Chùa Ân Hậu (Vinh Phú, Nghệ An)

Chùa Ân Hậu (Vinh Phú, Nghệ An)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Ân Hậu, thường được gọi là chùa Ân, tọa lạc trên địa bàn phường Vinh Phú, tỉnh Nghệ An. Từ trung tâm thành phố Vinh, di tích nằm cách khoảng 4 km về phía đông bắc, thuận tiện cho việc đi lại và hành hương.

Lịch sử và nhân vật

Theo truyền tích, chùa Ân là một ngôi cổ tự có bề dày lịch sử khoảng bảy thế kỷ. Tương truyền, vào thời vua Trần Duệ Tông, có một nhũ mẫu trong cung là bà Phạm Thị Ngọc Dung. Sau khi rời kinh thành, bà trở về quê hương làng Ơn (xã Ân Hậu, huyện Chân Phúc xưa) cùng nhân dân địa phương quyên góp, dựng nên ngôi chùa vào khoảng thế kỷ XIII. Sau khi bà qua đời, để ghi nhớ công đức, người dân lập đền thờ, tôn xưng bà với miếu hiệu “Thánh mẫu Phạm Thị Hoa Nương”, dân gian quen gọi là “Bà Vương Mẫu”. Đền thờ tọa lạc tại làng Hòa Cam (nay thuộc xã Nghi Thái), cách chùa Ân khoảng 3 km về phía đông nam. Từ đó, chùa Ân trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, giữ vai trò như một “cái nôi tâm linh” của cư dân địa phương qua nhiều thế hệ.

Trong tiến trình tồn tại, chùa Ân nhiều lần được tu bổ, trong đó đáng chú ý là đợt đại trùng tu vào thế kỷ XVI do một vị huyện thừa họ Bạch đứng ra chủ trì. Không chỉ sửa chữa chùa, đợt này còn mở rộng quy mô toàn khuôn viên lên hơn 3 ha, xây dựng thêm đình và các công trình phụ trợ, hình thành một quần thể kiến trúc gồm chùa – đền – đình. Sự kết hợp này phản ánh rõ xu hướng dung hợp của Tam giáo đồng nguyên thời Lý – Trần, cho thấy trình độ nhận thức triết học cũng như đời sống văn hóa của cư dân nơi đây đã đạt tới mức độ phát triển đáng kể từ rất sớm. Đặc biệt, ngôi đình trong quần thể không chỉ mang chức năng tín ngưỡng mà còn là nơi đặt trụ sở hành chính của huyện Chân Lộc xưa, có mộc triện của bộ máy quản lý đương thời.

Cùng với việc xây dựng, vị huyện thừa họ Bạch còn cho đào một con sông nhỏ gọi là Con Trén, nối từ bàu đồng Nường ra sông Lam, nhằm phục vụ việc tiêu thủy và vận chuyển vật liệu, nhất là gỗ lim dùng trong kiến thiết. Công trình được thi công quy mô, kéo dài nhiều năm. Dân gian còn lưu truyền câu chuyện rằng trong thời gian xây dựng, hạt mít do thợ ăn rồi vứt xuống đất đã kịp nảy mầm, lớn lên, ra quả mà công trình vẫn chưa hoàn tất, phản ánh sự công phu và bề thế của quần thể kiến trúc. Trong ký ức cộng đồng, đình tròn với hệ thống cột, xà, cầu phong đều được làm tròn, cùng kiệu bát cống của thợ Ân Hậu, được xem là những sản phẩm kiến trúc – mỹ thuật độc đáo, hiếm thấy ở xứ Nghệ.

Đến thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, khi làng Ân Hậu bước vào giai đoạn hưng thịnh, cụm di tích lại tiếp tục được trùng tu dưới sự chủ trì của một vị cử nhân họ Nguyễn. Ông không chỉ tổ chức tu sửa mà còn sáng tác bài văn “thúc ước” tại đình Ân, vừa ghi nhận công trạng tiền nhân, vừa khơi dậy ý thức xây dựng quê hương. Trong đợt trùng tu này, dân làng còn đào kênh để đưa gỗ lim về xây chùa. Đồng thời, ông cho lập xóm Xuân Bình, quy tụ các nghệ nhân để tổ chức một đội nghi lễ chuyên nghiệp phục vụ các dịp lễ hội, đặc biệt là lễ “lục nguyệt” (từ ngày 12 đến 16 tháng sáu âm lịch), gắn với ngày giỗ của sư cả Trương Quốc Điển. Vào dịp này, dân chúng trong vùng và các nơi lân cận tụ hội đông đảo, tạo nên không khí lễ hội sôi động, đồng thời lưu truyền nhiều giai thoại linh thiêng về các bậc thần Phật.

