Võ Tánh (1768 – 1801)

Võ Tánh (1768 – 1801)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Võ Tánh sinh ra tại huyện Phước An, tỉnh Biên Hòa, nay thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau đó, gia đình ông chuyển đến sinh sống tại huyện Bình Dương, thuộc vùng Gia Định trước đây.

Do không chấp nhận thần phục chính quyền Tây Sơn, trong khoảng thời gian từ năm 1783 đến năm 1788, Võ Tánh cùng với người anh là Võ Nhàn đứng ra tập hợp lực lượng chống lại. Hai ông tổ chức nghĩa quân tại thôn Vườn Trầu, thuộc khu vực Hóc Môn ngày nay, lấy tên là Nghĩa quân Kiến Hòa, trong sử sách thường gọi là Kiến Hòa đạo. Nghĩa quân giương cờ Khổng Tước Nguyên Võ (Khổng Tước Nguyên là tên chữ của vùng Gò Công), làm biểu tượng tập hợp lực lượng. Sau khi lực lượng ngày càng đông và mạnh, họ tiến quân kiểm soát vùng Gò Công và cho xây thành Vạn Thắng để làm căn cứ phòng thủ, tiếp tục chiến đấu chống lại lực lượng Tây Sơn.

Đi theo chúa Nguyễn

Năm 1788, Võ Tánh nhận lời mời của chúa Nguyễn Phúc Ánh và đến Nước Xoáy (Sa Đéc) để hội quân. Sau khi gia nhập lực lượng của chúa Nguyễn, ông được phong chức Khâm sai Chưởng Cơ Tiên Phong Doanh, trở thành một trong những tướng lĩnh quan trọng trong quân đội. Đồng thời, để thắt chặt quan hệ và thể hiện sự tin cậy, chúa Nguyễn còn gả em gái là Ngọc Du cho ông.

Đến năm 1790, Võ Tánh chỉ huy quân tiến đánh thành Diên Khánh. Trong trận này, ông tổ chức tấn công và chiếm được phủ thành, đồng thời đánh bại tướng Tây Sơn là Đào Văn Hồ. Chiến thắng này góp phần nâng cao uy tín của ông trong hàng ngũ tướng lĩnh của chúa Nguyễn.

Năm 1793, nhờ những chiến công đạt được, Võ Tánh được thăng chức Khâm sai Quản Soái Hậu Quân Doanh, Bình Tây Tham Thắng Tướng Quân Hộ Giá. Khi được giao trấn giữ thành Diên Khánh, ông tiếp tục thể hiện tài chỉ huy. Năm 1794, quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu kéo đến vây thành, nhưng Võ Tánh đã dùng mưu để chống giữ và buộc đối phương phải rút lui. Sau sự kiện này, ông được phong tước Quận Công và kiêm giữ chức Đại tướng quân.

Đến năm 1797, ông theo Nguyễn Phúc Ánh tiến quân ra đánh vùng Quảng Nam. Trong quá trình tiến quân, khi vượt qua sông Mỹ Khê thuộc Quảng Ngãi, ông đã đánh bại lực lượng Tây Sơn do Đô đốc Nguyễn Văn Giáp chỉ huy.

Năm 1799, ông tiếp tục theo chúa Nguyễn tiến đánh Quy Nhơn. Khi quân tiến vào cửa biển Thị Nại, Võ Tánh cùng Chưởng Hữu Quân Nguyễn Huỳnh Đức phối hợp tấn công và đánh bại quân Tây Sơn tại Thị Giả. Sau đó, trong trận đánh ở cầu Tân An, họ tiêu diệt được Đô đốc Tây Sơn Nguyễn Thiệt. Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân Nguyễn, Đô đốc Lê Chất xin hàng và trở thành thuộc tướng của Võ Tánh. Tiếp đó, ông chặn đánh quân của Thái phó Tây Sơn Lê Văn Đang tại làng Kha Đạo, bắt được khoảng 6.000 quân cùng 50 con voi chiến. Trước tình thế bất lợi, các tướng Tây Sơn là Lê Văn Thanh và Nguyễn Đại Phát phải mở cửa thành Quy Nhơn xin hàng. Sau khi chiếm được thành, chúa Nguyễn đổi tên thành Quy Nhơn thành thành Bình Định, vốn là kinh đô Chà Bàn cũ của người Chăm.

Tử trận

Năm 1801, khi đại quân của chúa Nguyễn Phúc Ánh rút về Gia Định, thành Bình Định được giao cho Võ Tánh cùng Lễ bộ Tham tri Ngô Tùng Châu trấn giữ. Ngay sau đó, đại quân Tây Sơn do Thái phó Trần Quang Diệu và tướng Võ Văn Dũng chỉ huy kéo đến bao vây thành. Quân Tây Sơn tổ chức vây hãm rất chặt chẽ: Trần Quang Diệu cho đắp lũy bao quanh thành và chia quân canh giữ bốn phía, còn Võ Văn Dũng thì chỉ huy thủy quân kiểm soát cửa biển Thị Nại. Cuộc vây hãm kéo dài suốt 14 tháng, khiến tình hình trong thành ngày càng khó khăn.

