourir Moc Thanh et l’aider à se retrancher. Dang Tat divisa ensuite ses troupes pour assiéger les citadelles et lança un appel aux régions locales afin qu’elles rejoignent la résistance.

En raison de ces divergences stratégiques, Gian Dinh De commença progressivement à se méfier de Dang Tat et de Nguyen Canh Chan.

Assassinat

En mars 1409, alors que Gian Dinh De campait à Hoang Giang, l’eunuque Nguyen Quy et l’étudiant Nguyen Mong Trang présentèrent secrètement un rapport affirmant que Nguyen Canh Chan et Dang Tat détenaient trop de pouvoir, nommaient et destituaient les fonctionnaires de leur propre initiative, et qu’il serait difficile de les contrôler à l’avenir s’ils n’étaient pas rapidement limités.

Influencé par ces calomnies, Gian Dinh De se mit à soupçonner les deux généraux. Craignant leur immense prestige et pensant qu’ils avaient peut-être conservé des « intentions cachées » puisqu’ils avaient autrefois servi sous la dynastie Ho, il les convoqua à une audience et ordonna aux gardes d’exécuter Dang Tat. Nguyen Canh Chan tenta de fuir vers la rive, mais fut poursuivi et tué à son tour.

La mort de ces deux généraux provoqua une grande indignation, en particulier chez leurs fils Dang Dung et Nguyen Canh Di. Considérant que leurs pères avaient été injustement exécutés, ils quittèrent Gian Dinh De et proclamèrent ensuite Tran Quy Khoang empereur sous le nom de Trung Quang De, poursuivant la résistance contre les Ming.

La perte de deux chefs militaires aussi talentueux que Dang Tat et Nguyen Canh Chan affaiblit gravement les forces Hau Tran. Le mouvement de résistance déclina progressivement et fut finalement complètement écrasé par les Ming en 1413.

Commémoration

En l’année Mau Than (première année de l’ère Thuan Thien, 1428), après la défaite des Ming, le roi Le Thai To (Le Loi) publia un édit conférant à Dang Tat et Nguyen Canh Chan une tablette d’or portant huit caractères : « Tiet liet cuong trung – Trung than hieu tu ».

Nguyen Canh Chan reçut à titre posthume le titre de Tong tham muu quan su, tandis que Dang Tat fut honoré du titre de Dai quoc cong. Thai Bao Nguyen Canh Di reçut le titre de Thuy Quoc Cong, et Dang Dung celui de Dong binh Chuong su, afin de commémorer leurs grands mérites.

Le roi Le Thanh Tong (1442–1497) conféra ensuite aux deux hommes le titre honorifique : « Quoc sy vo song, song quoc sy – Anh hung bat nhi, nhi anh hung ».

Sous la dynastie Nguyen, l’empereur Tu Duc (1829–1883) composa également un poème en leur hommage et en dédia un autre à Nguyen Canh Di et Dang Dung, célébrant leur loyauté et leur lutte contre l’invasion Ming.

Culte

Après sa mort, Nguyen Canh Chan et plusieurs membres de sa lignée furent honorés par des lieux de culte établis par les habitants et ses descendants.

Aujourd’hui, dans la commune de Thanh Yen (district de Thanh Chuong, Nghe An), se trouve un temple dédié à Nguyen Canh Chan et Nguyen Canh Di, que la population appelle communément Den Huu. Le temple est situé près de la route nationale, à environ un kilomètre du débarcadère de Ngoc Son, et constitue un lieu où les descendants et les habitants viennent rendre hommage.

Il est également vénéré au Den Xuan O, situé dans le village de Xuan Lieu, commune de Nam Anh, district de Nam Dan, province de Nghe An. Ce sanctuaire est également un lieu important associé à la commémoration de ses contributions à la résistance contre les armées Ming à l’époque de la dynastie Hau Tran.

Références.

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Trung

名人阮景真(Nguyen Canh Chan,1355–1409)

在陈朝与胡朝为官

阮景真(Nguyen Canh Chan)是陈朝末期以及后陈朝抗击明军时期的一位著名将领与谋士。他原籍东朝(Dong Trieu,今属广宁省),后来其家族迁入乂安,并在清章县玉山村(Ngoc Son)建立祖居。

1384年,在陈废帝(Tran Phe De)在位时期,阮景真考中进士,为昌符八年(Xuong Phu)太学生科。翌年(1385),他被荐入京城升龙(Thang Long)陈朝朝廷密议机构任职。凭借才能与声望,到1398年他被授大将军衔,任檐密院(Thiem Mat vien)军事参谋,并被派为化州(Hoa Chau)安抚使,负责管理从欢州(Hoan Chau)到今日平治天地区的广阔地域。当时陈朝的实际权力已掌握在胡季犛(Ho Quy Ly)手中。

1400年,胡季犛正式废黜陈朝,建立胡朝。不久又把皇位让给其子胡汉苍(Ho Han Thuong),自己退为太上皇。胡朝时期,阮景真仍然受到重用。1402年,在胡朝向南扩张,从占城(Chiem Thanh)取得升、华、思、义四州后,朝廷设升华路(Thang Hoa),并任命阮景真为安抚使加以管理。在该地区,他与将领邓悉(Dang Tat)关系密切,两人在当地共同建立威望与势力。

