Đạm Phương (1881 – 1907)

Đạm Phương (1881 – 1907)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Đạm Phương Nữ Sử là một tên tuổi lớn trên trường văn trận bút của đầu thế kỷ này. Bà tên thật là Công Nữ Đồng Canh, tự Quý Lương, sinh năm 1881 tại phủ Tôn Nhơn (Huế) là con gái thứ hai của Hoàng Hóa Quận Vương Nguyễn Miên Triện (hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng). Từ thuở còn con gái, bà đã nổi tiếng là người hay chữ, sáng tác được hai tập thơ là Đông quán thi tập và Tú dư xích độc. Năm bà 16 tuổi, 1897, phu nhân Nguyễn Khoa Luận sang giạm hỏi để cưới cho con trai thứ sáu là Nguyễn Khoa Tùng. Nguyễn Khoa là dòng họ danh giá cố cựu bậc nhất ở kinh thành. Trên đường về bãi biển Thuận An, ngang qua thôn Vĩ Dạ, có những phủ đệ cổ kính khuất mình sau vòm cây rợp bóng mát, nếu ngôi biệt thự nào nhìn về hướng chính nam – bên phải về đông, bên trái về tây thì chắc chắn đó là những dinh cơ trong dòng họ Nguyễn Khoa.

Cuộc đời

Khi giặc Pháp bắt vua Hàm Nghi và đưa bù nhìn Đồng Khánh lên ngôi thì ông Nguyễn Khoa Luận treo án từ quan, bỏ đi tu với đạo hiệu là Viên Giác đại sư. Nghe phu nhân của Nguyễn Khoa Luận giạm hỏi con gái mình, ông Nguyễn Miên Triện đáp:

– Con gái tôi còn kém cỏi, chẳng biết làm gì cả. Suốt ngày chỉ biết đọc sách, ngâm thơ. Về làm dâu, sợ không giúp được việc cho nhà chồng.

– Thưa, dụng nhân như dụng mộc. Cây có thứ mọc hoang trong vườn, có thứ trồng trong chậu kiểng. Nhà tôi đã có người giúp việc. Cô dâu thích văn thơ, về tôi dành cho làm văn thơ.

Sau cuộc gặp gỡ này, Công Nữ Đồng Canh về làm dâu dòng họ Nguyễn Khoa. Chồng bà là Nguyễn Khoa Tùng – được triều đình phong Hàn lâm viện Cung Phụng, nên mọi người thường gọi là ông Nghè Sáu, chứ không gọi đích tên – cũng là người hay chữ, giỏi đàn và thích làm thơ ngâm vịnh. Đôi vợ chồng “tương kính như tân” những ngày thật đầm ấm và hạnh phúc như trong bài thơ Khai bút năm 1925 bà cho biết:

Mừng thấy dương hòa đượm vẻ xuân,
Trăm hoa đua nở trước thềm xuân.
Chén mời hòa hợp vui đôi trẻ,
Tuổi hạc cao dày chúc lão thân.
Thưởng tiết tân niên chung một tiệc,
Đề thơ khai bút, đủ năm vần.
Vợ chồng con cháu ngày sung mãn,
Cội đúc vun trồng lấy nghĩa nhân.

Năm tháng chung sống với nhau, ngoài xướng họa và hoàn thành tập thơ chung Hiệp bích thi cảo, họ còn sinh những người con là Nguyễn Khoa Diệu Nhơn, Nguyễn Khoa Diệu Duyên, Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Văn, Nguyễn Khoa Châu và Nguyễn Khoa Văn. Trong những người con của bà có người đã lưu danh trong văn học sử là nhà lý luận văn học Nguyễn Khoa Văn – tức Hải Triều, giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I). Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm – nguyên Bộ trưởng Bộ VHTT, con trai Hải Triều – chính là cháu nội của bà.