Tuy nhiên, trải qua những biến động của lịch sử, cụm di tích chùa Ân dần rơi vào tình trạng hoang phế. Trước khi được phục dựng, hầu hết các công trình gần như bị phá hủy hoàn toàn, thậm chí các phần mộ cổ trong khu vực cũng bị xâm hại. Việc phục dựng sau này thực chất là tái thiết trên nền cũ, thể hiện nỗ lực gìn giữ ký ức và lòng thành kính của người dân đối với di tích.

Vào thế kỷ XV, sau khi cuộc khởi nghĩa chống quân Minh thất bại, Trùng Quang Đế đã trầm mình xuống sông Lam để giữ trọn khí tiết. Hai cận thần của ông là Trương Quốc Điển và Trần Văn Định đã lánh nạn về chùa Ân. Sau khi qua đời, họ được nhân dân tôn làm thành hoàng, lập đền thờ và được các triều đại Lê, Nguyễn sắc phong. Sự hiện diện song song của thờ Phật và thờ thần đã tạo nên một mô hình tín ngưỡng đặc thù, thể hiện qua kiểu kiến trúc “tiền Phật hậu Thần” độc đáo.

Trong cao trào cách mạng 1930 – 1931, tiêu biểu là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, chùa Ân trở thành một địa điểm hoạt động bí mật quan trọng của cán bộ cách mạng. Nơi đây vừa là chỗ trú ẩn, vừa là điểm tập hợp lực lượng và duy trì liên lạc trong điều kiện bị đàn áp gắt gao. Trong thời gian này, Võ Nguyên Giáp cùng ông Phạm Duy Thanh (Bí thư chi bộ xã, Trưởng nông hội) cũng từng có thời gian hoạt động và cư trú tại chùa.

Bối cảnh lúc bấy giờ hết sức căng thẳng, tại các vùng Nghi Lộc, Nghi Xuân, phong trào đấu tranh phát triển mạnh, dẫn đến việc chính quyền thực dân bị tấn công, khiến thực dân Pháp tiến hành các cuộc đàn áp, trả thù quy mô lớn. Chúng tăng cường truy lùng, bắt bớ đảng viên và những người tham gia phong trào, huy động cả bộ máy quan lại địa phương để kiểm soát gắt gao. Trong hoàn cảnh đó, chùa Ân trở thành nơi ẩn náu an toàn, đồng thời là điểm trung chuyển tin tức, tiếp tế lương thực và duy trì liên lạc cho lực lượng cách mạng. Vai trò này đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững mạng lưới hoạt động trong giai đoạn đầy thử thách của phong trào.

Ngày nay, chùa Ân được phục dựng trên nền cũ, với kiến trúc mang hơi hướng hiện đại nhưng vẫn kế thừa những yếu tố truyền thống. Sau khi việc phục dựng hoàn tất, được sự cho phép của chính quyền và Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại đức Thích Minh Trí đã được thỉnh về trụ trì, tiếp tục duy trì và phát triển đời sống tu học, đưa chùa Ân từng bước trở lại vị trí trung tâm trong đời sống tâm linh của cộng đồng.

Kiến trúc cảnh quan

Không gian kiến trúc chùa Ân Hậu được tổ chức theo trục dọc, tạo cảm giác trang nghiêm và dẫn dắt người hành hương từ ngoài vào trong theo một trình tự chặt chẽ. Ngay từ cổng vào, hai bên lối đi được bố trí tượng 18 vị La Hán tạo nên cảnh quan sinh động, tăng thêm vẻ uy nghiêm cho toàn bộ khuôn viên.

Khu Tam Bảo được dựng theo dạng hình chữ Nhất là một kiểu bố cục phổ biến trong kiến trúc chùa truyền thống ở Nghệ An. Không gian thờ tự được phân chia thành nhiều lớp rõ rệt. Ở lớp ngoài cùng thường bài trí tượng Hộ Pháp. Tiến sâu vào bên trong là khu vực thờ Phật chính, được sắp xếp theo ba tầng tượng:

  • Lớp trên cùng là ba pho Tam Thế Phật, biểu trưng cho ba đời quá khứ – hiện tại – vị lai.
  • Lớp thứ hai là hệ tượng Tam Tôn, có nơi chỉ tôn trí một pho A Di Đà làm trung tâm.
  • Lớp thứ ba có sự biến đổi tùy theo từng chùa, tại đây có thể đặt tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn với hình thức phong phú và giàu tính biểu tượng.

Bên trái là ban Thánh Hiền, bên phải là ban thờ hai vị tướng của Trùng Quang Đế làTrương Quốc Điển và Trần Văn Định, những nhân vật lịch sử gắn bó với di tích. Ban thờ Thánh Mẫu được bố trí theo phương ngang, tạo thế cân đối trong tổng thể kiến trúc.

Ở gian ngoài, phía bên trái treo khánh, bên phải treo chuông, hai pháp khí quan trọng trong nghi lễ Phật giáo, góp phần tạo nên âm thanh đặc trưng cho không gian thiền môn.

