Khái quát
Thật lạ lùng cho thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ! Gần như họ không có tên. Khi có chồng, họ được gọi theo tên của chồng; khi có con lại được gọi theo tên của con. Thế nhưng, trong văn học sử còn ghi lại những trường hợp khá thú vị là người chồng được người đời sau biết đến tên chính nhờ sự nổi tiếng… của vợ! Chúng ta có thể kể đến trường hợp của Bà Huyện Thanh Quan. Ở thế kỷ XIX, tại phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây – Hà Nội) có một trang nhan sắc tên là Nguyễn Thị Hinh, nổi tiếng hay chữ, là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760-1825). Bà kết duyên trăm năm với ông Lưu Nguyên Ôn (Lưu Nghi) sinh năm 1804 tại thôn Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì (Hà Nội). Ông Ôn đậu cử nhân năm 1821, từng giữ chức tri huyện Thanh Quan (nay huyện Thái Ninh- Thái Bình). Do đó, khi về làm dâu dòng họ Lưu, mọi người quen gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan.
Khác với tính tình trầm tĩnh, mực thước của chồng, bà Huyện lại trẻ trung tinh nghịch và thích đùa vui dí dỏm. Trời vừa hửng sáng, ông Huyện đã khăn gói chỉnh tề đi công cán. Đâu đó, còn có tiếng gà gáy vội. Những vòm tre xanh nghiêng trong gió tạo nên âm thanh dân dã quê mùa. Bà Huyện đang ngồi trước trang giấy mới. Không khí trong lành của buổi sáng đã đem đến cho bà cảm xúc nguồn thơ. Vừa chấm bút vào nghiên mực, định viết một câu thơ thoáng đến trong tâm trí thì có tiếng ồn ào ngoài cửa. Bà ngước mắt nhìn ra thì hai tênlính lệ đã dẫn một người đàn bà vào. À! Cái Đào ở làng trên đây mà, mới nên duyên chồng vợ mà đã cơm không lành canh không ngọt rồi sao? Thấy mặt bà Huyện, cô ta òa lên khóc, rồi kể lể lại hành động vũ phu của người chồng tệ bạc. Thông cảm cho thân phận phái yếu cũng như mình, bà Huyện lựa lời an ủi. Nhưng cô ta vẫn khóc và đưa ra lá đơn xin cho được ly hôn. Bà Huyện giật mình. Chà! Chuyện này thì không thể giải quyết được, phải đợi chồng về thôi. Nhưng tiếng khóc ấm ức cứ sụt sịt mãi, nghĩ cũng thương tình, đọc xong lá đơn, bà ngồi thừ người ra suy nghĩ. Giây lát sau, bà đặt bút phê vào đơn:
Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai
Chữ rằng: xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già!
Nhận lại lá đơn này, cô Đào vui vẻ trở về nhà và ly hôn với chồng theo lời phê trên. Anh chồng này cũng không phải là tay vừa. Thấy lời phê như thế thì phát đơn kiện. Bấy giờ ông Lưu Nguyên Ôn mới rõ sự việc, ông nghiêm cấm vợ từ nay không được tùy hứng giải quyết việc công nữa. Tuy thế, một lần khác, chồng đi vắng, bà lại nhận đơn thay cho chồng. Hôm ấy, trời ngã về chiều. Lúa xanh mởn. Gió trong lành. Mọi người nhốn nháo cả lên trước tin vui chàng cống sinh trong làng vừa mới thi đậu đang “vinh quy bái tổ”. Thiên hạ nô nức ra tận đầu làng đón. Ông Cống đã vào huyện đường chào quan và nhân đó đệ đơn xin phép được mổ trâu ăn khao để trả nợ làng. Bấy giờ đang mùa cày cấy nên luật lệ của huyện là nghiêm cấm sát sinh. Dù biết vậy, nhưng vốn là nhà thơ lại có ý nể vị tân khoa nên sau giây lát ngẫm nghĩ, bà Huyện tủm tỉm cười và đặt bút phê:
Người ta thì chẳng được đâu
Ừ thì ông Cống làm trâu thì làm!