Trong hoàn cảnh đất nước đã mất vào tay giặc Pháp, những người trong hoàng tộc không còn sống vương giả như trước. Nhưng ngay từ nhỏ Công Nữ Đồng Canh đã may mắn được dạy về cầm, kỳ, thi, họa; được sự giáo dục chu đáo nên kiến thức văn hóa uyên thâm. Nhà thơ Nguyễn Khoa Vy nổi tiếng ở đất Thần kinh có làm câu đối ca ngợi tài đức của bà:

– Văn tài nữ sử, sư phạm nữ công, e khi nữ giới yêu cầu, đi phó hội theo chân bà Trưng Nữ;

Khí phách nam nhi, tinh hoa Nam Việt, nhớ thuở Nam Giao truy điệu, lên diễn đàn thay mặt cụ Sào Nam.

Do từng giữ chức nữ quan biên chép việc nội cung và dạy cho công chúa, cung nữ học hành, thêu thùa, được phong chức Nữ Sử, do đó, trong các bài viết bà đã ký tên Đạm Phương Nữ Sử. Bạn thân với bà là Trần Thị Như Mân – vợ nhà văn hóa Đào Duy Anh – có cho biết “Về làm dâu trong gia đình quan lại đã suy tàn, cuộc sống vật chất của bà Đạm Phương không được dư dật lắm. Vì vậy bà phải học làm nhiều nghề để góp phần chi tiêu trong nhà như nuôi tằm dệt vải. Không ngờ sau này những hiểu biết đó đã giúp cho bà rất nhiều trong các hoạt động xã hội. Thời đó, tư tưởng coi thường lao động chân tay còn rất nặng nề, nhất là đối với những gia đình trung lưu ở thành thị. Sinh trưởng trong một hoàn cảnh như bà Đạm Phương, lại biết tự mình tham gia lao động phổ thông, cũng phải nói là một việc làm hiếm có. Vì trong xã hội bấy giờ, thiếu chi người gặp khó khăn thật sự, nhưng vẫn không chịu lao động, chỉ quen sống đài các bằng sự dựa dẫm vào bà con chung quanh… Nhưng khi các con đã lớn, học hành thành đạt, bà Đạm Phương mới bắt đầu dành nhiều thời gian để làm những việc hợp với chí hướng của mình”.

Từ năm 1918, lúc 37 tuổi, bà bắt đầu xuất hiện trên trường văn trận bút với nhiều thể loại, nhiều đề tài. Nhưng đóng góp lớn nhất của bà trên văn đàn đầu thế kỷ XX vẫn là chủ đề về giải phóng phụ nữ, giáo dục nhi đồng – đó lànhững nền tảng căn bản để xây dựng một xã hội tốt đẹp của tương lai. Thật khó hình dung về kiến thức uyên bác và tư tưởng duy tân ở bà Đạm Phương. Từ năm 1918 đến năm 1929, bà đã viết trên 155 bài báo Trung Bắc Tân Văn, tạp chí Nam Phong, Hữu Thanh, Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn đề cập về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Những vấn đề bà đặt ra, cho đến nay vẫn còn ý nghĩa thời sự. Bên cạnh đó bà còn giành nhiều công sức biên soạn những tập sách như Gia đình giáo dục thường đàm, Bàn về vấn đề giáo dục con cái, Phụ nữ dự gia đình, Giáo dục gia đình… Thử xem qua phần “sách tham khảo” mới biết bà dùng cả tài liệu tiếng Hán và tiếng Pháp. Sức học và sức đọc của bà thật đáng khâm phục. Do đó, không ngẫu nhiên mà nhà sư Viên Thành lừng lẫy ở xứ Huế đã viết về bà (dịch):

Học vấn uyên thâm như Phục Nữ;
Văn chương tuyệt diệu tựa Tào Nga.

Quan điểm của bà về giải phóng phụ nữ trong thời điểm đầu thế kỷ XX rất mới, nay đọc lại ta thấy vẫn chưa lỗi thời. Bà cho rằng, người phụ nữ rất cần được giáo dục ở hai môi trường: “Là nhờ trường nữ học của nhà nước để đào luyện tinh thần trí não, muốn cho khôn ngoan thì phải có học. Là trường học gia đình, thì ngày thường cha mẹ phải rèn tập lấy khuôn phẩm hạnh cho con cái, người trí thức ai cũng hiểu rằng: sự học của con gái cần phải khai thông, vì người đàn bà cũng chung đúc khí thiêng của núi sông mà nên người…”. Với suy nghĩ đó bà kêu gọi người phụ nữ muốn giải phóng mình thì trước hết mình phải học, phải có nghề nghiệp.

