Trần Thị Trâm (1860 – 1930)

Trần Thị Trâm (1860 – 1930)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Trời ngả bóng về chiều. Nắng dịu. Ngồi trước sân nhà vừa xem hoa, vừa phóng bút viết những câu thơ, danh sĩ Phạm Đình Toái thoáng giật mình. Cụ ngước mắt lên nhìn cội đào, nghe những tiếng chim reo lảnh lót như vãi ngọc biếc xuống thềm. Chiều đẹp như thế này mà cắm cúi xuống trang giấy thì đâu phải phong thái của kẻ phong lưu – vốn xem lợi danh thoảng nhẹ như gió thổi mây bay. Nghĩ thế, cụ đứng dậy thong thả chống gậy trúc thong thả đi dạo trong làng. Dưới bóng đa thâm nghiêm, nam thanh nữ tú đang ngồi đố sách – những điển xưa tích cũ được đem ra đố rồi giảng giải cho nhau nghe.

Khi thấy cụ tới, tất cả đứng dậy lễ phép chào cụ. Đang vui, cụ mới hỏi đám hậu sinh nghĩ gì khi đọc quyển Đại Nam quốc sử diễn ca. Đây là sử nước nhà viết theo thể lục bát mà cụ đã khảo đính, nhuận sắc từ quyển của sử gia Lê Ngô Cát. Lúc đám học trò phát biểu cảm tưởng, cụ chăm chú lắng nghe. Sau, có cô gái nhỏ nhắn, mắt sáng đã mạnh dạn thưa:

– Đúng như các bạn đã nói, cuốn này hay lắm nhưng có một chỗ cháu chưa chịu!

Cụ thoáng nhíu mắt:

– Chỗ nào?

Cô gái bỗng rụt rè:

– Cháu không dám thưa, sợ cụ không vui lòng.

Cụ Phạm Đình Toái cười:

– Sao lại nghĩ thế? Cháu cứ nói.

Được lời như cởi tấm lòng. Cô gái thưa:

– Cháu nghĩ cụ đánh giá về Hai Bà Trưng là chưa đúng. Bà Hồ Xuân Hương khi qua đền Sầm Nghi Đống đã phóng bút:

Ví đây đổi phận làm trai được,
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu.

thì lẽ nào khi Hai Bà đánh quân Mã Viện, dù thất bại, thì cũng không thể hạ bút viết: “Nữ nhi chống với anh hùng được nao?”.

Cụ Phạm Đình Toái phải chịu là đúng.

Người phát biểu xác đáng ấy là cô Trần Thị Trâm sinh năm 1860, quê làng Đằng Cao (nay thuộc xã Quỳnh Giang, huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An), con gái của cụ Trần Hữu Dực.

Vì đồng ý với nhận xét này, cụ Phạm Đình Toái đã mai mối cô Trâm cho cháu gọi ruột bằng cậu là Hồ Bá Trị. Cụ nói:

– Cô gái tính tình cứng cỏi ấy về làm dâu họ Hồ được đấy!

Cậu ấm bảy, con trai của cụ Hồ Trọng Toàn còn chần chừ thì cụ nói tiếp:

– Hôn nhân là chuyện hệ trọng một đời. Ta đã lo liệu cho cháu thì ta phải cân nhắc, suy tính. Cháu đừng ngại.