Ông cử tân khoa cầm đơn mà dở khóc dở cười, vì “làm trâu” có thể hiểu là mổ trâu, nhưng cũng có thể ngầm hiểu “muốn làm thân trâu bò” thì làm! Đấy! Cái nghịch của bà Huyện thâm thúy là thế. Qua những giai thoại trên, có lẽ ai cũng hình dung một Bà Huyện Thanh Quan tinh nghịch, hóm hỉnh, trẻ trung, vui vẻ nhưng thật ra, trong sâu thẳm tâm hồn của bà vẫn chan chứa một nỗi niềm u uẩn. Nói như nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm thì: “Những bài thơ Nôm của bà còn truyền lại có ít, phần nhiều là thơ tả cảnh, tả tình, nhưng bài nào cũng hay và tỏ ra là một người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức thường nghĩ ngợi đến nhà, đến nước. Lời văn rất trang nhã, điêu luyện”. Sống trong một giai đoạn lịch sử đang có nhiều thay đổi sâu sắc, do đó, trong thơ của bà huyện cũng mênh mang một nỗi niềm khó giãi bày với người khác.
Sự nghiệp sáng tác
Không rõ bà sinh năm nào, chỉ biết chồng bà sinh vào năm 1804. Như vậy, cho dù bà hơn kém hay bằng tuổi ông thì lúc bà cất tiếng khóc chào đời vương triều vua Lê chúa Trịnh đã sụp đổ dưới vó ngựa thần tốc của anh em Tây Sơn. Nhưng rồi chỉ trong chớp mắt nghĩa quân “áo vải cờ đào” tan tác binh mã dưới những cuộc tiến công của Nguyễn Ánh bởi Quang Trung Nguyễn Huệ đột ngột qua đời. Bà đã sống trong giai đoạn nhà Nguyễn thiết lập bộ máy chuyên chính từ Nam chí Bắc. Trước biến đổi dữ dội này, các sĩ phu Bắc Hà đã có một chút tiếc nuối ngậm ngùi đối với vương triều cũ. Sống dưới chế độ mới họ có sự hoài nghi – khi được mời ra làm quan thì họ cũng không hứng thú hoặc khéo léo từ chối. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà ở giai đoạn này trong sáng tác văn học của văn nhân bộc lộ nhiều tư tưởng hoài cổ, niềm ưu tư trước thế sự. Trường hợp thơ của Bà Huyện Thanh Quan cũng nằm trong trào lưu chung của thời đại. Giữa lúc nhà Nguyễn đang ngất ngưởng quyền lực, thi hành nhiều chính sách mới trong đường lối cai trị thì bà Huyện cũng quan sát mọi vấn đề của thời sự đang diễn ra. Nhưng qua lăng kính của tâm hồn bà, ta chỉ thấy một sự cảm nhận bùi ngùi, đau xót trước những thay đổi:
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
(Thăng Long thành hoài cổ)
Với phong cảnh chùa Trấn Bắc, khi dạo gót chiêm bái cửa Phật nhưng tâm hồn của bà vẫn không vui. Ngôi chùa này ở phía đông Hồ Tây (Hà Nội), nguyên tên là chùa An Quốc làm từ đời Trần và đổi thành tên Trấn Quốc vào năm 1628 đời vua Lê Thần Tông; sau đó, năm 1639, chúa Trịnh cho sửa sang lại, đổi thành tên Trấn Bắc. Viếng cảnh chùa, lẽ ra tâm hồn bà trầm mặc, nhẹ nhàng nhưng trong giây lát đó, bà cất tiếng thở dài:
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,
Trạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Mấy tòa sen rớt mùi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa, cảnh cũ nào đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu!