Ngoài khu chính điện, các công trình phụ trợ cũng được bố trí hợp lý: bên trái Tam Bảo là nhà khách, phía sau nhà khách là nhà Tăng, phục vụ sinh hoạt và tiếp đón Phật tử, khách thập phương. Tổng thể kiến trúc vừa giữ được những nguyên tắc truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo trong bối cảnh hiện đại.

Hiện vật

Hiện chùa Ân còn lưu giữ được 3 sắc phong của Đức Thánh Mẫu Hoa Nương gồm:

  • Sắc phong nhân ngày lễ mừng thọ vua Khải Định 40 tuổi, phong hiệu Trinh Uyển Thánh Mẫu
  • Sắc phong triều vua Duy Tân
  • Sắc phong triều vua Thành Thái, phong hiệu Dực Bảo Trung Hưng

Ngoài ra còn bài văn “thúc ước” của vị cử nhân họ Nguyễn, như sau:

Nay vừa nước yên bàn thạch, đời có minh quân.
Nền hoà thái nam sao rạng vẻ, tiệc xướng ca bốn bể đều xuân.
Ang muốn nghiêm trang làm trước, lời ra thúc ước hoà răn.
Đình ta nay mở mang cõi phúc xây đắp nền nhân.
Bia nọ đã ghi công đức, hồ kia nước rưới bụi trần.
Tả thanh long hữu bạch hổ, có cồn trống, còn ngựa, ùn ùn những giống tướng quân.
Sau hàn vũ núi Cầm phong, dạng đầu voi trận khoẻ.
Trước minh đường ngàn Hồng Lĩnh phô vẻ gầm xem gần.
Đất sẵn có kì sơn tụ thuỷ, người trời sinh tài từ văn nhân.
Văn những đắng kinh luân, bảng khoa giáp chen đường long hồ.
Võ những tài thao lược, đồ công thần sáng hán kì lân.
Sĩ chuyên tâm nấu sử sôi kinh, sớm khuya đèn hạnh.
Nông vui thú cày mây cuốc nguyệt, ngày tháng nỗi sản.
Công giữ gìn mực thước đăm đăm, ra tài lương đồng.
Thương buôn bán lụa tơ to nhỏ, dạng mĩ miều kiệu khách quan thân.
Kiệm cần và có nhượng nhân, trong hương đảng đã nên mĩ tục.
Phú quý hẳn sinh lễ nghĩa, an tàng câu mở tiệc sự thần.
Trên ngự toạ tôn nghiêm, trước nam thúc vô bài cầm thú.
Trong đình trung thị toạ, ngoài bốn diễn là lướt cam trân.
Vinh hiển ấy đôi đường sĩ hoạn, thanh nhàn thay bốn thú tề dân.
Tịch chú nay kì phúc báo ân, dâng hương ngãi cho thơm lừng miều vũ.
Lễ sinh phải tồn tâm chính nghĩa, chốn tịnh trường cho tề chỉnh y trân.
Lễ sự hành chí kính chí thành.
Trong giám khảo công bình chăm chẩm, ngoài xương tì thế tức vân vân.
Trống vung mấy nhịp, pháo nổ mấy lần.
Phụ hoàng thượng đẳng thánh cung vạn tuế.
Chúc hoàng đồ rằng thiên mệnh bình thân.
Không tài dụng văn mưu võ lược, chường mặt bái thiết nghĩa trung thần. Đàn dập dờn tiếng nhật tiếng khoan, tính tình hát dòng dõi.
Cung nam cung bắc thiết ngân ngân, cách thức phải trông lễ bộ.
Nên sẽ nói, vui sẽ cười chớ mượn tiếng chén trà chén rượu.
Ăn phải nơi, ngồi phải chốn, dễ mà nghe câu hát câu đờn.
Vậy mới phải hoà phong mĩ tục
Vậy mới nên biến chú gia tân.
Lành thay, thành văn hay cám cách phúc biết từ ngàn.
Ang cầu phúc thơn danh cõi phúc, chữ lưu ân phù nguyện làng Ân.
Nay ước, hữu ước thông tri.

Một chi tiết đặc biệt còn lưu giữ là các chân tảng đá cổ, những cấu kiện hiếm hoi còn lại qua bao biến động được người dân cất giữ qua nhiều năm và mang trả lại khi chùa được xây dựng lại. Những viên đá ấy, tuy nhỏ bé, nhưng hàm chứa giá trị biểu tượng sâu sắc về lòng tri ân và ý thức gìn giữ di sản của cộng đồng.

Sự kiện và lễ hội

Trong những năm gần đây, chùa đã tổ chức và tham gia nhiều hoạt động Phật sự, lễ hội tôn giáo cũng như các chương trình mang ý nghĩa nhân đạo, góp phần lan tỏa tinh thần từ bi và gắn kết cộng đồng.