1406年,一名叫陈添平(Tran Thiem Binh)的人冒称陈朝后裔,前往明朝求援并控诉胡朝篡位。明成祖朱棣(Chu De)于是派兵护送添平回国。面对明朝压力,胡汉苍命阮景真上表谢罪,并表示愿迎陈添平为主。明朝还派行人聂通(Niep Thong)携诏书前来诱示,称若如此将赐以重赏。阮景真也被派随使者同行,负责报告迎接陈添平之事。

然而,1406年四月,当明军护送陈添平至边境时,胡朝突然设伏袭击,俘获陈添平并将其斩首。此举使胡朝与明朝关系彻底破裂。同年年底,明朝发动大规模入侵大越。胡朝军队迅速失败,胡季犛与胡汉苍父子被俘押往中国,越南自此进入明朝统治时期。

后陈朝的支柱

胡朝失败后,大越陷入明朝统治。1407年十一月,陈朝宗室陈頠(Tran Ngoi)在谟渡(Mo Do,今宁平)举兵称帝,即简定帝(Gian Dinh De),开启后陈朝抗明运动。起初义军力量薄弱,很快被明军击败,被迫退入乂安。

此时阮景真与邓悉及数位将领率军前来会合,使后陈军力量逐渐壮大。简定帝封邓悉为国公,阮景真任同知枢密(Dong tri Khu mat),主管军事谋划。此后邓悉多亲自率军作战,而阮景真则担任军师,筹划战略。

1408年初,后陈军进攻乂安与演州(Dien Chau),消灭投降明军的地方势力。但当明将张辅(Truong Phu)率军反击时,义军难以抵抗,只得退回化州。待局势稍稳后,张辅撤回东关(Dong Quan),并把大部分兵力调回中国。

1408年五月,简定帝自化州率军北上,先后收复乂安与新平(Tan Binh),控制范围扩展至顺化(Thuan Hoa)。随后后陈军继续北进。在邓悉调度下,各路军队汇集于长安(Truong Yen)一带,攻打多处明军据点,并威胁东关地区。

明成祖遂派将领沐晟(Moc Thanh)与刘俊(Luu Tuan)率军增援。双方于1408年末在博孤渡(Bo Co,今南定)展开大战。后陈军取得重大胜利,斩杀多名明将,使敌军损失惨重,沐晟被迫率残军退入古弄城(Co Long)。

战后简定帝欲乘胜直攻东关,但邓悉与阮景真认为应先歼灭残余明军再发动总攻。双方多次争论未能统一。此时东关明军及时赶来接应,将沐晟救回坚守。随后邓悉分兵围城,并发布檄文号召各地响应抗战。

由于战略分歧,简定帝逐渐对邓悉与阮景真产生猜疑与不满。

被害

1409年三月,简定帝驻军黄江(Hoang Giang)时,内人阮癸(Nguyen Quy)与学生阮梦庄(Nguyen Mong Trang)密奏称:阮景真与邓悉权势过大,自行任免官员,如不加限制,日后难以控制。

简定帝听信谗言后开始怀疑两位将领。由于二人威望极高,又曾在胡朝任职,皇帝担心他们“另怀异志”。于是召见二人,先命武士杀死邓悉。阮景真逃至岸上,但也被追上斩杀。

两位将领之死引起广泛不满,尤其是他们的儿子邓容(Dang Dung)与阮景异(Nguyen Canh Di)。二人认为父亲被冤杀,遂离开简定帝,后来拥立陈季扩(Tran Quy Khoang)为帝,即重光帝(Trung Quang De),继续抗明。

失去邓悉与阮景真两位栋梁之后,后陈军力量大为削弱。抗明运动逐渐衰落,最终在1413年被明军彻底镇压。

纪念

1428年戊申年(顺天元年),在击败明军之后,黎太祖(黎利,Le Loi)下诏追封邓悉与阮景真,赐金匾八字:“节烈刚忠——忠臣孝子”。并追赠阮景真为“军事总参谋”,邓悉为“大国公”。同时追封阮景异(Nguyen Canh Di)为“瑞国公”,邓容为“同平章事”,以表彰他们的功绩。

黎圣宗(Le Thanh Tong,1442–1497)又追赠二人称号:“国士无双,双国士;英雄不二,二英雄”。

阮朝嗣德帝(Tu Duc,1829–1883)曾吟咏诗句追赞阮景真与邓悉,并另作诗追赠阮景异与邓容,以表彰其忠义精神。

祭祀

阮景真去世后,族人和百姓为其建立祠庙以纪念功绩。

今在乂安省清章县清安社(Thanh Yen)有阮景真与阮景异祠堂,民间称为右庙(Den Huu)。该庙位于国道旁,距玉山渡口(Ngoc Son)约一公里,是后裔与当地居民祭祀纪念之所。

此外,他还被供奉于乂安省南坛县南英社春Ổ祠(Den Xuan O)。此处亦为纪念其在后陈时期抗明功绩的重要祭祀地点。

参考资料

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (15)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)