(Chơi chùa Trấn Bắc)
Chính câu thơ cuối cười cợt quá chua chát nên cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn ngờ là bài thơ này của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (?) hoặc có người cho rằng câu ấy phải là “Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu” thì mới đúng phong cách thơ của bà. Trong tâm trạng không vui ấy thì việc chồng ra làm quan, với bà có lẽ đây cũng không phải là một vinh dự lớn lao gì đáng để tự hào cả! Bằng chứng là những lúc vắng chồng, dù phận gái nhưng bà cũng có thể đứng ra xét xử việc công đường kia mà. Dù không quan hệ rộng rãi với các sĩ phu đương thời, nhưng các văn nhân tài tử cũng đều ngưỡng mộ bà là một bậc hay chữ.
Năm tháng trôi qua thật nhanh. Không rõ vì lý do gì mà chồng của bà bị cách chức. Chỉ là một viên quan nhỏ không có tài cán gì nổi bật, lại không biết lòn cúi, nịnh bợ với quan trên nên ông Lưu Nguyên Ôn không may mắn trên đường hoạn lộ. Ông bị điều về kinh đô Thuận Hóa (Huế) để chờ sai phái. Thuyền theo lái, gái theo chồng. Bà huyện theo chồng về kinh. Trên dặm đường thiên lý, bà phóng tầm mắt nhìn phong cảnh thiên nhiên. Vó ngựa vẫn đi chậm rãi. Đường đèo quanh co, khúc khuỷu. Lúc đoàn người đi qua tỉnh Nghệ, đến đỉnh đèo Ngang với độ cao 256 mét thì nắng chiều cũng vừa đang hấp hối sau núi. Ngọn đèo này thuở trước là nơi đóng đồn lũy trong cuộc chiến tranh Nam – Bắc giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Mọi người dừng chân nghỉ ngơi tại “Hoành Sơn quan” để sớm mai tiếp tục cuộc hành trình. Đứng giữa cõi bao la của trời đất, nhìn bốn phương tám hướng, tâm hồn của bà dạt dào niềm xúc cảm bùi ngùi:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mái nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta!
(Qua đèo Ngang)
Có lẽ, đây là bài thơ viết về đèo Ngang hay nhất và cũng phổ biến nhất trong văn học Việt Nam. Nhưng nó cũng gây tranh cãi nhiều nhất trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Chẳng hạn, rợ mái nhà hay chợ mái nhà hoặc đã dừng chân thì sao lại còn đứng lại (vậy hợp lý nhất vẫn là dừng chân ngoảnh lại chăng? v.v… Cuộc hành trình vẫn tiếp tục, từ đó họ vượt đúng 235 km nữa để đến Thuận Hóa. Trong triều Nguyễn, Minh Mạng là ông vua có tầm nhìn xa trong việc trị nước – một trong những chủ trương đúng đắn của ông là chiêu hiền đãi sĩ. Những danh sĩ lừng lẫy của Bắc Hà như Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ… cũng được vời ra làm quan trong giai đoạn này. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà lúc bà huyện theo chồng về kinh thì vua Minh Mạng đã phong bà giữ chức Cung trung giáo tập – chuyên lo về việc dạy học cho công chúa, cung nữ ở trong cung đình. Giao cho một nữ sĩ đất Bắc đảm nhiệm vai trò này, rõ ràng nhà vua tin tưởng ở học thức, tính nết đoan trang hiền thục của bà biết chừng nào. Có giai thoại kể lại rằng, trong buổi ra mắt “thiên tử” sau những lời hỏi han thân tình, nhà vua có đem ra khoe bộ chén kiểu của Trung Quốc, trên đó có đề thơ viết bằng Nôm và vẽ cảnh sơn thủy hữu tình tuyệt đẹp. Nhà vua cắc cớ bảo bà huyện thử làm hai câu thơ vịnh. Biết là ngài đang thử tài mình nên không một chút đắn đo, bà đọc luôn:
Như in thảo mộc trời Nam lại
Đem cả sơn hà đất Bắc sang.
Nghe xong, ai nấy đều gật gù khen hay. Nhìn thấy trên tường có bức tranh phong cảnh của danh họa Trung Quốc, nhà vua cao hứng đọc vế đối:
Treo tranh trên vách, thâu tóm hết non sông bốn biển;
Trong lúc mọi người đang suy nghĩ tìm cách đối lại thì bà đã tủm tỉm cười và đọc:
Rửa chân trong ao, lay động trăng sao chín tầng trời.