Cuộc đời

Bên cạnh đó, cụ còn nói với chị ruột của mình là Phạm Thị Kháng nên chọn cô Trâm cho cháu trai mình. Nhờ mai mối của cụ nên mọi chuyện diễn ra khá suông sẻ. Về làm dâu họ Hồ, bà Trâm đã gánh vác giang san nhà chồng, ai cũng khen. Nhưng tiếc thay, Hồ Bá Trị lại mất sớm. Năm 1885, trong làng hai bên “Lương – Giáo” – bên theo đạo thờ ông bà, bên theo đạo Thiên chúa – lục đục đánh nhau mãi, ông Trị hăng hái chống cự thì bị thương nặng rồi mất. Về vấn đề đau lòng này, nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã giải thích giúp ta hiểu rõ hơn về thái độ của sĩ phu yêu nước trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy: “Ngày mới nhóm lên, phong trào đã được nhân dân địa phương nhiệt liệt hưởng ứng. Nhưng chẳng bao lâu cuộc phấn nghĩa đã chệch hướng theo tinh thần cuồng tín của các nhà nho bất đắc chí. Họ đã quy lỗi do giáo dân là “làm nội ứng” cho giặc. Trước nguy cơ đất nước bị xâm chiếm, và thánh đạo nho tôn bị đe dọa, họ nêu nhật lệnh: “Bình Tây sát tả” – đánh dẹp giặc Tây và giết tả đạo! Nhưng Tây hồi này chưa vào Nghệ thế là họ đi giết giáo dân trong hạt, bất chấp lời khuyên của những phần tử ôn hòa, bất chấp dư luận của nhân dân. Ở một vài nơi, đã xẩy ra những cuộc tàn sát kinh khủng. Các cha cố đi cầu cứu quân Pháp, quân Pháp lại có cớ để làm áp lực với triều đình Huế. Triều đình Huế đàn áp bằng võ lực. Phong trào bị dập tắt trong một thời gian ngắn thôi. Nhưng dầu sao nó cũng đã gây lên một mối hằn thù sâu sắc giữa Lương và Giáo, và điều có thể xẩy tới cũng đã xẩy tới. Mấy chục năm sau, khi giặc Pháp lấy tỉnh Nghệ thì một số giáo dân chưa hề quên cuộc giết hại năm xưa lại sẽ xúc sử nhiều làng đạo và dựa vào lực lượng Pháp để báo thù, giết chóc, cướp phá các làng Lương trong hạt” (Hồi ký Đặng Thai Mai – NXB Tác phẩm mới – 1985, tr. 58).

Ông Hồ Bá Trị mất lúc vợ chồng son mới có hai con là Hồ Xuân Kiêm, 5 tuổi và Hồ Xuân Lan, 2 tuổi. Thương tiếc chồng không nguôi, bà Trâm làm bài thơ tự sự có những câu như:

Hai mươi lăm tuổi kể chi

Thương hai con dại mẹ đi không đành

Nhà nghiên cứu Hoàng Thanh Đạm và Phan Hữu Thịnh khi nghiên cứu về sự nghiệp của bà trong giai đoạn này, cho biết:

“Bà tìm thầy giỏi cho con học, kén bạn tốt cho con chơi. Bà thường nhắc và cố làm theo câu nói thâm thúy của cụ Phan Bội Châu: “Thầy dạy sách vở dễ kiếm, thầy dạy nhân cách khó tìm”. Trong việc nuôi dạy con cái, bà khéo kết hợp thái độ nghiêm nghị của người cha với thái độ dịu hiền của người mẹ. Một lần Xuân Kiêm mải mê đánh cờ tướng suốt cả ngày ở nhà ông tri phủ người làng đã về hưu. Bà tìm đến nghiêm nghị nói với ông phủ:

– Ông học đỗ đến phó bảng, làm quan đến tri phủ hẳn còn nhớ đến lời dạy của ông cha ta “Gia trung hữu kỳ, nam tử tắc suy” (trong nhà có bàn cờ, con trai tất hư). Vậy sao ông lưu giữ con tôi suốt cả ngày như thế này?

Rồi bà nghiêm khắc bảo con về”.

Chính nhờ sự dạy dỗ nghiêm khắc của bà, sau này các con đều là người hữu ích cho xã hội, chẳng hạn Hồ Xuân Lan (sau đổi tên Hồ Học Lãm) là nhân vật nổi tiếng trong Việt Nam Quang phục Hội của cụ Phan. Có thể nói, cho dù chồng mất sớm, nhưng bà Trâm đã không phụ lòng người nơi chín suối.