Cũng trong năm đó, Nguyễn Phúc Ánh cùng các tướng Lê Văn Duyệt và Võ Di Nguy đem đại binh ra tìm cách giải vây cho thành Bình Định. Quân Nguyễn đã giành thắng lợi lớn trong trận thủy chiến tại Thị Nại, tiêu diệt phần lớn thủy quân Tây Sơn. Đây được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong cuộc chiến giữa hai lực lượng Nguyễn và Tây Sơn. Tuy nhiên, dù thắng trận trên biển, quân Nguyễn vẫn không thể phá được vòng vây trên bộ, nên thành Bình Định vẫn bị quân Tây Sơn siết chặt.

Trong tình thế đó, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu bí mật sai người đem thư ra ngoài cho Nguyễn Phúc Ánh, khuyên ông nên chuyển hướng tiến quân ra đánh Phú Xuân. Hai ông nhận trách nhiệm tiếp tục cố thủ trong thành nhằm cầm chân lực lượng Tây Sơn. Chúa Nguyễn chấp nhận kế sách này, và đến tháng 5 năm Tân Dậu (1801) đã tiến đánh và chiếm được Phú Xuân.

Khi nghe tin Phú Xuân thất thủ, Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng lập tức sai quân kéo ra cứu viện. Tuy nhiên, khi quân đến vùng Quảng Nam thì bị chặn đường, buộc phải quay lại. Tức giận, Trần Quang Diệu tăng cường tấn công thành Bình Định ngày đêm. Lúc này, trong thành lương thực cạn dần, binh sĩ kiệt sức. Có người khuyên Võ Tánh nên tìm cách phá vòng vây để thoát ra ngoài, nhưng ông kiên quyết từ chối. Ông cho rằng mình đã nhận mệnh lệnh giữ thành thì phải sống chết cùng thành, nếu bỏ thành trốn đi sẽ không còn mặt mũi nào đối diện với chúa thượng.

Sau đó, Võ Tánh viết thư gửi cho Trần Quang Diệu, xin tha chết cho toàn bộ quân sĩ trong thành. Khi mọi việc đã sắp đặt xong, ông sai thuộc hạ chất rơm củi dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào rồi tự châm ngòi để tuẫn tiết. Ngay sau đó, Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự vẫn. Sự việc xảy ra vào ngày 27 tháng 5 năm Tân Dậu, tức ngày 7 tháng 7 năm 1801.

Khi chiếm được thành, Trần Quang Diệu tỏ ra xúc động trước tinh thần trung dũng của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Ông ra lệnh cho quân sĩ tẩm liệm và chôn cất hai người một cách tử tế, trong đó Võ Tánh được an táng theo nghi lễ dành cho bậc vương công. Đồng thời, theo đúng nguyện vọng trước đó của Võ Tánh, Trần Quang Diệu cũng không giết hại các binh sĩ đã đầu hàng của quân Nguyễn.

Đến năm 1802, khi Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được Phú Xuân và thế lực Tây Sơn ngày càng suy yếu, tình hình chiến sự tiếp tục thay đổi. Sau khi mất thêm Trấn Ninh, các tướng Tây Sơn như Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng buộc phải rút khỏi thành và theo đường thượng đạo qua Lào để quay về cứu vua Cảnh Thịnh.

Gia quyến

Võ Tánh và Ngọc Du chỉ có với nhau hai con gái và một người con trai tên là Võ Khánh, làm tới chức Khinh xa đô úy. Con trai Khánh là Mỹ sau này lấy Lộc Thành công chúa Nguyễn Phúc Uyển Diễm, con gái thứ ba của vua Minh Mạng; hai người có với nhau một con gái Võ Thị, đời sau đó không thấy sử sách ghi chép gì thêm.

Tưởng niệm

Vua Gia Long truy tặng Võ Tánh là Dực vận công thần Thái úy Quốc công. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), truy phong ông là Hoài Quốc công.

Trước cái chết anh dũng của Võ Tánh, người dân Bình Định đã lưu truyền câu hát dưới đây:

Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan Hậu thủ thiềng (thành) ba năm!”

Vợ Võ Tánh là công chúa Ngọc Du, khóc ông bằng bài thơ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè bình địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!”

Ở Sài gòn trước năm 1975 (lúc đó gọi là Sài Gòn và Gia Định) có tới hai con đường mang tên Võ Tánh. Đường Võ Tánh của Đô thành Sài Gòn cũ hiện nay là một đoạn của đường Nguyễn Trãi (đoạn đi qua quận 1 từ Ngã sáu Phù Đổng đến đường Nguyễn Văn Cừ hiện nay (đường Cộng Hòa cũ)), còn đoạn đi qua quận 5 trước năm 1975 vẫn mang tên đường Nguyễn Trãi), còn đường Võ Tánh của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Hoàng Văn Thụ ở quận Phú Nhuận và quận Tân Bình.

Tại Mỹ Tho vẫn còn con đường mang tên Võ Tánh nằm ở khu vục chợ Mỹ Tho (chợ Hàng Bông cũ). Ở Biên Hòa vẫn còn con đường Võ Tánh dọc theo chợ Biên Hòa cũ. Và ở Thành phố Cần Thơ đường Võ Tánh nằm ở quận Cái Răng. Tại trung tâm huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long đường Võ Tánh cũng đã tồn tại hơn 60 năm qua.