Nổi bật là hoạt động cúng dường 500 Tăng Ni tham dự pháp hội an cư tại Học viện Phật giáo Việt Nam, thể hiện tinh thần hộ trì Tam Bảo và hỗ trợ đời sống tu học của chư Tăng Ni. Bên cạnh đó, chùa còn tổ chức Đại trai đàn cầu siêu, chẩn tế trong mùa Vu Lan báo hiếu năm 2025, hướng tới tưởng niệm, tri ân tổ tiên và cầu nguyện cho các hương linh được siêu thoát.

Trong dịp Phật Đản các năm, chùa đã thực hiện nhiều hoạt động ý nghĩa, tiêu biểu là đại lễ phóng sinh 6 tấn cá vào năm 2022 và 2023, thể hiện tinh thần từ bi cứu độ muôn loài theo giáo lý nhà Phật. Song song với đó là việc tổ chức pháp hội thực hành tu trì theo nghi quỹ, tạo điều kiện cho Phật tử thực hành giáo pháp một cách bài bản, đúng pháp.

Đặc biệt, Đại lễ Phật đản năm 2025 được tổ chức trang nghiêm, quy tụ đông đảo Phật tử và nhân dân tham dự, trở thành một sự kiện tôn giáo – văn hóa tiêu biểu trong đời sống cộng đồng địa phương.

Những hoạt động này không chỉ khẳng định vai trò của chùa trong đời sống tâm linh, mà còn góp phần lan tỏa các giá trị đạo đức, nhân văn và tinh thần hướng thiện trong xã hội.

Xếp hạng

Chùa Ân Hậu được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh, cấp thành phố năm 2013.

Tài liệu tham khảo

  1. Chùa Ân Hậu đón nhận Bằng DTLSVH cấp tỉnh – Đài PTTH Nghệ An
  2. Lê Thanh Nga, “Chùa Ân”, Báo Văn  Nghệ An, Ngày 26/11/2009.
  3. Tài liệu phỏng vấn bác Lương Khắc Thanh, người có công khôi phục chùa, Ngày 29/04/2026.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Name and Geographical Location

An Hau Pagoda, commonly referred to as Chua An, is located in Vinh Phu ward, Nghe An province. From the center of Vinh city, the site lies approximately 4 kilometers to the northeast, making it convenient for travel and pilgrimage.

History and Figures

According to local tradition, Chua An is an ancient pagoda with a history spanning approximately seven centuries. It is said that during the reign of Emperor Tran Due Tong, a royal wet nurse named Pham Thi Ngoc Dung, after leaving the imperial court, returned to her hometown—On village (formerly An Hau commune, Chan Phuc district)—and, together with local residents, contributed to the construction of the pagoda around the 13th century.

After her passing, in recognition of her merits, the villagers built a temple in her honor and bestowed upon her the title “Thanh mau Pham Thi Hoa Nuong,” commonly known among the people as “Ba Vuong Mau.” This temple is located in Hoa Cam village (now part of Nghi Thai commune), about 3 kilometers southeast of Chua An. From that time onward, Chua An became an important center of spiritual life, serving as a “spiritual cradle” for the local community across generations.

Throughout its existence, the pagoda underwent several restorations, notably a major renovation in the 16th century led by a district official of the Bach family. This renovation not only repaired the pagoda but also expanded the complex to over 3 hectares, adding a communal house (dinh) and auxiliary structures, forming an integrated complex of pagoda–temple–communal house.

This combination clearly reflects the syncretic trend of the “Three Teachings in harmony” (Tam giao dong nguyen) during the Ly–Tran period, demonstrating a high level of philosophical awareness and cultural development among the local population from an early stage. Notably, the communal house also functioned as the administrative headquarters of the former Chan Loc district, bearing official seals of the governing apparatus.

In conjunction with construction, the Bach official ordered the excavation of a small canal called Con Tren, connecting Bau dong Nuong to the Lam River, facilitating drainage and the transportation of materials, especially ironwood used in construction. The project was large-scale and lasted many years. Folk stories recount that jackfruit seeds discarded by workers grew into mature trees bearing fruit before construction was completed, reflecting the scale and duration of the project.

In community memory, the circular communal house—with its round pillars, beams, and rafters—along with the ceremonial palanquins crafted by artisans of An Hau, are regarded as unique architectural and artistic achievements rarely seen in Nghe An.

In the 19th century, under the Nguyen dynasty, as An Hau village prospered, the complex was again restored under the leadership of a bachelor-degree holder of the Nguyen family. He not only organized repairs but also composed a “thuc uoc” (didactic text) at the communal house, commemorating predecessors and encouraging communal development.

During this period, canals were dug to transport ironwood for construction. He also established Xuan Binh hamlet, gathering artisans to form a professional ritual team serving festivals, especially the “luc nguyet” festival (from the 12th to the 16th of the sixth lunar month), associated with the death anniversary of monk Truong Quoc Dien. These events attracted large crowds and generated numerous sacred legends.