Quan điểm này quả là mới mẻ ở xã hội Việt Nam thời đó, cái thời mà xã hội đã hình thành nếp suy nghĩ từ hàng ngàn năm là người phụ nữ chỉ cần biết cái bếp trong nhà là đủ! Bà cho rằng “Người đàn bà muốn giữ quyền lợi cho mình phải nên có mười điều” chẳng hạn như phải tự sửa mình, phải cần kiệm, siêng năng công việc; “đối với chồng phải trọng nể nhau, đừng lấy tình thương yêu mà đem lòng hờn dễ, thường thường cứ coi nhau như một bậc khách quý, mặt mũi tươi cười mà chớ nên giỡn cợt, mình phải giữ đạo làm vợ để người ta phải giữ đạo làm chồng, hết lòng hết sức lo lắng công việc trong gia đình, làm sao cho ngườita chịu công nhận cái phần nội tướng phải trông cậy ở mình”; “đối với cha mẹ chồng, anh em họ hàng nhà chồng, phải coi như anh em cha mẹ nhà mình, chớ thấy người nghèo kẻ khó, sa sút thua mình mà khinh bỉ, hay quê mùa dốt nát mà sinh lòng rẻ rúng”; phải biết cách nuôi con, phải kín đáo, ngăn nắp, đối với kẻ hầu, người ở trong nhà phải khen thưởng phân minh, phải có nghề nghiệp “không hạn nghề gì, cốt để mà bảo vệ lấy thân mình, phòng khi lỡ bước sa chân, khỏi mất cái thể diện con người”…

Nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của bà, tác giả Nguyễn Khoa Diệu Biên và Nguyễn Cửu Thọ đã viết một cách chính xác khi nhận định về bút lực của bà: “Là hoài bão xây dựng một nền nữ học phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh đương thời. Ý tưởng của bà có thể được tóm tắt như sau:

– Muốn bình quyền, bình đẳng với nam giới, trước hết người phụ nữ phải có những khả năng cần thiết nhất – đó là đức hạnh và tài năng.

– Đức hạnh và tài năng đó trước hết phải được giáo dục và rèn luyện trong gia đình từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành.

– Song song với giáo dục gia đình, người phụ nữ phải được tiếp nhận từ nhà trường một nền học vấn cơ bản tối thiểu là học hết bậc tiểu học.

– Với vốn tri thức cơ bản đó, người phụ nữ phải học lấy một nghề để có thể sống tự lập và góp phần phát triển kinh tế, không phụ thuộc và ỷ lại vào nam giới, không ăn bám chồng con”.

Không chỉ hô hào trên mặt báo với những dòng chữ tâm huyết như rút ruột ra mà viết, bà Đạm Phương còn là một người hành động. Một trong những cống hiến lớn nhất của bà Đạm Phương là việc kêu gọi nữ giới thành lập Học hội nữ công. Từ năm 1921, trên Nam Phong tạp chí, bà đã đề cập đến “Vấn đề nữ học” rồi sau này, trên báo Trung Bắc tân văn số ra ngày 22/3/1926, một lần nữa bà khẳng định: “Nước mình đàn bà con gái không phải không có đầu óc thông minh, cũng không phải không có tài năng song không biết cùng nhau mà mưu sự nghiệp hạnh phúc chung làm cho sự nghiệp về đường nữ cônglà cái phận sự của mình, phải nên chăm chút để gây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới mong có ngày nở mày nở mặt với người đời. Vả trong sự học là có hai đường: một là thuộc về tinh thần lý tưởng, hai là thuộc về vật chất thực hành.