Lăng mộ

Lăng mộ Võ Tánh tọa lạc tại 19 Hồ Văn Huê, phường Đức Nhuận (quận Phú Nhuận cũ), TP.HCM. Đây là một trong những mộ cổ tiêu biểu, mang đậm kiến trúc Nam bộ cuối thế kỷ 19.

Năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, vua Gia Long đã lập đền thờ Võ Tánh ngay tại nền cũ lầu Bát Giác (thành Bình Định) và truy tặng ông hàm Dực Quận công thần, Phụ quốc Thượng tướng quân, Quận công. Đến đời Minh Mạng, ông tiếp tục được truy phong Hoài Quốc công, người đời sau quen gọi là Võ Quốc Công.

Khu lăng mộ Võ Tánh được xây dựng năm 1802, tiêu biểu cho kiến trúc mộ cổ vùng Nam bộ với kết cấu vững chắc, hoa văn phong phú, chạm khắc tinh xảo. Riêng phần mộ cổ có diện tích khoảng 180 m2, xây bằng hợp chất vôi, mật ong, nhựa ô dước, trong đó ô dước là thành phần chính, tạo nên độ bền đặc biệt.

Khu lăng mộ Võ Tánh trước đây nằm trong khu vực quân sự, cho đến những năm 1990 mới được bàn giao cho UBND phường 9, quận Phú Nhuận. Từ năm 2006-2007, diện tích lăng mộ được quy hoạch lại, đền thờ và mộ được trùng tu, nâng cấp, đồng thời xây dựng thêm nhà bảo vệ và tường rào bảo vệ.

Ngày 5-6-2020, UBND quận Phú Nhuận đã tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích cấp TP đối với di tích kiến trúc nghệ thuật lăng Võ Tánh. Kể từ ngày này, khu lăng mộ Võ Tánh sẽ mở cửa đón khách tham quan và lễ bái từ 7 giờ đến 21 giờ hằng ngày.

Tài liệu tham khảo

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện. Nhà xuất bản Văn học, 2004.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu (bản dịch, trong bài gọi tắt là Toát yếu). Nhà xuất bản Văn học, 2002.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Vo Tanh (1768–1801)

Background
Vo Tanh was born in Phuoc An district, Bien Hoa province, now part of Ba Ria – Vung Tau province. Later, his family moved to live in Binh Duong district, which belonged to the Gia Dinh region in the past.

Because he did not accept submitting to the Tay Son government, between 1783 and 1788 Vo Tanh, together with his elder brother Vo Nhan, gathered forces to resist them. They organized an insurgent force at Vuon Trau hamlet, in what is now Hoc Mon area, and named it the Kien Hoa Volunteer Army, referred to in historical records as the Kien Hoa command. The force raised the flag of Khong Tuoc Nguyen Vo (Khong Tuoc Nguyen was the literary name of the Go Cong region) as a symbol to rally supporters. As the force gradually grew stronger, they advanced to control the Go Cong area and built Van Thang citadel as a defensive base, continuing their struggle against the Tay Son forces.

Following the Nguyen Lord

In 1788, Vo Tanh accepted the invitation of Lord Nguyen Phuc Anh and went to Nuoc Xoay (Sa Dec) to join forces. After joining the Nguyen army, he was appointed Kham sai Chuong Co of the Tien Phong Camp, becoming one of the important generals in the army. At the same time, to strengthen ties and show trust, Nguyen Phuc Anh married his younger sister Ngoc Du to him.

In 1790, Vo Tanh commanded troops to attack Dien Khanh citadel. In this battle, he organized an assault, captured the citadel, and defeated the Tay Son general Dao Van Ho. This victory increased his reputation among the generals serving Nguyen Phuc Anh.

In 1793, thanks to his achievements, Vo Tanh was promoted to Kham sai Quan Soai of the Hau Quan Camp, Binh Tay Tham Thang Tuong Quan Ho Gia. When assigned to guard Dien Khanh citadel, he continued to demonstrate his command ability. In 1794, Tay Son troops led by Tran Quang Dieu came to besiege the citadel, but Vo Tanh used strategy to defend it and forced the enemy to withdraw. After this event, he was granted the title Quan Cong and concurrently held the position of Dai tuong quan.

In 1797, he accompanied Nguyen Phuc Anh in a campaign to attack the Quang Nam region. During the advance, while crossing the My Khe River in Quang Ngai, he defeated Tay Son forces commanded by Admiral Nguyen Van Giap.

In 1799, he continued to follow the Nguyen lord in the campaign to capture Quy Nhon. When the army advanced to the Thi Nai estuary, Vo Tanh, together with Commander of the Right Army Nguyen Huynh Duc, coordinated an attack and defeated Tay Son forces at Thi Gia. Later, in the battle at Tan An bridge, they killed Tay Son Admiral Nguyen Thiet. Under the strong offensive of the Nguyen army, Admiral Le Chat surrendered and became a subordinate of Vo Tanh. He then intercepted the forces of Tay Son Grand Preceptor Le Van Dang at Kha Dao village, capturing about 6,000 soldiers and 50 war elephants. Facing an unfavorable situation, Tay Son generals Le Van Thanh and Nguyen Dai Phat opened the gates of Quy Nhon citadel and surrendered. After capturing the citadel, Nguyen Phuc Anh renamed Quy Nhon citadel as Binh Dinh citadel, which had previously been the old capital Cha Ban of the Cham people.