However, due to historical upheavals, the complex gradually fell into ruin. Before restoration, most structures were nearly destroyed, and even ancient graves were damaged. The later reconstruction essentially rebuilt the site on its original foundation, reflecting the community’s effort to preserve memory and express reverence.

In the 15th century, after the failure of the uprising against the Ming, Emperor Trung Quang drowned himself in the Lam River to preserve his honor. His two attendants, Truong Quoc Dien and Tran Van Dinh, took refuge at Chua An. After their deaths, they were deified as tutelary spirits and granted royal titles by the Le and Nguyen dynasties. The coexistence of Buddhist worship and spirit worship created a distinctive model expressed in the “front Buddha, rear deity” architectural style.

During the revolutionary movement of 1930–1931 (Nghe Tinh Soviet), Chua An served as an important secret base for revolutionary cadres. It functioned as a shelter, meeting point, and communication hub under harsh repression. During this time, Vo Nguyen Giap and Pham Duy Thanh (local party secretary) also stayed and operated there.

Amid intense repression by French colonial authorities, the pagoda played a crucial role in maintaining communication, supplying resources, and sustaining revolutionary networks.

Today, Chua An has been reconstructed on its original site, combining modern architectural elements with traditional features. With official approval, Venerable Thich Minh Tri now serves as abbot, gradually restoring the pagoda’s central role in community spiritual life.

Architectural Landscape

The architectural space of An Hau Pagoda is organized along a longitudinal axis, creating a solemn atmosphere and guiding pilgrims from the exterior to the interior in a structured sequence. From the entrance, statues of the Eighteen Arhats are arranged along both sides of the pathway, forming a vivid landscape and enhancing the overall sense of reverence within the complex.

The Tam Bao (Triple Gem sanctuary) is constructed in a linear “single-stroke” (nhat-shaped) layout, a common architectural arrangement in traditional pagodas of Nghe An. The worship space is clearly divided into multiple layers.

The outermost layer typically features statues of Dharma Protectors (Ho Phap).
Moving inward is the main Buddha altar, arranged in three tiers:
The uppermost tier consists of the Three Buddhas of the Three Times (Tam The Phat), symbolizing the past, present, and future.
The second tier includes the Tam Ton triad, sometimes centered solely on Amitabha Buddha.
The third tier varies depending on the pagoda; here it may include the Thousand-Armed Thousand-Eyed Avalokitesvara, represented in richly symbolic forms.

To the left is the altar of Saints and Sages, while to the right is the altar dedicated to the two generals of Emperor Trung Quang—Truong Quoc Dien and Tran Van Dinh—historical figures closely associated with the site. The altar of the Holy Mother is arranged horizontally, creating balance within the overall architectural composition.

In the outer hall, a wooden percussion instrument (khanh) is hung on the left, and a bell on the right—both essential ritual instruments in Buddhist ceremonies, contributing to the distinctive acoustic atmosphere of the monastic space.

Beyond the main sanctuary, auxiliary structures are arranged in a functional layout: to the left of the Tam Bao is the guest house, and behind it is the monks’ residence, serving both daily monastic life and the reception of visitors and pilgrims.

Overall, the architectural composition preserves traditional principles while accommodating the practical needs of religious life in a modern context.

Artifacts

Chua An currently preserves three royal decrees honoring Thanh mau Hoa Nuong:

A decree issued during Emperor Khai Dinh’s 40th birthday celebration, granting the title Trinh Uyen Thanh Mau
A decree from the reign of Emperor Duy Tan
A decree from the reign of Emperor Thanh Thai, granting the title Duc Bao Trung Hung

Additionally, the “thuc uoc” text composed by the Nguyen bachelor remains preserved (full text retained as in original).

A notable surviving element is a set of ancient stone foundation bases. These rare remnants were carefully preserved by villagers over time and returned during reconstruction, symbolizing gratitude and collective heritage preservation.

Events and Festivals

In recent years, the pagoda has actively organized and participated in numerous Buddhist and humanitarian activities, contributing to community cohesion and promoting compassion.

Notable activities include:

Offering alms to 500 monks and nuns attending a retreat at the Vietnam Buddhist Academy
Organizing grand requiem ceremonies during Vu Lan 2025
Releasing 6 tons of fish during Vesak celebrations (2022 and 2023)
Hosting structured religious practice ceremonies for devotees

In particular, the 2025 Vesak celebration was conducted solemnly, attracting a large number of participants and becoming a prominent cultural-religious event.

These activities affirm the pagoda’s role in spiritual life while promoting ethical and humanitarian values in society.

Recognition

An Hau Pagoda was recognized as a provincial and city-level historical site in 2013.