Văn chương là để bồi bổ sự đạo đức, còn công nghệ là để giúp cho sự sinh hoạt cũng ví như người có hồn phải có xác nên chuyện về tinh thần tức là trọng lấy một phần hồn, mà trọng về vật chất tức là được một phần xác mà thôi. Cho nên bất luận là trai hay gái, trước phải có học thức văn chương sau phải có nghề nghiệp cho tinh xảo để giúp mình được tự lập”. Với những suy nghĩ này, ta thấy dù là một trang tiểu thư từng sống trên nhung lụa, sống trong sự bao bọc của quyền lực hoàng tộc nhưng bà Đạm Phương vẫn vượt ra ngoài ràng buộc ấy để dấn thân vào hoạt động tích cực của xã hội. Bấy giờ, cuối năm 1925, bậc hào kiệt lừng lẫy Phan Bội Châu đã bị thực dân Pháp giam lỏng ở Huế. Cụ trở thành một điểm sáng để lòng dân ngưỡng mộ và hướng niềm tin son sắt về cụ. Dù bọn mật thám răn đe, theo dõi nhưng những người yêu nước vẫn tìm đến “ông già Bến Ngự”, trong số đó có bà Đạm Phương. Qua những lần gặp gỡ đó, ít nhiều tư tưởng của cụ Phan đã được bà Đạm Phương tiếp thu để biến thành hiện thực. Ngày 24/3/1926, cụ Phan Chu Trinh từ trần, cả nước đã làm lễ truy điệu và trở thành cuộc vận động biểu dương lòng yêu nước của mọi tầng lớp đồng bào. Tại Huế, lễ truy điệu được tổ chức tại đàn Nam Giao, cụ Phan Bội Châu không đến dự được, có nhờ bà Đạm Phương đọc giúp bài văn tế của cụ và bản thân bà cũng có đọc hai câu đối ca ngợi sự nghiệp cao cả của bậc chí sĩ:

Mấy mươi năm góc biển ven trời, vằng vặc tấm cô trung, trên vì nước dưới vì dân, tinh thần vẫn lai láng sông núi Việt; Đã nhiều thuở khua chuông gióng trống, thiết tha hồn cố quốc, trước hiệp lòng, sau hiệp sức, sự nghiệp đành phó thác cháu con Hồng.

Có thể nói, sau những lần gặp gỡ với nhà cách mạng lão thành từng bôn ba hải ngoại, từng trải kinh nghiệm trong đấu tranh vì Dân, vì Nước, bà Đạm Phương đã tiếp thu ý kiến của cụ Phan là nên thành lập một hiệp hội nhằm đoàn kết, giáo dục phụ nữ nước nhà. Trong hồi ký của bà Trần Thị Như Mân có cho biết:

Sau đó, bà Đạm Phương gặp một số chị em chúng tôi, đưa ra chủ trương thành lập “Nữ công học hội”. Mục đích của Hội là dạy công việc gia chánh, đồng thời lấy đó làm nơi gặp gỡ của chị em phụ nữ. Chủ trương đó được hầu hết chị em trẻ chúng tôi tán thành và hết lòng tham gia. Hồi đó, phụ nữ chúng tôi có biết chuyện hội họp là cái gì. Ngoài những khi tiếp xúc ở lớp học hay tại nơi làm việc ra, chúng tôi chỉ biết sống trong gia đình. Việc nữ công được hiểu là công việc bếp núc, may vá thêu thùa mà bất cứ người con gái nào cũng phải biết để phụng dưỡng cha mẹ, chăm lo cho chồng con. Với việc thành lập Nữ công học hội, khái niệm về nữ công cũng được mở rộng hơn. Chị em phụ nữ tham gia hội là để học lấy một nghề. Công việc gia chánh không phải chỉ là việc trong gia đình, mà còn nhằm mục đích nuôi sống bản thân mình. Muốn tham gia công tác xã hội trước hết phải biết sống tự lập về mặt kinh tế. Nhưng điều quan trọng nhất đối với chúng tôi là từ nay có một nơi để thường xuyên lui tới, gặp gỡ để cùng nhau trao đổi những băn khoăn về thời cuộc, nói lên những hoài vọng của mình, được thoát ly phần nào khỏi cuộc sống chật hẹp của gia đình. Chính lúc này, uy tín bà Đạm Phương đã tạo nhiều thuận lợi cho sự tập hợp của phụ nữ ở Huế. Có những bậc cha mẹ khó tính, không muốn cho con gái đi ra ngoài. Nhưng khi biết đây là tổ chức do bà Đạm Phương chủ trương thì không ai ngăn cản. Không hiểu hồi đó bà Đạm Phương nghĩ về công việc của mình như thế nào, nhưng ngày nay nhìn lại những việc làm đó, tôi thấy quả là một hành động có tính chất cách mạng, dám vượt ra khỏi những trói buộc của thành kiến xã hội, tuy rằng tác dụng của nó cũng chưa phải là nhiều lắm.