Death in Battle

In 1801, when the main army of Nguyen Phuc Anh withdrew to Gia Dinh, Binh Dinh citadel was entrusted to Vo Tanh and Ngo Tung Chau, Vice Minister of the Ministry of Rites, for defense. Soon afterward, the main Tay Son army led by Grand Preceptor Tran Quang Dieu and general Vo Van Dung arrived and laid siege to the citadel. The Tay Son forces organized a very tight siege: Tran Quang Dieu built ramparts around the citadel and stationed troops on all four sides, while Vo Van Dung commanded the navy to control the Thi Nai estuary. The siege lasted for 14 months, making conditions inside the citadel increasingly difficult.

In the same year, Nguyen Phuc Anh, together with generals Le Van Duyet and Vo Di Nguy, led a large army to attempt to relieve the siege of Binh Dinh citadel. The Nguyen forces achieved a major victory in the naval battle at Thi Nai, destroying most of the Tay Son navy. This battle is considered the largest naval battle in the war between the Nguyen and Tay Son forces. However, despite winning at sea, the Nguyen army could not break the land blockade, so Binh Dinh citadel remained tightly surrounded.

In that situation, Vo Tanh and Ngo Tung Chau secretly sent a letter to Nguyen Phuc Anh, advising him to change direction and attack Phu Xuan. The two men took responsibility for continuing to hold the citadel in order to tie down the Tay Son forces. Nguyen Phuc Anh accepted this strategy, and in the fifth lunar month of Tan Dau (1801) he attacked and captured Phu Xuan.

When news arrived that Phu Xuan had fallen, Tran Quang Dieu and Vo Van Dung immediately sent troops to reinforce it. However, when their forces reached the Quang Nam region, they were blocked and had to turn back. Enraged, Tran Quang Dieu intensified attacks on Binh Dinh citadel day and night. At that time, food supplies inside the citadel were nearly exhausted and the soldiers were exhausted. Some people advised Vo Tanh to try to break through the siege and escape, but he firmly refused. He believed that since he had received orders to hold the citadel, he must live or die with it; abandoning the citadel would leave him without honor before his lord.

Afterward, Vo Tanh wrote a letter to Tran Quang Dieu asking that the lives of all soldiers in the citadel be spared. When everything had been arranged, he ordered his subordinates to pile straw and firewood under the Bat Giac tower, poured gunpowder over it, and then ignited it himself, choosing death. Immediately afterward, Ngo Tung Chau also committed suicide by poison. This occurred on the 27th day of the fifth lunar month of Tan Dau, corresponding to July 7, 1801.

When the citadel was captured, Tran Quang Dieu was moved by the loyalty and bravery of Vo Tanh and Ngo Tung Chau. He ordered his soldiers to prepare their bodies and bury them properly, and Vo Tanh was buried according to the rites reserved for high-ranking nobles. At the same time, following Vo Tanh’s earlier request, Tran Quang Dieu did not execute the surrendered Nguyen soldiers.

In 1802, after Nguyen Phuc Anh captured Phu Xuan and the Tay Son power continued to weaken, the war situation changed further. After losing additional territories such as Tran Ninh, Tay Son generals Tran Quang Dieu and Vo Van Dung were forced to withdraw from the citadel and take the mountain route through Laos to return to assist Emperor Canh Thinh.

Family

Vo Tanh and Ngoc Du had two daughters and one son named Vo Khanh, who later held the rank of Khinh xa do uy. Khanh’s son My later married Princess Loc Thanh Nguyen Phuc Uyen Diem, the third daughter of Emperor Minh Mang; they had one daughter named Vo Thi. Later generations were not further recorded in historical sources.

Commemoration

Emperor Gia Long posthumously honored Vo Tanh with the title Duc van cong than Thai uy Quoc cong. In the 12th year of Minh Mang (1831), he was further posthumously granted the title Hoai Quoc cong.

Moved by the heroic death of Vo Tanh, people in Binh Dinh passed down the following folk verse:

Looking up at the peak of Canh Tien tower,

We mourn the Hau general who defended the citadel for three years.

Vo Tanh’s wife, Princess Ngoc Du, mourned him with the following poem:

She had thought he would raise his hand to help the country,

But suddenly storms arose on the peaceful land.

Grieving for the man who sacrificed his jade-like life for the nation,

Leaving his wife alone in her chamber, face hidden in sorrow.

Dreams linger with memories of old bonds,

The cloud pavilion tilts as spirit and soul drift afar.

The fire of loyalty burns bright the mirror of heroes,

While the woman’s heart aches and tears fall.

In Saigon before 1975 (then called Saigon and Gia Dinh), there were two streets named after Vo Tanh. The Vo Tanh Street of old Saigon is now a section of Nguyen Trai Street (the section running through District 1 from Phu Dong roundabout to present-day Nguyen Van Cu Street), while the Vo Tanh Street of the former Gia Dinh province is now Hoang Van Thu Street in Phu Nhuan and Tan Binh districts.