References

  1. Chùa Ân Hậu đón nhận Bằng DTLSVH cấp tỉnh – Đài PTTH Nghệ An
  2. Lê Thanh Nga, “Chùa Ân”, Báo Văn  Nghệ An, Ngày 26/11/2009.
  3. Tài liệu phỏng vấn bác Lương Khắc Thanh, người có công khôi phục chùa, Ngày 29/04/2026.

Tiếng Pháp (Français)

Dénomination et localisation géographique

La pagode An Hau, communément appelée chua An, est située dans le quartier Vinh Phu, province Nghe An. Depuis le centre de la ville de Vinh, le site se trouve à environ 4 km au nord-est, ce qui facilite les déplacements et les pèlerinages .

Histoire et personnages

Selon la tradition, la pagode An est un ancien sanctuaire dont l’histoire remonte à environ sept siècles. D’après les récits, sous le règne du roi Tran Due Tong, une nourrice royale nommée Pham Thi Ngoc Dung, après avoir quitté la cour, retourna dans son village natal (lang On, anciennement commune An Hau, district Chan Phuc) et, avec la population locale, contribua à la construction de la pagode vers le XIIIe siècle.

Après sa mort, en reconnaissance de ses mérites, les habitants édifièrent un temple en son honneur, lui attribuant le titre sacré de « Thanh mau Pham Thi Hoa Nuong », connue dans le folklore sous le nom de « Ba Vuong Mau ». Ce temple est situé dans le village Hoa Cam (actuellement commune Nghi Thai), à environ 3 km au sud-est de la pagode. Dès lors, la pagode An devint un centre spirituel majeur, jouant le rôle de « berceau religieux » pour les habitants à travers les générations.

Au cours de son histoire, la pagode fut restaurée à plusieurs reprises, notamment au XVIe siècle sous la direction d’un fonctionnaire local de la famille Bach. Cette restauration ne se limita pas à la pagode, mais élargit l’ensemble à plus de 3 hectares, incluant également un temple et une maison communale, formant un complexe architectural « pagode – temple – maison communale ». Cette organisation illustre clairement la fusion des Trois Enseignements (bouddhisme, confucianisme, taoïsme) caractéristique de l’époque Ly – Tran.

Ce complexe comprenait également une fonction administrative, la maison communale servant de siège pour l’administration du district Chan Loc, avec des sceaux officiels.

Le même responsable fit creuser un canal nommé Con Tren, reliant un étang local au fleuve Lam, facilitant le drainage et le transport des matériaux, notamment le bois de lim. La construction fut longue et laborieuse, au point que la tradition raconte que des graines jetées par les ouvriers eurent le temps de pousser et de fructifier avant la fin des travaux.

Au XIXe siècle, sous la dynastie Nguyen, une nouvelle restauration fut menée par un lettré de la famille Nguyen. Celui-ci composa un texte intitulé « thuc uoc », visant à honorer les ancêtres et encourager le développement local. Il organisa également des activités rituelles et des festivités, notamment la fête « luc nguyet » (du 12 au 16 du 6e mois lunaire), attirant une large participation populaire.

Cependant, au fil des bouleversements historiques, le site tomba en ruine. Avant sa restauration, la plupart des structures avaient disparu, et même les tombes anciennes avaient été endommagées. La reconstruction actuelle constitue donc une véritable reconstitution sur les fondations anciennes.

Au XVe siècle, après l’échec de la résistance contre les Ming, Trung Quang De se suicida dans le fleuve Lam. Ses deux fidèles, Truong Quoc Dien et Tran Van Dinh, trouvèrent refuge à la pagode. Après leur mort, ils furent vénérés comme génies protecteurs, créant un modèle cultuel particulier associant culte bouddhique et culte des divinités (« tien Phat hau Than »).

Durant le mouvement révolutionnaire de 1930–1931, la pagode devint un centre d’activités clandestines. Des figures telles que Vo Nguyen Giap y séjournèrent. Elle servit de refuge, de point de liaison et de soutien logistique pour les révolutionnaires face à la répression coloniale.

Aujourd’hui, la pagode a été reconstruite avec une architecture mêlant modernité et tradition. Sous la direction du vénérable Thich Minh Tri, elle retrouve progressivement son rôle central dans la vie spirituelle locale.

Architecture et paysage

L’espace architectural de la pagode An Hau est organisé selon un axe longitudinal, créant une impression de solennité et guidant le pèlerin de l’extérieur vers l’intérieur suivant une progression rigoureuse. Dès l’entrée, des deux côtés de l’allée, sont disposées les statues des 18 La Han, formant un paysage vivant qui renforce le caractère majestueux de l’ensemble du site.