Nữ công học hội được thành lập vào cuối tháng 4/1926 với thành phần nhân sự chủ chốt: bà Đạm Phương (hội trưởng), bà Trần Quang Khải (phó hội trưởng), Trần Thị Như Mân (tổng thư ký) và nhiều ủy viên khác như Nguyễn Khoa Tú, Ưng Úy, Thân Trọng Phước, Nguyễn Bá Trác… Khi bước vào hội quán (nằm trên đường Nguyễn Huệ, gần nhà dòng Chúa cứu thế ngày nay), người ta sẽ thấy hai câu đối của bà Đạm Phương nêu bật tôn chỉ, mục đích của hội:

– Đạo đức sẳn nền xưa, Trung Nam Bắc dìu chị dắt em, xây đắp bồi thêm văn hiến cũ;

Á Âu đương hội mới, Công Ngôn Hạnh giữ gìn nền nếp, tập tành mong để lợi quyền chung.

Trong ngày khánh thành hội quán – ngày 15/6/1926, cụ Phan Bội Châu không xuất hiện để bọn mật thám khỏi nghi ngờ, tránh tiếng để hội dễ hoạt động. Trước mặt các quan chức, bà Đạm Phương đã đọc bài diễn văn quan trọng, trong đó có đoạn nêu rõ: “Cái thói ỷ lại của bọn nữ lưu chúng ta đã gần như một cái bệnh thâm niên rồi. Ỷ lại tức là nguồn gốc nô lệ đó vậy. Nếu muốn kéo lại nữ quyền thì trước hết phải tìm nhân cách cho nữ giới, mà muốn tìm nhân cách cho nữ giới thì trước hết phải tảo trừ cái bệnh ỷ lại đó.

Thuốc chi bây giờ?

Cái bài thuốc ấy chính là mục đích quan trọng thứ nhất của bản Hội. Cái bài thuốc ấy là gây cho bọn quần thoa một cái tinh thần tự lập bằng các nghề nghiệp của mình, trong cái phạm vi đạo đức, tri thức Đông phương và Tây phương hòa hợp với nhau đó. Sau đó là kết cái dây đoàn thể để bênh vực lợi quyền cho nhau”.