In My Tho there is still a Vo Tanh Street located near My Tho market (formerly Hang Bong market). In Bien Hoa there remains a Vo Tanh Street running along the old Bien Hoa market. In Can Tho City, Vo Tanh Street is located in Cai Rang district. In the center of Tra On district, Vinh Long province, Vo Tanh Street has also existed for more than 60 years.

Tomb

The tomb of Vo Tanh is located at 19 Ho Van Hue Street, Duc Nhuan ward (former Phu Nhuan district), Ho Chi Minh City. It is one of the representative ancient tombs with architectural features typical of southern Vietnam in the late 19th century.

In 1802, when Nguyen Anh ascended the throne as Emperor Gia Long, he established a temple for Vo Tanh on the former site of the Bat Giac tower in Binh Dinh citadel and posthumously granted him the titles Duc Quan cong than, Phu quoc Thuong tuong quan, and Quan cong. During the reign of Minh Mang, he was further posthumously granted the title Hoai Quoc cong, and later generations commonly referred to him as Vo Quoc Cong.

The Vo Tanh mausoleum complex was built in 1802 and is typical of southern Vietnamese tomb architecture, with a solid structure, rich decorative patterns, and intricate carvings. The ancient tomb area alone covers about 180 square meters and is constructed with a mixture of lime, honey, and the resin of the o duoc tree, with o duoc as the main component, giving it exceptional durability.

Previously, the Vo Tanh mausoleum was located within a military zone and was only transferred to the People’s Committee of Ward 9, Phu Nhuan district in the 1990s. From 2006 to 2007, the site was replanned, and both the temple and the tomb were restored and upgraded, while a guard house and protective walls were also built.

On June 5, 2020, the People’s Committee of Phu Nhuan district held a ceremony to receive the certificate recognizing the Vo Tanh mausoleum as a city-level architectural and artistic heritage site. Since then, the site has been open to visitors and worshippers from 7:00 a.m. to 9:00 p.m. daily.

References

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện. Nhà xuất bản Văn học, 2004.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu (bản dịch, trong bài gọi tắt là Toát yếu). Nhà xuất bản Văn học, 2002.

Tiếng Pháp

Vo Tanh (1768 – 1801)

Origines familiales

Vo Tanh naquit dans le district de Phuoc An, province de Bien Hoa, aujourd’hui rattachée à la province de Ba Ria – Vung Tau. Par la suite, sa famille s’installa dans le district de Binh Duong, appartenant autrefois à la région de Gia Dinh.

Refusant de se soumettre au pouvoir des Tay Son, entre 1783 et 1788, Vo Tanh, avec son frère aîné Vo Nhan, rassembla des forces pour leur résister. Ils organisèrent une troupe insurgée au hameau de Vuon Trau, dans la région de Hoc Mon actuelle, sous le nom de Nghia quan Kien Hoa, souvent appelée dans les chroniques Kien Hoa dao. Leur armée leva l’étendard Khong Tuoc Nguyen Vo (Khong Tuoc Nguyen étant le nom lettré de la région de Go Cong) comme symbole de ralliement. Lorsque leurs forces devinrent plus nombreuses et plus puissantes, ils avancèrent pour contrôler la région de Go Cong et firent construire la forteresse de Van Thang afin d’en faire une base défensive et poursuivre la lutte contre les forces Tay Son.

Au service du seigneur Nguyen

En 1788, Vo Tanh accepta l’invitation du seigneur Nguyen Phuc Anh et se rendit à Nuoc Xoay (Sa Dec) pour rejoindre les troupes. Après avoir intégré les forces du seigneur Nguyen, il fut nommé Kham sai Chuong Co du Tien Phong Doanh, devenant l’un des commandants importants de l’armée. Pour renforcer les liens et témoigner de sa confiance, le seigneur Nguyen lui donna également en mariage sa sœur Ngoc Du.

En 1790, Vo Tanh commanda une attaque contre la citadelle de Dien Khanh. Au cours de cette bataille, il mena l’assaut et s’empara de la ville fortifiée tout en battant le général Tay Son Dao Van Ho. Cette victoire contribua à renforcer son prestige parmi les généraux du seigneur Nguyen.

En 1793, grâce à ses succès militaires, il fut promu Kham sai Quan Soai du Hau Quan Doanh, Binh Tay Tham Thang Tuong Quan Ho Gia. Chargé de défendre la citadelle de Dien Khanh, il continua à démontrer ses talents de commandement. En 1794, les troupes Tay Son dirigées par Tran Quang Dieu assiégèrent la citadelle, mais Vo Tanh utilisa des stratagèmes pour résister et contraignit l’ennemi à se retirer. Après cet événement, il reçut le titre de Quan Cong et cumula la fonction de Dai tuong quan.

En 1797, il accompagna Nguyen Phuc Anh dans la campagne militaire vers la région de Quang Nam. Lors du passage de la rivière My Khe, dans la province de Quang Ngai, il vainquit les forces Tay Son commandées par le do doc Nguyen Van Giap.