Le sanctuaire Tam Bao est construit selon un plan en forme de « Nhât » (一), une disposition courante dans l’architecture traditionnelle des pagodes de Nghe An. L’espace cultuel est structuré en plusieurs niveaux distincts. À l’entrée se trouvent généralement les statues des Ho Phap (gardiens du Dharma). En avançant vers l’intérieur, on accède à l’espace principal consacré au culte du Bouddha, organisé en trois niveaux statuaires :

Le niveau supérieur comprend les trois statues du Tam The Phat, symbolisant les trois temps : passé, présent et futur.
Le deuxième niveau est dédié au système du Tam Ton ; dans certains cas, seule la statue d’A Di Da est placée au centre.
Le troisième niveau varie selon les pagodes ; ici peut être installée la statue de Quan Am aux mille bras et mille yeux, riche en symbolisme.

À gauche se trouve l’autel des Thanh Hien, tandis qu’à droite est placé l’autel dédié aux deux généraux de Trung Quang De : Truong Quoc Dien et Tran Van Dinh, figures historiques étroitement liées au site. L’autel de Thanh Mau est disposé transversalement, assurant un équilibre dans la composition architecturale.

Dans la travée extérieure, à gauche est suspendu le khanh, et à droite la cloche, deux instruments rituels essentiels du bouddhisme, contribuant à l’ambiance sonore caractéristique de l’espace monastique.

En dehors du sanctuaire principal, les bâtiments annexes sont agencés de manière rationnelle : à gauche du Tam Bao se trouve la maison d’accueil, et derrière celle-ci la résidence des moines, servant à la vie quotidienne et à l’accueil des fidèles et visiteurs. L’ensemble architectural préserve les principes traditionnels tout en répondant aux besoins religieux contemporains.

Architecture et paysage – Objets conservés

La pagode conserve actuellement trois édits impériaux honorant Thanh Mau Hoa Nuong :

Édit sous Khai Dinh (40e anniversaire), titre Trinh Uyen Thanh Mau
Édit sous Duy Tan
Édit sous Thanh Thai, titre Duc Bao Trung Hung

On conserve également le texte « thuc uoc », riche en valeurs morales, sociales et culturelles.

Un élément remarquable est constitué par les anciennes bases en pierre (chan tang), conservées par les habitants malgré les destructions, puis restituées lors de la reconstruction. Ces vestiges symbolisent la mémoire collective et l’attachement au patrimoine.

Événements et fêtes

Ces dernières années, la pagode a organisé de nombreuses activités religieuses et caritatives :

Offrandes à 500 moines lors d’une retraite bouddhique
Cérémonies de prière pour les défunts lors de Vu Lan 2025
Libération d’animaux (6 tonnes de poissons en 2022 et 2023)
Organisation de grandes cérémonies de Vesak

Ces activités contribuent à diffuser les valeurs de compassion et à renforcer les liens communautaires.

Classement

La pagode An Hau a été classée monument historique au niveau provincial et municipal en 2013.

Références

  1. Chùa Ân Hậu đón nhận Bằng DTLSVH cấp tỉnh – Đài PTTH Nghệ An
  2. Lê Thanh Nga, “Chùa Ân”, Báo Văn  Nghệ An, Ngày 26/11/2009.
  3. Tài liệu phỏng vấn bác Lương Khắc Thanh, người có công khôi phục chùa, Ngày 29/04/2026.

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

恩后寺,常称“恩寺”,位于义安省荣富坊。从荣市中心出发,遗址位于东北方向约4公里处,交通便利,便于信众朝拜。

历史与人物

据传,恩寺是一座具有约七百年历史的古寺。相传在陈睿宗时期,宫中有一位乳母名为范氏玉容。离开京城后,她回到家乡恩村(旧属真福县恩后社),与当地民众共同募资,于13世纪左右创建了此寺。她去世后,百姓为纪念其功德建立祠庙,尊奉为“圣母范氏花娘”,民间称“王母娘娘”。其祠庙位于和甘村(今属宜泰社),距离恩寺约3公里东南方向。自此,恩寺成为重要的信仰中心,被视为当地居民世代相传的“精神摇篮”。

在发展过程中,恩寺多次修缮,其中尤以16世纪由一位白姓县丞主持的大规模重修最为重要。此次不仅修缮寺庙,还将整体面积扩展至3公顷以上,并增建亭与附属建筑,形成“寺—庙—亭”复合建筑群。这种组合反映了李—陈时期“三教同源”的融合趋势,体现出当地居民较早达到较高水平的哲学认知与文化生活。特别是该建筑群中的亭,不仅用于信仰活动,还曾作为旧真禄县的行政机构所在地,并保留有当时的官印。

同时,这位白姓县丞还开凿了一条名为“昆珍”的小河,从Nường水潭通向蓝江,用于排水与运输建筑材料,尤其是楠木。工程规模宏大,历时多年。民间传说,在施工期间,工人丢弃的菠萝蜜种子已发芽成长并结果,而工程仍未完工,反映出建筑群的宏伟与复杂。在集体记忆中,圆形亭子及其柱梁结构,以及恩后工匠制作的八贡轿,被视为义安地区罕见的建筑与艺术精品。