Từ năm 1906 hưởng ứng phong trào Đông du của chí sĩ Phan Bội Châu, Hồ Học Lãm được mẹ cho xuất dương sang Nhật học tập, sau bị trục xuất sang Trung Quốc, vào học trường quân sự Bảo Định gần Bắc Kinh. Sau đó, cụ Phan giao cho Hồ Học Lãm nhiệm vụ huấn luyện võ trang cho hội viên Việt Nam Quang phục Hội do cụ sáng lập đang thu hút được đông đảo thanh niên yêu nước ở hải ngoại. Và cụ Phan cũng là người đứng ra mai mối cho Hồ Học Lãm kết hôn với cô Ngô Duy Khôn. Hôm ấy, trong ngày vui, cụ Phan đã hát câu ví phường vải rất quen thuộc ở xứ Nghệ để tặng lứa đôi:

Tiết vừa cây cỏ thanh tân
Trai xuân hồ hỡi, gái xuân liễu đào

Mọi người cùng vỗ tay vui vẻ. Ngoài trời tuyết bay. Trong căn phòng ấm cúng. Cụ Phan lại hào hứng:

Bốn bề non nước xanh xanh
Trai thanh đàm luận, gái thanh chương đài

Còn chú rể, trong ngày vui đã hứa với cô dâu trước sự chứng kiến của các đồng chí đã hứa:

Non sông đã nặng lời thề
Cũng liều sống thác chớ nề hợp tan

Trong suốt năm tháng chung sống với nhau, vợ chồng Hồ Học Lãm có được hai cô con gái cưng là Hồ Diệc Lan và Hồ Mộ La. Từ đây, gia đình của họ là nơi lui tới của các chiến sĩ cách mạng, khách tha hồ nghiên cứu sách quân sự và các loại sách báo bằng tiếng Trung Quốc, Anh, Pháp, Nhật… Trong số này, ông bà rất có cảm tình với chàng trai đồng hương là Lê Văn Nghiệm, về sau, được ông bà đã gả cho con gái đầu Hồ Diệc Lan. Được biết, Nghiệm có bí danh là Lê Thiết Hùng, học trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – sau này là Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vợ chồng Hồ Học Lãm cùng đeo đuổi một lý tưởng nên họ rất tâm đầu hợp ý với nhau. Trong thời gian, công tác ở Cục tác chiến thuộc Bộ Tổng tham mưu của quân đội Trung Quốc, với vị trí này, Hồ Học Lãm đã cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà.

Có một chi tiết đáng suy nghĩ là khi Hồ Học Lãm xuất dương, chia tay ở biên giới đã được mẹ là bà Trâm xé nhỏ cái khăn mặt đưa cho và bùi ngùi dặn dò:

– Con sinh ra là để rửa nhục đất nước, cũng như cái khăn mặt này dệt ra là để lau sạch mặt người. Chuyến đi này chắc chắn con sẽ gặp nhiều khó khăn trắc trở, con phải cố gắng vượt qua, nhất thiết không được bỏ cuộc nửa chừng, không được phản bội Tổ quốc. Nếu con làm trái lời mẹ thì mẹ sẽ coi con không khác gì cái khăn bị xé bỏ này.

– Con sinh ra là để rửa nhục đất nước, cũng như cái khăn mặt này dệt ra là để lau sạch mặt người. Chuyến đi này chắc chắn con sẽ gặp nhiều khó khăn trắc trở, con phải cố gắng vượt qua, nhất thiết không được bỏ cuộc nửa chừng, không được phản bội Tổ quốc. Nếu con làm trái lời mẹ thì mẹ sẽ coi con không khác gì cái khăn bị xé bỏ này.

Bà Lụa là người Quỳnh Đôi
Lụa thời không mắc chỉ lôi ra là
Đi đến chợ Rạng, chợ Dà
Chợ Chùa, Lá Mạc, trở ra làng Kè…

Ban đầu, anh chồng chưa hiểu việc làm của bà đã nói thẳng:

– Thím làm gì thì làm, chứ đừng để tai tiếng không hay cho gia giáo nhà ta đấy!