En 1799, il continua à suivre le seigneur Nguyen dans la campagne contre Quy Nhon. Lorsque les troupes entrèrent dans l’embouchure maritime de Thi Nai, Vo Tanh, avec le commandant Nguyen Huynh Duc, coordonna une attaque et battit les forces Tay Son à Thi Gia. Ensuite, lors de la bataille du pont Tan An, ils tuèrent le do doc Tay Son Nguyen Thiet. Face à l’offensive puissante des troupes Nguyen, le do doc Le Chat se rendit et devint subordonné de Vo Tanh. Par la suite, il intercepta les troupes du Thai pho Tay Son Le Van Dang au village de Kha Dao, capturant environ 6 000 soldats ainsi que 50 éléphants de guerre. Dans cette situation défavorable, les généraux Tay Son Le Van Thanh et Nguyen Dai Phat ouvrirent les portes de la citadelle de Quy Nhon et se rendirent. Après la prise de la ville, le seigneur Nguyen changea le nom de la citadelle de Quy Nhon en citadelle de Binh Dinh, anciennement la capitale Cha Ban du peuple Cham.

Mort au combat

En 1801, lorsque la grande armée de Nguyen Phuc Anh se retira vers Gia Dinh, la citadelle de Binh Dinh fut confiée à Vo Tanh et au Le bo Tham tri Ngo Tung Chau pour sa défense. Peu après, l’armée Tay Son dirigée par le Thai pho Tran Quang Dieu et le général Vo Van Dung vint assiéger la citadelle. Le siège fut organisé de manière très stricte : Tran Quang Dieu fit construire des retranchements autour de la citadelle et plaça des troupes aux quatre côtés, tandis que Vo Van Dung commandait la flotte contrôlant l’embouchure de Thi Nai. Le siège dura quatorze mois, rendant la situation à l’intérieur de la citadelle de plus en plus difficile.

Cette même année, Nguyen Phuc Anh, avec les généraux Le Van Duyet et Vo Di Nguy, mena une grande armée pour tenter de lever le siège de la citadelle de Binh Dinh. Les troupes Nguyen remportèrent une grande victoire lors de la bataille navale de Thi Nai, détruisant la majeure partie de la flotte Tay Son. Cette bataille est considérée comme la plus grande bataille navale du conflit entre les forces Nguyen et Tay Son. Cependant, malgré la victoire en mer, l’armée Nguyen ne parvint pas à briser le siège terrestre, et la citadelle de Binh Dinh resta encerclée.

Dans cette situation, Vo Tanh et Ngo Tung Chau envoyèrent secrètement une lettre à Nguyen Phuc Anh, lui conseillant de changer de direction et d’attaquer Phu Xuan. Ils assumèrent la responsabilité de continuer à défendre la citadelle afin de retenir les forces Tay Son. Le seigneur Nguyen accepta ce plan et, en mai de l’année Tan Dau (1801), lança une attaque et s’empara de Phu Xuan.

En apprenant la chute de Phu Xuan, Tran Quang Dieu et Vo Van Dung envoyèrent immédiatement des troupes en renfort. Cependant, arrivées dans la région de Quang Nam, celles-ci furent bloquées et durent rebrousser chemin. Furieux, Tran Quang Dieu intensifia les attaques contre la citadelle de Binh Dinh jour et nuit. À ce moment-là, les vivres dans la citadelle s’épuisaient et les soldats étaient exténués. Certains conseillèrent à Vo Tanh de tenter de percer l’encerclement pour s’échapper, mais il refusa fermement. Il estimait qu’ayant reçu l’ordre de défendre la citadelle, il devait vivre et mourir avec elle ; abandonner la citadelle aurait été une honte face à son seigneur.

Ensuite, Vo Tanh écrivit à Tran Quang Dieu pour demander d’épargner tous les soldats présents dans la citadelle. Lorsque tout fut prêt, il ordonna à ses subordonnés d’empiler de la paille et du bois sous la tour Bat Giac, d’y verser de la poudre à canon, puis il y mit lui-même le feu pour se sacrifier. Peu après, Ngo Tung Chau se donna également la mort en prenant du poison. L’événement eut lieu le 27e jour du 5e mois de l’année Tan Dau, soit le 7 juillet 1801.

Lorsque la citadelle fut prise, Tran Quang Dieu fut profondément ému par la loyauté et le courage de Vo Tanh et de Ngo Tung Chau. Il ordonna à ses soldats de les ensevelir avec respect, et Vo Tanh fut enterré selon les rites réservés aux princes et grands dignitaires. Conformément au souhait exprimé auparavant par Vo Tanh, Tran Quang Dieu ne fit pas exécuter les soldats de l’armée Nguyen qui s’étaient rendus.

En 1802, après que Nguyen Phuc Anh eut pris Phu Xuan et que la puissance Tay Son commença à décliner, la situation militaire continua d’évoluer. Après la perte de Tran Ninh, les généraux Tay Son tels que Tran Quang Dieu et Vo Van Dung durent quitter la citadelle et emprunter la route des hautes terres à travers le Laos pour revenir secourir le roi Canh Thinh.

Famille

Vo Tanh et Ngoc Du eurent deux filles et un fils nommé Vo Khanh, qui atteignit le grade de Khinh xa do uy. Le fils de Khanh, My, épousa plus tard la princesse Loc Thanh Nguyen Phuc Uyen Diem, troisième fille de l’empereur Minh Mang ; ils eurent une fille nommée Vo Thi. Les sources historiques ne mentionnent plus les générations suivantes.