至19世纪阮朝时期,当恩后村进入繁荣阶段,该遗址再次由一位阮姓举人主持修缮。他不仅组织重建,还创作了《促约文》,既记录先人功绩,又激励乡民建设家园。在此次修缮中,村民开渠运输楠木建寺,并建立春平村,汇集工匠组成专业礼仪队伍,服务于节庆活动,特别是农历六月十二日至十六日的“六月祭”,纪念高僧张国典。届时各地民众汇聚,形成热闹的节庆氛围,并流传诸多神佛灵验的传说。

然而,历经历史变迁,恩寺逐渐荒废。重建前,大部分建筑已完全毁坏,甚至区域内古墓亦遭破坏。后来的修复实际上是在旧址上的重建,体现了民众对历史记忆与信仰的守护。

15世纪,在抗明起义失败后,重光帝投蓝江殉国,其两位近臣张国典与陈文定避难至恩寺。去世后,他们被尊为城隍,建庙祭祀,并获黎、阮两朝敕封。佛教与神祇信仰的并存,形成了“前佛后神”的独特宗教模式。

在1930—1931年革命高潮(义静苏维埃运动)中,恩寺成为革命干部的重要秘密据点,既是避难所,也是组织与联络中心。在此期间,武元甲与范维清(社支部书记、农会负责人)亦曾在此活动与居住。

当时局势紧张,宜禄、宜春地区斗争高涨,殖民政权遭到冲击,法国殖民者展开大规模镇压与报复,加强搜捕与控制。在此背景下,恩寺成为安全庇护所与信息、物资中转点,对维持革命网络发挥了重要作用。

如今,恩寺已在原址重建,建筑风格趋于现代,但仍保留传统元素。重建完成后,在政府与越南佛教协会许可下,释明智大德被邀请住持,逐步恢复寺庙在社区精神生活中的核心地位。

建筑与景观
恩后寺的建筑空间按照纵向轴线组织,营造出庄严肃穆的氛围,并引导朝圣者由外至内依序进入,形成严谨有序的空间体验。自入口处起,道路两侧陈列十八罗汉像,构成生动的景观,同时增强整体院落的威严感。
三宝殿采用“一字形”布局,这是义安地区传统寺庙建筑中常见的形式。祭祀空间分层明确。最外层通常供奉护法神像;向内深入则为主佛供奉区域,依三层佛像体系布置:

最上层为三世佛,象征过去、现在与未来三世;

第二层为三尊佛像,有些寺庙以阿弥陀佛为中心供奉;

第三层则根据各寺情况有所变化,此处可供奉千手千眼观音,造型丰富且富有象征意义。

左侧为圣贤供台,右侧为重光帝两位将领张国典与陈文定的祭祀台,这两位历史人物与该遗址密切相关。圣母供台沿横向布置,使整体建筑达到平衡。
外殿中,左侧悬挂磬,右侧悬挂钟,这两种法器在佛教仪式中具有重要作用,同时营造出寺院特有的声学氛围。
除主殿外,附属建筑亦布局合理:三宝殿左侧为客堂,其后为僧舍,用于日常生活及接待信众与来访者。整体建筑既遵循传统原则,又满足现代宗教生活的实际需求。

建筑与景观 / 文物

目前恩寺仍保存三道关于圣母花娘的敕封:

启定帝40寿辰敕封“贞婉圣母”
维新帝时期敕封
成泰帝时期敕封“翼保中兴”

此外,还保存有阮姓举人所作《促约文》(原文略,已完整保留)。

另有一项重要遗存为古石柱础。这些构件历经变迁由村民长期保存,并在寺庙重建时归还。虽体积不大,却承载着深厚的象征意义,体现了社区对遗产的珍视与感恩之心。

事件与节庆

近年来,恩寺积极开展佛事活动、宗教节庆及公益项目,弘扬慈悲精神,促进社区凝聚。

其中包括供养500名参加越南佛教学院安居法会的僧尼,以及在2025年盂兰节期间举行大型超度与施食法会,以纪念祖先、超荐亡灵。

在历年佛诞节中,寺庙组织多项活动,如2022与2023年放生6吨鱼,体现佛教慈悲救度众生的精神。同时举办修行法会,为信众提供规范修学环境。

2025年佛诞大典尤为隆重,吸引众多信众参与,成为当地重要的宗教文化事件。

这些活动不仅巩固了寺庙的精神地位,也传播了伦理与人文价值。

等级认定

恩后寺于2013年被认定为省级、市级历史遗迹。

参考资料

  1. Chùa Ân Hậu đón nhận Bằng DTLSVH cấp tỉnh – Đài PTTH Nghệ An
  2. Lê Thanh Nga, “Chùa Ân”, Báo Văn  Nghệ An, Ngày 26/11/2009.
  3. Tài liệu phỏng vấn bác Lương Khắc Thanh, người có công khôi phục chùa, Ngày 29/04/2026.
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin
76

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)