Vì nhiệm vụ bí mật, bà không một lời thanh minh. Năm 1889, bà nhận tiền của cụ Phan Đình Phùng sang Xiêm mua vũ khí, do chưa có kinh nghiệm nên bị bọn lái buôn lừa lấy sạch tiền! Để tránh hiểu lầm, bà đã bán hết 20 mẫu ruộng để có tiền mà chu toàn việc lớn. Dần dần việc làm của bà được mọi người hiểu nên ai nấy càng khâm phục.

Suốt năm tháng hoạt động không mệt mỏi cho phong trào yêu nước, bà Trâm đã nhiều lần bị kẻ thù giam cầm, tra tấn nhưng bà vẫn giữ được khí tiết của một người cách mạng chân chính. Nhà nghiên cứu Hoàng Thanh Đạm và Phan Hữu Thịnh cho biết: “Trong cuộc đời hoạt động yêu nước, Trần Thị Trâm không giữ một chức vụ gì lớn, chỉ làm những công việc bình thường như giao thông liên lạc, mua sắm vũ khí, vận động dân chúng, quyên góp tiền của… Ấy vậy mà thực dân Pháp và lũ tay sai vẫn coi bà là một đối tượng rất nguy hiểm đối với chúng. Không thể kể xiết những lần chúng bắt bớ, giam cầm bà. Khi dụ dỗ mua chuộc, lúc đánh đập khảo tra, chúng không sao lay chuyển nổi lòng dạ kiên trung của bà. Đối với bọn quan lại Nam triều, bà tỏ thái độ hiên ngang coi thường. Một lần, bị tra tấn truy hỏi rất lâu, bà dùng lời thô lục chửi thẳng vào mặt chúng:

– Nam quốc nam nhân, ba quan lớn vấn cái máu gì mà “vấn” lắm thế.

Có lần bị án sát Cao Ngọc Lễ dùng lưỡi cày nướng đỏ dí vào bắp vế, bà cắn răng chịu đựng rồi luôn mồm la hét:

– Ông cha tôi mấy đời làm án sát có ác độc gì đâu mà con cháu phải chịu tội như thế này?

Câu nói đanh thép mà sâu sắc đó đã làm cho hắn phải xấu hổ mà thả bà ra. Sau này, cứ mỗi lần bị bắt, bà giấu một nắm thuốc lào, nếu bị tra tấn đau quá, bà nuốt thuốc lào cho mê ngất đi…

Điều đặc biệt là tuy bị bắt bớ nhiều, bị tra tấn lắm nhưng không lần nào bà để cho chúng có bằng chứng để khép án, cầm tù bà dài ngày. Bà thường nói với nhiều người rằng, sở dĩ bà chịu đựng được những nỗi khổ của đời, bước qua được mọi ham muốn vật chất, khướctừ được những danh vọng hão huyền… là do bà không chịu được nỗi đau mất nước, tuy biết rằng cho đến hết cuộc đời mình nỗi khổ ấy vẫn chưa thanh toán được”.

Qua đời

Suốt một đời hy sinh cho việc nước, bà Trần Thị Trâm mất ngày 6.5.1930 khi phong trào cộng sản vừa nhen những đóm lửa đầu tiên. Hình ảnh của bà tiêu biểu cho cả một thế hệ phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp từ phong trào Cần vương đến phong trào Đông du. Dù yểu điệu thục nữ, chân yếu tay mềm nhưng họ đủ bản lĩnh đương đầu với bạo lực để khẳng định quyền sống của con người. Khi thiên hạ mỉa mai “đàn bà đái không qua ngọn cỏ” thì bà Trâm đã chứng minh nữ giới đủ sức vượt thác băng ghềnh, hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn mà tổ chức cách mạng đã giao phó. Nếu cụ Phan Bội Châu đánh giá liệt nữ Lê Thị Đàn ở Huế là Ấu Triệu (Bà Triệu trẻ) thì cụ cũng gọi nữ kiệt Trần Thị Trâm là Tiểu Triệu (Bà Triệu nhỏ). Còn gì cao quý hơn lời khen tặng ấy?

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Trần Thị Trâm

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)