Commémoration

L’empereur Gia Long conféra à titre posthume à Vo Tanh le titre de Duc van cong than Thai uy Quoc cong. La 12e année du règne de Minh Mang (1831), il fut encore honoré du titre posthume de Hoai Quoc cong.

Devant la mort héroïque de Vo Tanh, les habitants de Binh Dinh ont transmis la chanson populaire suivante :

Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên

Cảm thương quan Hậu thủ thiềng (thành) ba năm

L’épouse de Vo Tanh, la princesse Ngoc Du, le pleura par ce poème :

Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè bình địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!”.

À Sai Gon avant 1975 (alors appelé Sai Gon et Gia Dinh), il existait deux rues portant le nom de Vo Tanh. La rue Vo Tanh de l’ancienne municipalité de Sai Gon correspond aujourd’hui à une partie de la rue Nguyen Trai (le tronçon traversant le district 1, de Nga sau Phu Dong jusqu’à la rue Nguyen Van Cu actuelle, anciennement rue Cong Hoa), tandis que le tronçon passant par le district 5 portait encore le nom de rue Nguyen Trai avant 1975. Quant à la rue Vo Tanh de l’ancienne province de Gia Dinh, elle correspond aujourd’hui à la rue Hoang Van Thu dans les districts de Phu Nhuan et Tan Binh.

À My Tho, une rue portant le nom de Vo Tanh existe encore dans la zone du marché de My Tho (ancien marché Hang Bong). À Bien Hoa, une rue Vo Tanh longe encore l’ancien marché de Bien Hoa. À Can Tho, la rue Vo Tanh se trouve dans le district de Cai Rang. Au centre du district de Tra On, dans la province de Vinh Long, une rue Vo Tanh existe également depuis plus de 60 ans.

Tombeau

Le tombeau de Vo Tanh est situé au 19 rue Ho Van Hue, quartier Duc Nhuan (ancien district de Phu Nhuan), Ho Chi Minh Ville. Il s’agit de l’un des tombeaux anciens typiques, caractérisé par l’architecture du Sud du Viet Nam de la fin du XIXe siècle.

En 1802, lorsque Nguyen Anh monta sur le trône, l’empereur Gia Long fit construire un temple dédié à Vo Tanh sur l’ancien emplacement de la tour Bat Giac (citadelle de Binh Dinh) et lui conféra à titre posthume les titres de Duc Quan cong than, Phu quoc Thuong tuong quan et Quan cong. Sous le règne de Minh Mang, il fut encore honoré du titre posthume de Hoai Quoc cong ; les générations suivantes l’appelèrent communément Vo Quoc Cong.

Le complexe funéraire de Vo Tanh, construit en 1802, est représentatif de l’architecture des tombes anciennes du Sud, avec une structure solide, des motifs décoratifs riches et des sculptures raffinées. La tombe principale couvre une superficie d’environ 180 m², construite avec un mélange de chaux, de miel et de résine de o duoc, cette dernière constituant l’élément principal assurant une grande durabilité.

Autrefois, le site du tombeau se trouvait dans une zone militaire et ne fut transféré à l’administration du quartier 9, district de Phu Nhuan, que dans les années 1990. Entre 2006 et 2007, la zone fut réaménagée, le temple et la tombe furent restaurés et améliorés, et un poste de garde ainsi qu’un mur d’enceinte furent ajoutés pour la protection du site.

Le 5 juin 2020, le Comité populaire du district de Phu Nhuan organisa la cérémonie de réception du certificat classant le tombeau de Vo Tanh comme monument d’architecture et d’art de niveau municipal. Depuis cette date, le site est ouvert aux visiteurs et aux fidèles de 7 heures à 21 heures chaque jour.

Documents de référence

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện. Nhà xuất bản Văn học, 2004.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu (bản dịch, trong bài gọi tắt là Toát yếu). Nhà xuất bản Văn học, 2002.

Tiếng Trung

武性(1768–1801)

身世

武性出生于福安县,边和省(今属巴地—头顿省)。后来,其家族迁居至平阳县,属于旧时嘉定地区。

由于不愿臣服于西山政权,在1783年至1788年间,武性与其兄武闲联合起来组织力量进行抗争。二人在槟榔园村(今胡志明市霍门地区一带)建立义军,称为建和义军,史书中常称为建和道。义军高举“孔雀原武”旗帜(“孔雀原”为今鹅贡地区的字名),作为号召力量的象征。随着兵力不断壮大,他们进军控制鹅贡地区,并修筑万胜城作为防御据点,继续与西山军作战。

追随阮主

1788年,武性接受阮福映的邀请,前往涡水(沙沥)会合。加入阮主军队后,他被封为钦差掌机先锋营,成为军中重要将领之一。同时,为加强关系并表示信任,阮主还将其妹妹玉猷许配给武性为妻。

1790年,武性率军攻打延庆城。在此战中,他组织进攻并攻占府城,同时击败西山将领陶文湖。这一胜利提高了他在阮主军中将领之间的威望。

1793年,由于屡立战功,武性被晋升为钦差管帅后军营平西参胜将军护驾。当被派驻守延庆城时,他继续展现出卓越的指挥能力。1794年,西山军由陈光耀率军围城,但武性运用计谋坚守,使对方被迫撤退。此后,他被封为郡公,并兼任大将军。