Sau này, các bậc chí sĩ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng cũng đến thăm hội. Cụ Phan đã tặng Hội bản thảo quyển Nữ quốc dân tu tri để làm tài liệu cho phụ nữ học tập mà sau đó Hội đã xuất bản. Còn cụ Huỳnh hào hứng phát biểu: “Đương lúc nữ giới mới cũ dở dang như ngày nay, nền nếp đạo đức cần kiệm, tiết hạnh của mấy bà ta xưa đã hơi tiêu mòn, mà cái thói dở Âu, dở Á xa hoa lòe loẹt lại càng tràn trong xã hội ta, mà có cái Hội này xuất hiện ra, không khác gì đi miền sa mạc thấy một vùng cây tốt xanh đứng xa mà trông thấy trong lòng sinh vui vẻ vậy”. Quy mô của Hội ngày càng phát triển, bà Đạm Phương đã cử một số cán bộ ra Hà Đông, Hà Nội vào Quảng Nam học thêm các nghề mới như dệt vải, ươm tơ, nuôi tằm để về phổ biến lại cho chị em trong Hội. Hoặc biết nơi nào mới sáng chế được máy móc phục vụ tốt cho sản xuất thì bà viết thư mời người đó dạy cho hội viên. Chẳng hạn như bà mời ông Diễm ở Hà Đông vào Huế dạy hội viên cách dệt vải khổ rộng với năng suất cao hơn kiểu dệt cũ. Kiểu máy độc đáo này là do ông Bùi Đình Dương ở Hà Tây sáng chế. Khi công việc của Hội ổn định, đi vào hoạt động có nề nếp thì bà Đạm Phương đã đi vào Nam ra Bắc tuyên truyền, cổ súy thành lập các Nữ công học hội tương tự. Nơi hưởng ứng sớm nhất là chị em phụ nữ ở Hội An (Quảng Nam) đã nhanh chóng thành lập Hội vào cuối năm 1926. Còn khi đến Gò Công – quê hương của bà Từ Dụ – thì bà đã bàn bạc với Nữ lưu thư quán phối hợp xuất bản sách tiến bộ dành cho phụ nữ. Sư bà Diệu Không đã có làm bài thơ tặng cho Hội:

Nữ công sáng lập tại Thừa Thiên,
Kinh tế nâng cao bước nữ quyền.
Gánh vác giang san thân gái Việt,
Duy trì nòi giống bước Rồng Tiên.
Công dung tinh tấn không lười biếng,
Ngôn hạnh đoan trang ấy chính chuyên.
Tất cả chị em nên gắng bước,
Noi gương Trưng, Triệu mãi lưu truyền.

Tình hình chính trị trong cả nước đang có những chuyển biến tích cực. Sau các buổi lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh, hầu hết học sinh đều tham gia bãi khóa phản đối lối giáo dục ngu dân của nhà cầm quyền thực dân. Chúng đã đối phó lại bằng những biện pháp cứng rắn như đuổi học; hoặc bắt bớ những ai tham gia vào phong trào này. Tất nhiên, hoạt động của Nữ công học hội với những hoạt động cấp tiến cũng bị chúng theo dõi. Cùng lúc, Đảng Tân Việt đã bị chúng phá vỡ, một số cán bộ cốt cán lập tức bị khủng bố. “Tân Việt chỉ là một nhóm chính trị tự do cấp tiến. Họ nhận rằng chủ nghĩa cộng sản thì quá cao và chủ nghĩa “tam dân” của quốc dân đảng thì quá thấp. Họ muốn đấu tranh giải phóng Việt Nam, theo chủ nghĩa gì thì sau hãy hay. Nhóm này gồm những phần tử trí thức, họ rất hăng hái, nhưng thiếu kinh nghiệm hoạt động chính trị”. Trong số những người bị bắt có bà Trần Thị Như Mân. Trước lúc vào tù, bà đã giao lại tấm sec trị giá 1.000 đồng của Nữ công học hội – do ông Trần Bá Vinh tặng – cho bà Đạm Phương. Đây là cái cớ mà thực dân Pháp ra lệnh bắt bà, vì có quan hệ với đảng Tân Việt. Giam suốt hai tháng, nhưng không tìm ra chứng cớ, chúng buộc phải trả tự do cho bà.