Vế đối lại ai cũng chịu là giỏi, phải là một người có học thức uyên bác, thông làu kinh sử mới có thể ứng đối nhanh như thế. Cũng trong buổi ra mắt, nhà vua đã độ lượng viết chữ “Phúc” và chữ “Thọ” ban cho các đại thần và hỏi nét chữ của ngài như thế nào? Quả thật, ngài viết tháo, chữ “Phúc” béo phục phịch, chữ “Thọ” dài ngoằng nên bà mới đùa:
– ”Phúc” tối hậu, “thọ” tối trường!
Nhà vua biết bà chê chữ mình xấu một cách tinh tế, thông minh như thế nên không nỡ… giận! Năm tháng ở cung đình dù sống trong nhung gấm, nhưng tâm hồn bà vẫn không nguôi nhớ quê nhà. Chính tình yêu này đã để lại cho văn học Việt Nam những bài thơ tuyệt hay:
Vàng tỏa non tây, bóng ác tà,
Đằm đằm ngọn cỏ, tuyết phun hoa.
Ngàn mai lác đác chim về tổ,
Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà.
Còi mục thét trăng miền khoáng dã,
Chài ngư tung gió bãi bình sa.
Lòng quê một bước dường ngao ngán,
Mấy kẻ tình chung có thấu là?
(Nhớ nhà)
Như trò đùa của tạo hóa, lúc chồng bà lại được thăng làm Viên ngoại lang, thì cũng là lúc ông đang lâm bệnh nặng. Chẳng biết nên vui hay buồn. Trước căn bệnh ngặt nghèo này, triều đình cho phép ông được về quê chữa chạy. Có lẽ, đây là dịp mà bà huyện đã trở lại quê nhà cho nguôi nỗi nhớ nhung dằn vặt năm tháng:
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?
(Buổi chiều lữ thứ)
Nhưng điều không may cho bà là ít lâu sau, chồng bà mất. Đó là năm 1847. Hai năm sau, khi lên ngôi, vua Tự Đức đã cho sắc chỉ tặng phong cho ông chức Lang trung. Âu cũng là một cách ghi nhận công lao đóng góp của kẻ bề tôi nhà Lê ra phò nhà Nguyễn. Không rõ, sau khi chồng mất, bà huyện có còn ở lại kinh để giữ chức Cung trung giáo tập hay về ở luôn quê nhà? Thậm chí, bà mất năm nào ta cũng không rõ. Cuộc đời về sau của bà, chỉ có duy nhất một tài liệu ghi vào khoảng năm 1870, ông lý trưởng Nguyễn Danh Khang (có tài liệu ghi Nguyễn Hữu Khang, tức Lý Râu hoặc Lý Chắm) đã vận động nhân dân Hồ Tây đấu tranh chống lệ tiến chim sâm cầm cho nhà vua. Loại chim này tựa con le le, từ phương Bắc bay về Hồ Tây, nghe nói thịt nó bổ lắm vì nó ăn cây sâm ở phương Bắc nên được gọi là “sâm cầm” là vậy. Cứ đến mùa là dân đen phải bỏ công ăn việc làm, đêm ngày rình rập giăng lưới bắt sâm cầm mập béo cho vua “ngự thiện”. Chia sẻ với việc làm của ông Lý Râu nên Bà Huyện Thanh Quan, lúc bấy giờ đã ngoài 60 xuân, phải trần tình với nhà vua giúp dân, nhờ vậy về sau lệ này mới bỏ.
Dù tiểu sử của bà còn nhiều điều chúng ta chưa biết hết, nhưng qua các bài thơ tuyệt hay để lại, đời sau vẫn biết ở thế kỷ XIX, có một nữ sĩ mang tên Bà Huyện Thanh Quan. Thơ Đường luật của bà điêu luyện, già giặn trong từ ngữ, chặt chẽ trong niêm luật nhưng hơi thơ vẫn tự nhiên, không gò bó.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.