1797年,他随阮福映北进攻打广南地区。行军途中,在广义境内越过美溪河时,他击败了由都督阮文甲指挥的西山军。

1799年,他继续随阮主进攻归仁。当军队进入施耐海门时,武性与掌右军阮黄德协同作战,在施假击败西山军。随后在新安桥之战中,他们消灭了西山都督阮节。在阮军强大攻势下,都督黎质请求投降,并成为武性的部将。接着,他又在嘉道村截击西山太傅黎文当的军队,俘虏约六千人和五十头战象。形势不利之下,西山将领黎文清与阮大发被迫打开归仁城门投降。攻占城池后,阮主将归仁城改名为平定城,此地原为占婆旧都阇盘。

殉城

1801年,当阮福映大军撤回嘉定时,平定城交由武性与礼部参知吴从周共同守卫。不久,西山大军在太傅陈光耀与将领武文勇指挥下前来围城。西山军围困极为严密:陈光耀下令修筑围垒包围城池并分兵守卫四面,武文勇则率水军控制施耐海口。围城持续长达十四个月,城中形势日益艰难。

同年,阮福映与将领黎文悦、武夷阮率大军试图为平定城解围。阮军在施耐海水战中取得重大胜利,几乎歼灭西山水军。这场战役被认为是阮、西山双方战争中规模最大的海战。然而,尽管海上取胜,阮军仍未能突破陆上包围,平定城依然被严密封锁。

在这种情况下,武性与吴从周秘密派人送信给阮福映,建议转而进攻富春。他们愿意继续坚守城池,以牵制西山军主力。阮主接受此计,并于辛酉年(1801年)五月攻取富春。

当得知富春失守后,陈光耀与武文勇立即率军北上救援,但在广南地区受阻,被迫返回。愤怒之下,陈光耀日夜加强攻城。此时城中粮食渐尽,士兵疲惫不堪。有人劝武性突围逃生,但他坚决拒绝,认为既受命守城,就必须与城共存亡,否则无颜面对主上。

随后,武性写信给陈光耀,请求赦免城中所有士兵的性命。安排妥当之后,他命部下在八角楼下堆放柴草并倒入火药,然后亲自点燃引线殉节。紧接着,吴从周也服毒自尽。此事发生于辛酉年五月二十七日,即1801年7月7日。

攻占城池后,陈光耀对武性与吴从周的忠勇深为感动,下令为二人妥善入殓安葬,其中武性按王公礼仪安葬。同时,他也遵守武性生前请求,没有杀害已投降的阮军士兵。

1802年,阮福映攻占富春后,西山势力日渐衰弱。后来在失去镇宁后,西山将领陈光耀与武文勇被迫撤离城池,经上道越过老挝返回救援景盛帝。

家族

武性与玉猷共有两女一子,儿子名武庆,官至轻车都尉。武庆之子名美,后来娶禄城公主阮福婉艳(明命帝第三女)。二人育有一女武氏,其后世史书未再详载。

纪念

嘉隆帝追赠武性为翼运功臣太尉国公。明命十二年(1831年)又追封为怀国公。

武性英勇殉城之后,平定民间流传着这样的歌谣:

“仰望天仙塔高耸,

感怀后军官守城三年!”

其妻玉猷公主亦作诗悼念:

“本欲挥戈扶社稷,

谁知平地起风波。

惜君为国捐玉体,

使妾孤房泪满罗。

枕梦依稀缘旧约,

云台飘落魂魄多。

忠火燃红英雄镜,

断肠船妇泪如河。”

1975年以前,在西贡—嘉定地区曾有两条以武性命名的街道。旧西贡市的武性街如今为阮廌街的一段(从今第一郡六岔路口至阮文渠街),而旧嘉定省的武性街则为今日富润郡与新平郡的黄文树街。

此外,美拖市(美拖市场附近)、边和市(旧边和市场一带)、芹苴市丐冷郡以及永隆省茶温县中心地区,至今仍有以武性命名的道路。

陵墓

武性陵墓位于胡志明市富润郡德润坊胡文惠街19号,是南部地区十九世纪末典型的古墓建筑之一。

1802年阮映即位为嘉隆帝后,在平定城八角楼旧址建立武性祠,并追赠其翼郡功臣、辅国上将军、郡公等封号。至明命时期,又追封为怀国公,后世多称其为武国公。

武性陵墓建于1802年,是南部传统古墓建筑的代表,结构坚固,装饰纹样丰富,雕刻精细。墓区面积约180平方米,以石灰、蜂蜜和乌蔗树脂等材料混合建成,其中乌蔗为主要成分,使其具有较高耐久性。

该陵墓曾位于军事管理区域内,直到1990年代才移交富润郡第九坊人民委员会管理。2006—2007年间,陵墓区域重新规划,对祠庙与墓葬进行修缮与升级,并新建看护房与围墙。

2020年6月5日,富润郡人民委员会举行仪式,授予武性陵为市级建筑艺术遗迹称号。自此以后,陵墓每天7时至21时向公众开放参观与祭拜。

参考资料

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm Tổng tài), Đại Nam chính biên liệt truyện. Nhà xuất bản Văn học, 2004.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu (bản dịch, trong bài gọi tắt là Toát yếu). Nhà xuất bản Văn học, 2002.

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (1)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)