Thời gian này, những người con của bà cũng đã dấn thân vào các hoạt động cách mạng: Nguyễn Khoa Văn bị đuổi học vì cầm đầu cuộc bãi khóa ở trường Quốc học, vì vậy Nguyễn Khoa Tú cũng bị buộc thôi dạy, trục xuất khỏi Trung Kỳ. Ra khỏi tù, năm 1929, bà Đạm Phương vẫn bị bọn mật thám theo dõi và tiếp tục gây khó khăn. Trong tình thế này, để cho Nữ công học hội tiếp tục hoạt động, bà từ chức hội trưởng – giao nhiệm vụ lại cho bà Trần Quang Khải. Dù vậy, bà vẫn lui tới hội quán góp ý xây dựng hội. Trong thời gian này, bà như già hẵn đi. Sóng gió thời cuộc bắt đầu đổ ập xuống gia đình bà. Đầu năm 1931 con trai trưởng của bà là Nguyễn Khoa Tú bị thực dân tra trấn đến thổ huyết, mất tại Sài Gòn. Cũng năm này Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều) bị bắt giam ở Catinat (Sài Gòn) mãi đến tháng 7/1932 mới được thả tự do. Lúc này ông Nguyễn Khoa Tùng – chồng bà – đang ốm nặng. Cuối năm 1933 ông qua đời, bà đã an táng ông tại ấp Tân Tây phía nam núi Ngự Bình trong sự thương xót không nguôi. Có thể đây là nguyên nhân mà bà Đạm Phương tìm đến đạo Phật. Ngoài việc đọc kinh, ăn chay, viếng cảnh chùa bà vẫn tiếp tục viết báo và viết sách khảo cứu. Đáng chú ý nhất là tác phẩm Giáo dục nhi đồng viết xong vào năm 1942. Đây là tác phẩm có giá trị mà trước khi viết bà đã tham khảo nhiều tài liệu từ sách tiếng Pháp, tiếng Hán. Ở những dòng cuối cùng, bà đã viết những dòng tâm huyết: ”Hỡi các bà mẹ Việt Nam! Các chị em đã cầm tất cả vận mệnh con cái trong tay. Cái đời vật chất, cũng như cái đời tinh thần của chúng nó đều do sự đào tạo dìu dắt của chị em. Chị em hãy nên lưu ý đến cái phận sự cao quý và trọng đại của mình. Vẫn biết rằng cái địa vị của người cha trong gia đình không phải là nhỏ, và cái trách nhiệm không phải là thường. Tuy vậy, người cha chỉ giữ gìn cái giềng mối đại cương trong gia đình mà thôi. Chớ trẻ con từ lọt lòng ra đến sáu, bảy tuổi, từ việc chăm nuôi đến sự dạy dỗ phần lớn là của chị em cả. Tránh cái phận sự ấy là một tội ác không thể tưởng tượng được.

Lỡ lầm cái phận sự ấy là một di hận rất đau đớn về sau.

Tạo hóa đã cho chị em cái đặc quyền sinh đẻ con, thì tạo hóa cũng phú cho chị em cái đức độ để nuôi dạy con.

Tục ngữ ta có câu: “Con nhờ đức mẹ”. Chị em hãy ghi nhớ câu quý hóa ấy vào lòng”.

Những dòng chữ này nghe da diết biết chừng nào. Trong tập sách này, bà đánh giá rất cao vai trò của người mẹ đối với sự hình thành và phát triển của đứa trẻ. Có thể xem đây là một cống hiến quan trọng của bà Đạm Phương đối với sự nghiệp giáo dục nhi đồng Việt Nam ở những năm 40 của thế kỷ XX. Điều còn khiến ta khâm phục ở người phụ nữ này là bà còn có một tâm hồn của thi nhân. Hầu hết những bài thơ của bà đều thanh thoát, nhẹ nhàng và nặng một tấm lòng đối với hương sắc quê nhà. Trong bài thơ Tiễn bạn, thiên nhiên hiện lên đằm thắm lạ lùng:

Lối cũ đi về mấy dặm tây,
Ngàn tre xanh ngắt một màn xây.
Mây in núi bạc trăng lòn nước,
Lá thả dòng xanh bóng bổ cây.
Nước chảy khéo xuôi sầu giục giã,
Đêm khuya thêm chạnh chén vơi đầy.
Về Nam chiếc nhạn còn đâu đó,
Lẻ kẻ kêu sương tiếng lạc bầy.

Nếu trước đây Bà Huyện Thanh Quan đã viết về đèo Ngang thì trong thơ của bà Đạm Phương cũng trở lại đề tài này, nhưng phương tiện vận chuyển của thời đại đã khác trước:

Ô tô nhẹ tếch thẳng đường mai

Câu thơ thong dong và tự tin biết chừng nào. Ngoài ra, bà còn viết khá nhiều thơ vịnh sử, ca ngợi những bậc anh hùng có công chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm tháng trôi qua. Cách mạng tháng Tám thành công, rồi kháng chiến toàn quốc. Bà Đạm Phương như trẻ lại trong niềm vui chung của cuộc tái sinh kỳ diệu toàn dân tộc. Thật lạ, bà Đạm Phương Nữ Sử từ thuở thanh xuân đã phấn đấu hết sức mình cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, đã từng nhập thế với thái độ của Nguyễn Công Trứ: “Người ta không phải như cây cỏ, nỡ nào để mục nát như cỏ cây”. Nhưng lúc về già, bà lại không màng gì đến hai chữ lợi và danh, chỉ mơ ước như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Dạo núi mỏi chân ngồi niệm Phật”. Đó là vẻ đẹp của con người đã hòa nhập vào triết lý của phương Đông trầm mặc. Trong những ngày cuối cùng của bà, nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa Diệu Biên và Nguyễn Cửu Thọ có cho biết: “Bà lấy làm hài lòng về các con của bà, gái cũng như trai, đều đi theo kháng chiến. Bà cảm thấy sức lực đang kiệt dần và biết mình sắp sửa phải đi xa. Hai ngày trước khi mất, bà bảo Diệu Phùng đi tìmsư cô về đọc kinh Tiếp Dẫn cho bà nghe.

Cuối đời

Ngay sáng hôm sau, trên đường về Sim để báo tin cho chú Hải Triều, Diệu Phùng nghe có tiếng chuông, tiếng mõ trong làng, liền vào tìm thì nhận ra ngay ngôi chùa Bảo Quang ni tự. Xin gặp sư bà Đàm Ninh, Diệu Phùng trình bày ý nguyện của bà Đạm Phương. Sư bà hết sức xúc động, sẵn sàng nhận lời ngay. Ngày hôm sau, bà cho Diệu Phùng đi đón sư bà về, còn bà Tuyến thì lo tắm rửa sạch sẽ cho bà. Bà mặc áo tràng, đội mũ Quan Âm chờ sẵn, sư bà và sư cô đến, thực hiện xong các nghi lễ cần thiết rồi bắt đầu đọc kinh. Bà ngồi tựa lưng thoai thoải trên giường, sắc mặt hiền từ phúc hậu như không còn bận tâm gì đến việc đời nữa, hai mắt nhắm nghiền, hơi thở nhẹ, toàn bộ sinh lực còn lại tập trung vào việc nghe kinh. Đến giữa đoạn kinh Tiếp Dẫn, bà như lịm đi, có dấu hiệu không còn thở nữa. Đợi hết bài kinh, ông Hải Triều đến thăm mạch bà: tim đã ngưng đập. Ôi trái tim chan chứa tình yêu và nghị lực đã thôi hoạt động. Thế là bà đã ra đi nhẹ nhàng. Hôm đó là ngày 10/12/1947.

Nhìn lại cuộc đời hoạt động của bà Đạm Phương, ta thấy, sau khi bà thành lập Nữ công học hội theo gợi ý của cụ Phan Bội Châu thì bốn năm sau Đảng Cộng sản Việt Nam mới ra đời. Trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng cũng đã nêu lên nguyên tắc “nam nữ bình quyền” và sáng suốt nhận ra phụ nữ là một lực lượng quan trọng của cách mạng, nếu quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh thì cách mạng không thắng lợi được. Do đó, ngày 20.10.1930, Hội Phụ nữ được thành lập – nay là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – đi tiên phong trong công cuộc giải phóng phụ nữ và đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ. Rõ ràng, bằng sự mẫn cảm của một người phụ nữ, bà Đạm Phương cùng các cộng sự của mình đã thành lập một tổ chức dành cho phụ nữ – mà tổ chức đó cùng quan điểm với Hội Phụ nữ theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ riêng điều này, bà Đạm Phương cũng xứng đáng được hậu thế ca ngợi là một trong những người đã tích cực gióng tiếng chuông đầu tiên cho nữ quyền.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Đạm Phương

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)